Skip to content

Chanson d‘automne de Verlaine et le jour le plus long – Bài hát tàn thu của Verlaine và Ngày dài nhất 06.06.1944

22/06/2012

Chanson d‘automne de Verlaine et le jour le plus long – Bài hát tàn thu của Verlaine và Ngày dài nhất 06.06.1944

 ©Mathilde Tuyet Tran, France 2007

Cuộc kháng chiến của Pháp chống lại thế lực khu Trục, cụ thể là Đức quốc xã, đã bắt đầu vào tháng sáu năm 1940 khi Đại tướng de Gaulle đọc lời kêu gọi kháng chiến ngày 18.06.1940 qua đài BBC phát thanh từ Londres và cũng kể từ ngày 25.06.1940 khi chính quyền của Tổng thống Albert Lebrun và thống tướng Pétain quyết định đầu hàng quân Đức vô điều kiện.

Khi ấy, ngày 16 tháng sáu 1940, de Gaulle đi Londres xin viện trợ thiết bị quân sự và phương tiện di chuyển để xây dựng lực lượng tại phía Bắc châu Phi, Thủ tướng Anh Churchill chấp nhận cấp viện trợ.  Nhưng khi de Gaulle vừa mới từ Londres trở về Bordeaux vào lúc 21 h 30 ngày 17.06, thì được tin chính phủ của Thủ tướng Reynaud đã từ chức.

Đúng nửa đêm ngày 17.06.1940 Pétain xin đầu hàng quân Đức.

De Gaulle bèn quay ngay trở lại Londres, rồi sau một cuộc tiếp xúc với Churchill, de Gaulle đọc Lời kêu gọi kháng chiến chống Đức vào lúc 20 giờ ngày 18 tháng 6 năm 1940 trên đài phát thanh BBC „… Bất kỳ tình huống nào có thể xẩy ra, ngọn lửa kháng chiến của nước Pháp không thể bị dập tắt và sẽ không bao giờ tắt. „.

Và cũng vì thất bại của Weygand mà de Gaulle đã viết trong Lời kêu gọi kháng chiến một câu nổi tiếng „ La France a perdu une bataille ! Mais la France n‘a pas perdu la guerre ! „ (Nước Pháp đã thất bại một trận đánh ! Nhưng nước Pháp chưa thất bại cuộc chiến !)

Chương trình phát thanh „Les Français parlent aux Français» (Người Pháp nói với người Pháp), mỗi tối trong vài phút đồng hồ, trên làn sóng của đài BBC, còn được mang tên „radio libre“ (đài phát thanh tự do), coi như ra đời khi Thủ tướng Anh Winston Churchill cho phép Đại tướng de Gaulle được lên tiếng trên làn sóng điện ngày 18.06.1940 để nói với dân Pháp. Nhanh chóng, một ê kíp với những nhà báo chuyên nghiệp phụ trách phát thanh được thành lập, và họ hoạt động cho đến năm 1944. Người ta còn nhắc đến tên của những người như Yves Morvan, Jean Oberlé, Pierre Maillaud, Pierre Lefèvre, Jacques Brunius, Jacques Duchesne, Franck Bauer, Pierre Dac, André Diamant-Berger, Maurice Schumann, Paul Bouchon, Geneviève Wisner, J.P. Granville. Công việc hàng ngày của họ là phản tuyên truyền, gây dựng niềm tin, tinh thần dân tộc quốc gia, khuyến khích cố gắng và phát thanh những mật hiệu liên lạc qua dưới hình thức nhắn gởi cá nhân (messages personelles) với lực lượng kháng chiến trên đất Pháp.

