Skip to content

Về thăm lăng Gia Long

08/02/2012

Về thăm lăng Gia Long

Tạp chí Hồn Việt số 47/2011 – Hội Nhà Văn Việt Nam – 20-06-2011

MATHILDE TUYẾT TRẦN (Paris, Pháp)

Năm ngoái, dù rất muốn đi thăm lăng vua Gia Long nhưng tôi không đi được, vì trời mưa. Các ông tài taxi lắc đầu quầy quậy không muốn chở tôi đi. Họ bảo, “đường đất mùa mưa rất lầy lội, dễ lún, rồi cô lại phải đi qua đò, rồi đi bộ thêm một khúc xa nữa, khổ lắm”. Tôi đành phải ấm ức hẹn năm sau. Năm nay, chưa kịp nói gì, thì các bạn Huế đã tổ chức cho tôi đi thăm lăng Gia Long! Trời lại đẹp, trong xanh, nắng ấm như chiều lòng người khi chúng tôi khăn gói lên đường.

Đúng hẹn, xe đón chúng tôi lên đường vào sáng sớm, nắng Huế đã lên cao trên nền trời xanh, ít gió, chỉ vài cụm mây trắng lững lờ trôi chầm chậm. Ra khỏi khu vực trung tâm thành phố Huế, xe rẽ xuống một con đường đất nhỏ dọc bờ sông Hương. Quả thật, đường đất này mùa mưa, nước sông dâng cao thì vừa lụt vừa lầy lội, dễ trơn dễ lún. Con đường nhỏ hẹp, hai bên được ôm ấp bởi hai hàng cây xanh, nhiều nhất là những bụi tre, dòng nước sông Hương xanh lấp lánh khi ẩn khi hiện phía bên phải.

Màu xanh của cây lá, màu xanh của nước sông Hương làm dịu đi ánh nắng lồng lộng giữa buổi sáng. Trời không gió, cây lá đứng im. Tôi cảm thấy cái nóng đang lan tỏa. Xe đến gần bến đò Kim Ngọc. Anh tài thả chúng tôi xuống, đến đây thì phải qua đò thôi. Bạn Huế của tôi gọi đò. Tôi đang còn ngơ ngác vì không thấy đò nào ở đâu cả. Ông già trong quán đò nằm sát ven đường, lưng quán là sông Hương, quay mặt ra sông, miệng gọi “Đò ơi!”, tay ngoắc ngoắc. Một chiếc đò bất chợt hiện ra trên sông, từ bờ bên kia, từ từ hướng về phía chúng tôi. Cô lái đò còn rất trẻ, cập bến. Bạn tôi chạy xuống bến hỏi: – Em cho qua bên nớ hỉ, đi thăm lăng Gia Long! Đáng lẽ, đò chỉ đưa ngang qua sông Hương, từ bến bên ni qua bến bên nớ, nhưng cô lái đò dễ thương, nói để đưa chúng tôi ngược dòng sông thêm một đoạn để đến bến gần nhất, ngay đầu đường dẫn vào lăng, cho đỡ đi bộ.

Giữa dòng sông Hương, nước trôi êm ả, gió hiu hiu mát, sóng vỗ vào mạn đò nhè nhẹ, rất nên thơ, thú vị nên quên cả cái nắng trên đầu. Tôi tự nhủ, nếu Huế mưa, đội mưa mà đi thăm lăng Gia Long chắc cũng thú vị lắm. Con đò lướt nhẹ nhàng ngang qua vài cái miếu nhỏ bên bờ sông, vài cô gái giặt quần áo ven sông, vài chiếc thuyền đãi sỏi trên sông… Êm ả, thanh bình quá! Tạm biệt cô lái đò, hẹn lần trở về. Thời ni, cô lái đò có điện thoại di động, nên chốc nữa, bạn tôi sẽ gọi đò qua làn sóng điện! Trên bờ, đã có vài người lái xe ôm chờ chúng tôi để chở vào đến tận lăng, nhưng bạn tôi bảo để đi bộ ngắm cảnh.

Từ bãi cát ven sông, chúng tôi lên đường đất xuyên qua một xóm nhỏ. Tưởng ở đây hiu quạnh nhưng tiếng nhạc trẻ thời trang vang lừng thôn xóm, xóa cái tĩnh mịch. Con nít trong làng thấy người lạ, đạp xe đạp chạy theo chúng tôi một đoạn. Các vườn cây ăn trái, các mảnh ruộng lúa nho nhỏ đang lên xanh. Ra khỏi làng, bắt đầu thấy hai hàng cây thông hiện ra, báo hiệu cho khách đến thăm biết mình đã vào khu vực lăng. Từ bến đò vào lăng chỉ khoảng 1km đi bộ. Toàn thể khu lăng tẩm không có tường thành bao bọc, hòa lẫn với cây lá thiên nhiên trong một không gian toàn màu xanh, xa xa thấy có hai cây cột trụ nổi lên cao. Chúng tôi vào khu vực lăng, trước hết là vào Minh Thành Điện, nơi thờ vua Gia Long, thắp hương chiêm bái.

Kiến trúc Thiên Thọ Lăng được quy hoạch thành 3 cụm nằm theo hàng ngang, đều quay mặt về hướng nam, tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc phong thủy. Chính giữa là cụm mộ địa, sân tế, bái đình. Bên trái là nhà bia và bên phải là cụm tẩm điện dùng để thờ phụng. Điện Minh Thành nằm ở vị trí trung tâm, thờ vua Gia Long và Thuận Thiên Cao Hoàng hậu, xây dựng xong năm 1815. Bia đình và tấm bia Thánh đức thần công ghi lại tiểu sử và sự nghiệp của vua Gia Long do vua Minh Mạng viết được hoàn thành năm 1820.

Qua cổng sau của Minh Thành Điện thì thấy trước mặt là một hồ nước dài tựa như một nhánh sông nhỏ chảy vòng quanh bao bọc. Rẽ sang bên trái là vào đến sân chầu, bên ngoài sân chầu là một đàn trâu mẹ trâu con đang thản nhiên ăn cỏ, bên trong sân chầu mỗi bên là một hàng 5 tượng đá các quan, tượng voi, tượng ngựa đứng lẻ loi, buồn bã. Nhìn lên phía cửa lăng vua Gia Long, bao bọc bởi hai vòng thành thấp, mấy tầng bậc thang đi lên, không gian uy nghiêm vì cái rộng rãi, rất đơn giản, nằm giữa thiên nhiên với các cây cao.

Cửa lăng hẹp, có hai cánh cửa bằng đồng đã bị hư hại, vênh vênh, thủng nhiều lỗ đạn. Ngay sau hai cánh cửa ấy là một bức bình phong bằng đá, phủ đầy rêu đen, đạn bắn lỗ chỗ. Hai nấm mộ bất chợt hiện ra trước mắt. Hai cái nhà nho nhỏ xây bằng đá nằm song song bên nhau, không có chậu hoa, chỉ có ánh nắng mặt trời rọi chói chang trên lăng, giản dị làm sao, gần gũi làm sao mà uy nghiêm làm sao!


Hai nấm mộ giản dị mà uy nghiêm của vua Gia Long
và Thừa Thiên Cao Hoàng hậu.

Trong tất cả các vua nhà Nguyễn chỉ có vua Gia Long và bà Thừa Thiên Cao Hoàng hậu là song táng “càn khôn hiệp đức” tại Huế, vua Hàm Nghi được an táng trong ngôi mộ chung của toàn thể gia đình ở Thonac (Pháp), còn các vua nhà Nguyễn khác thì yên nghỉ nghìn thu một mình. Hai nấm mộ cũng như bốn vòng tường chung quanh còn nhiều vết đạn, chứng tích của chiến tranh đã tràn lan tận nơi đây – Thiên Thọ Lăng.

Từ lăng nhìn ra, dưới chân sân chầu là hồ dài, xa xa có 42 ngọn núi lớn nhỏ chầu vào trọng địa. Theo những người am hiểu địa lý thì khu vực lăng Thiên Thọ là một vị trí địa lý rất quý hiếm, sơn thủy hữu tình. Lăng nằm trên đỉnh một ngọn đồi nhỏ, bốn phía chung quanh đều có các dãy núi án ngữ, che chở, có sông Hương tạo thành hào nước tự nhiên vây bọc ngăn cản người lạ. Bên phải lăng vua Gia Long là nhà bia, đã được trùng tu lại, sơn son thếp vàng rất mới, hai cái xà cột cũ bằng gỗ chạm khắc công phu nằm trong một góc dưới đất, tấm bia cũng đã được vá víu lại, bề mặt có khắc chữ thì đã mờ nhạt nhiều.

Bên trái của lăng Thiên Thọ là điện Minh Thành, cửa đóng then gài, nhiều cây non đã mọc cao trên mái nhà, chân điện phủ đầy rêu đen, tường bên cạnh lủng một lỗ khá to, gạch tường cổ nằm chất đống trong sân. Trước khi đến lăng Gia Long thì đi ngang qua lăng Thiên Thọ Hữu, nơi chôn cất bà Thuận Thiên Cao Hoàng hậu, vợ thứ hai của vua Gia Long và là mẹ của vua Minh Mạng. Sau lăng Thiên Thọ Hữu là điện Gia Thành.