Thủ tướng Winston Churchill hoàn toàn tin tưởng rằng, phải đánh bại quân Đức trên đất Pháp, vì khi biến nước Anh thành một căn cứ địa cho Đồng Minh thì quân Đồng Minh sẽ phải phòng thủ nước Anh, thoát được sự chiếm đóng của quân Đức, qua đó đạo quân Anh, vốn yếu thế, sẽ được trang bị, huấn luyện và củng cố thêm, đồng thời tận dụng được thế mạnh kỹ nghệ và kinh tế của cường quốc Hiệp Chủng Quốc Hoa kỳ, cả ba điều này đều đem lại lợi ích cho nước Anh, vì từ năm 1939 các nước riêng rẽ không đủ lực lượng quân sự để đối phó lại sức tấn công của phe Trục.

Vào tháng 10 năm 1941 Winston Churchill ra lệnh sửa soạn những chiến dịch kết hợp của Đồng Minh để đổ bộ lên đất Pháp. Để mở một mặt trận mới về hướng Đông Âu châu, phe Đồng Minh lập ra một cơ quân quân sự do Frederick Morgan chỉ huy, có nhiệm vụ xác định chiến trường, thu thập tin tức tình báo và bảo đảm vấn đề vận chuyển. (1)

Nhưng trận đánh tấn công thành phố Dieppe ngày 19.08.1942 chỉ đem lại một hy sinh nhân mạng to lớn cho binh đoàn 2 của Canada và khoảng 400-500 quân Anh, nói lên cái thất bại của một sự kết hợp không có thực tế, hơn 1.500 lính đổ bộ từ tàu, lội nước vào bãi biển nhưng không được yểm trợ bởi pháo binh của thủy quân Anh như theo kế hoạch dự tính, lại không có cách nào rút lui, trở thành bia đỡ đạn cho Đức, bị bắn chết trên bãi biển hay bị bắt, mất tích.

Ngày hôm nay, những người đi dạo chơi bãi biển ở Dieppe, có ai còn nhìn lên những lô cốt Đức khoét trong những vách đá núi cao dựng đứng sát mặt biển, vẫn còn đó, và nghĩ đến chiến tranh ?

Tại hội nghị Téhéran ở Iran (28.11. – 01.12.1943) Roosevelt, Churchill và Staline đồng ý kết hợp đánh Đức và chọn căn cứ hậu cần tại Anh, nhưng đổ bộ ở đâu ? Có nguồn tin cho rằng trong hội nghị ngày 14.08.1943 tại Québec quân Đồng Minh đã ấn định chiến trường sẽ là vùng Normandie nước Pháp.

Đứng về mặt địa lý quân sự thì vùng đất Hòa lan thường hay chịu nhiều thiên tai ngập lụt, các luồng nước dọc bờ biển nước Bỉ thường rất mạnh và nguy hiểm, vùng Bretagne thì hơi xa cho các căn cứ quân sự trên đất Anh, nhưng quan trọng nhất là sự kiện quân Đức trấn đóng tại vùng Bắc Pháp (Pas-de-Calais) vì họ cho rằng đây là con đường giao thông ngắn nhất giữa Pháp và Anh. Các bãi biển vùng Normandie, thường là bãi cát, ít bãi đá, có địa hình tương tự như các bãi biển phía nam nước Anh, nơi được ấn định là căn cứ hậu cần, đem lại thuận lợi cho mọi công việc sửa soạn. Chiến dịch được đặt tên là Overlord, ngày tấn công được gọi là D-Day (tiếng Anh) hay Jour-J (tiếng Pháp). Quân Đồng Minh vận chuyển quân lính và vũ khí lên đất Anh, tập luyện, học phối hợp lực lượng và phân chia công việc. Nhiều trận thủy chiến với tầu ngầm của Đức đã xẩy ra, nhưng Đức mất dần sức tấn công. Kỹ nghệ chiến tranh của Mỹ hoạt động tối đa để sản xuất vũ khí và các nhu cầu quân sự cần thiết. Và cũng trong chiến dịch sửa soạn đổ bộ mà vùng bờ biển giữa La Pallice và Dunkerque bị bỏ bom nhiều lần kể từ tháng giêng năm 1944.