Ngày hôm nay mấy ai còn nhớ là cái tên nước “Việt Nam” quen thuộc thân thương là do vua Gia Long đặt cho. Theo các tác giả nghiên cứu khác thì tên gọi “Việt Nam” đã xuất hiện từ thế kỷ XIV. Qua thế kỷ XV, XVI hai chữ “Việt Nam” được tìm thấy trong các tác phẩm của Nguyễn Trãi (1380-1442) và của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585).

Tên nước Việt Nam được vua Gia Long Nguyễn Phúc Ánh ban hành là quốc hiệu chính thức. Nhà Thanh chính thức tuyên phong tên Việt Nam năm 1804. Năm 1806 (Bính Dần) thì vua Gia Long xưng đế, cho nên khi vua qua đời được phong tôn thụy là Cao Hoàng Đế. Khi lên nối ngôi cha, hoàng tử Đảm lấy niên hiệu là Minh Mạng và đổi tên nước thành Đại Nam, công bố quốc hiệu mới Đại Nam vào ngày 15/2/1839. Các vua nhà Nguyễn kế vị sau đó không ai đổi tên nước nữa, cho đến đời vua nhà Nguyễn cuối cùng, vua Bảo Đại, năm 1945.

Cũng trong năm 1945 quốc hiệu Việt Nam lần lượt được hai chính phủ, một của chính phủ Trần Trọng Kim (Đế quốc Việt Nam), một của chính phủ Hồ Chí Minh (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) long trọng tuyên bố, với hai lá quốc kỳ khác nhau.


Trong sân chầu của Lăng Gia Long.

Theo sử sách ghi lại thì Thiên Thọ Lăng được xây dựng từ năm 1814 đến 1820. Khu vực Thiên Thọ Lăng gồm có thêm các lăng tẩm của chúa và vua Nguyễn như lăng Quang Hưng của bà Thái Tông Hiếu Triết Hoàng hậu, vợ thứ hai của Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1620-1687); lăng Vĩnh Mậu của bà Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng hậu, vợ Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thái (1650-1691); lăng Trường Phong của Túc Tông Hiếu Ninh Hoàng đế Nguyễn Phúc Chu (1697-1738); lăng Thoại Thánh của bà Hưng Tổ Hiếu Khương Hoàng hậu (1738-1811), vợ thứ hai của chúa Nguyễn Phúc Côn và là thân mẫu của vua Gia Long; lăng Hoàng Cô của Thái Trưởng Công chúa Long Thành, chị ruột vua Gia Long.

Địa điểm và kiến trúc lăng Thiên Thọ khác hẳn lăng tầm của các vua nhà Nguyễn sau này. So sánh với 7 khu lăng tẩm của các vua nhà Nguyễn thì lăng Gia Long là tổ hợp kiến trúc và thiên nhiên hoành tráng, hùng vĩ nhất. Đứng giữa lăng nhìn ra chung quanh, ta thấy được núi đồi trùng điệp. Các nhà kiến trúc đầu thế kỷ 19 đã đưa vào thiên nhiên những công trình kiến trúc hài hòa, tuy khiêm tốn nhưng thích hợp.

Các lăng của vua Tự Đức, Khải Định, Minh Mạng được chăm sóc tu bổ, trở thành điểm tham quan quen thuộc của du khách xa gần. Lăng Tự Đức thơ mộng, lăng Khải Định phô trương Âu Á, lăng Minh Mạng hoành tráng cổ điển như Đại Nội. Các lăng Đồng Khánh, Thiệu Trị và nhất là khu vực An Lăng của ba vì vua Dục Đức, Thành Thái, Duy Tân thì ít được chăm sóc, điêu tàn, buồn thảm, rêu xanh, rêu đen phủ đầy. Quần thể lăng Thiên Thọ đời cuối cùng của các chúa Nguyễn và vua Gia Long tuy đơn giản, tĩnh mịch nhưng điểm nhấn chính là sự hùng vĩ và hài hòa với thiên nhiên, đất trời.

Chú thích:

  • Vợ thứ nhất của vua Gia Long là bà Tống thị Lan (húy là Liên) được phong là « Thừa Thiên Cao Hoàng hậu », bà được song táng cùng với vua Gia Long.
  • Vợ thứ hai của vua Gia Long là bà Trần thị Đang (húy là Kính) được phong là Thuận Thiên Cao Hoàng hậu », bà là mẹ của hoàng tử Đảm, sau này trở thành vua Minh Mạng, bà được an táng riêng ở lăng Thiên Thọ hữu.

Les commentaires sont fermés.