Một công việc sửa soạn quy mô như thế tất không qua khỏi con mắt tình báo của Đức. Nhưng quân Đồng Minh đánh lạc hướng Đức, (điểm này thiệt là vui ! bằng cách dàn dựng căn cứ quân sự giả với quân lính và xe tăng bằng cao su và súng ống bằng gỗ – Opértion Fortitude) làm cho quân Đức mắc mưu tin rằng, điểm tấn công sẽ là vùng Pas-de-Calais.

Bấy giờ, quân Đức một mặt lo phòng thủ phía Đông để chống Liên Xô, mặt khác cũng dự tính là sẽ bị tấn công về phía Tây để bị phân tán lực lượng và bớt sức ép cho Liên Xô về hướng Đông. Chiến lược này đưa đến việc xây dựng chiến tuyến biển Đại Tây Dương (le Mur de l’Atlantique – Attlantikwall) để phong tỏa các bờ biển bằng bãi mìn, giây kẽm gai, tuyến phòng thủ với súng liên thanh, súng đại bác và súng phun lửa, hào chống xe tăng lội nước…

Đại tướng Đức Rommel, người được tặng danh hiệu „con cáo của sa mạc“ vì những chiến thắng của ông ta ở Bắc Phi, lãnh trách nhiệm bảo vệ vùng biển và ông ta cho tăng thêm các biện pháp phòng thủ như làm ngập lụt các vùng đồng cỏ ven biển gây cản trở cho lính nhẩy dù và cắm thêm cọc trên các bãi mìn. Tuy thế, các mặt trận tại Liên xô và Ý làm cho quân Đức phải tốn nhiều lực lượng, cho nên quân Đức phải dùng mọi biện pháp vơ vét chiến cụ để xây dựng chiến tuyến vĩ đại Đại Tây Dương, mà họ rất hãnh diện.

Riêng tại vùng Normandie, từ Barfleur cho đến cảng Le Havre, có ít nhất sáu cứ điểm pháo binh với tầm bắn xa đến 30 cây số được xây dựng tại các làng Merville, Longues-sur-Mer, Pointe du Hoc, Maisy, Azeville, Crisbecq. Chưa hết, các căn cứ và hệ thống ra đa với nhiều kỹ thuật thâu nhận tin tức khác nhau, ba binh đoàn thiết giáp, một binh đoàn nhẩy dù, nhiều binh đoàn bộ binh yểm trợ chiến tuyến phòng thủ Đại Tây Dương.

Quân Đồng Minh và Kháng chiến Pháp ráo riết tiếp tục sửa soạn chiến dịch Overlord, vì dù sao đi nữa thì quân Đồng Minh cũng phải cần đến sự hỗ trợ của lực lượng kháng chiến Pháp trong nội địa, vì dự tính chuyên chở và đổ bộ hơn hai trăm ngàn quân lính trong năm ngàn tàu chiến, cả triệu tấn quân dụng, hàng trăm xe tăng lội nước… không phải là một cuộc đi dạo trên mặt biển.

Lực lượng kháng chiến góp phần tích cực nhất trong các kế hoạch tình báo, tung tin tức thất thiệt cho quân Đức và chận đường rút lui của quân Đức bằng mọi cách. Nhiều người tôi quen hiện nay còn kể cho tôi nghe những công việc „nho nhỏ“ mà họ đã làm trong thời gian kháng chiến, như giấu diếm phi công Mỹ bị bắn rơi và đưa họ trở về an toàn, giấu luôn cả quân Đức đào ngũ, phá đường, phá cầu, thay đổi tất cả các bảng chỉ đường, thậm chí con nít cũng phải học cách chỉ đường bậy bạ khi có người lạ hỏi thăm đường xá. Họ vẫn còn thói quen dùng những con đường ngóc ngách ngoằn nghèo, vẫn nhớ rằng con đường thẳng là con đường nguy hiểm.

Vấn đề thời tiết trên biển là cả một yếu tố nan giải và bất ngờ trong cuộc sửa soạn này. Người ta chờ đợi một hoàn cảnh thuận lợi tối đa: trăng phải lên trễ để có thể lợi dụng bóng đêm đen để gây bất ngờ cho quân Đức, nước thủy triều phải rút xa để lộ những bãi mìn, cọc nhọn, giây kẽm gai (làm cho tôi phải nhớ đến trận Bạch Đằng của Trần Hưng Đạo), biển phải êm để cho tàu chiến không bị sóng đưa đẩy đụng vào nhau, không có sương mù để cho lính đổ bộ nhìn rõ mục tiêu chiến đấu, gió phải thổi nhẹ ở độ thấp để xua tan khói súng đạn bắn ra. Toàn thể cần có ba ngày thời tiết thuận lợi để động binh, theo chiến lược tiến nhanh đánh mạnh. Tháng sáu năm ấy có sáu ngày thủy triều xuống, trong đó có ba ngày không trăng, tính ra chỉ có một ngày thuận tiện, và một ngày kém thuận tiện hơn. Nếu lỡ cơ hội tấn công vào tháng sáu thì càng sợ kế hoạch sẽ bị lộ.

Theo nguồn tài liệu của Pháp thì quân Đức tin rằng một cuộc đổ bộ có thể xẩy ra ở vùng Pas-de-Calais, thời tiết tháng sáu lại xấu, quân Đồng Minh không thể động binh được, và ngày 04.06.1944 thì tướng Rommel về Đức để ăn mừng sinh nhật của vợ ông ta. Điều tình cờ hay có xếp đặt ? Ngày 05.06.1944 thì nhiều tướng lãnh Đức về Rennes để tập trận trên lý thuyết (Kriegsspiel). Cùng lúc, quân Đức quyết định dời những đạo không quân cuối cùng ra khỏi nước Pháp.

Đại tướng Dwight D. Eisenhower, tổng chỉ huy quân đội Đồng Minh, nhắm ngày 05. 06. Hay trễ nhất là ngày 06. 06. để tấn công.

Chanson d’automne, Verlaine –  Bài hát tàn thu, traduction de MTT – Illustration: Tran Minh Khoi – Berlin

Mật hiệu phát động chiến dịch Overlord gởi cho cho quân Kháng chiến Pháp là câu thơ đầu tiên của bài thơ chanson d‘automne của Verlaine:

« Les sanglots longs – Des Violons – De l’automne… »

được phát thanh trên làn sóng BBC, chính phía Đức xác nhận vào trưa ngày 01.05.1944. Theo thông tin về phía Đức, thì cơ quan phản gián tình báo của OKW Amt Ausland/Abwehr đã báo động về bài thơ này (Herbstlied) từ ngày 24.10.1943 ! Tướng Đức von Rundstedt báo động ngay hai quân đoàn số 7 và số 13. Nhưng sau đó phía Đức cho rằng đây chỉ là một hành động quấy rối gây hoang mang, thuộc chiến dịch „Fortitude“ để đánh lừa quân Đức, vì quân Đồng Minh hẳn biết rằng lực lượng kháng chiến Pháp bị „khống chế“ bởi tình báo Đức, cho nên quân Đồng Minh không thể để cho quân kháng chiến Pháp biết ngày giờ và địa điểm chính xác của cuộc đổ bộ.

Phía Pháp thì nói rằng, câu thơ đầu tiên được phát thanh trong đêm 01.06 để báo hiệu cho quân kháng chiến biết rằng cuộc tấn công sẽ xẩy ra trong tuần lễ đó.

Câu thơ thứ hai : « Blessent mon coeur – D’une langueur – Monotone… » là mật hiệu tấn công trong vòng 48 tiếng đồng hồ, được phía Đức công nhận là đã bắt được trên làn sóng phát thanh BBC vào lúc 21.45 giờ ngày 05.06.1944.

Câu thơ này được lập lại hai lần kế tiếp. Ngay trong đêm đó lực lượng kháng chiến Pháp đã thực hiện hơn một ngàn công tác phá hoại đường xe lửa, đường giây điện thoại, bồn nước… và đặt mìn chống chiến xa trên nhiều đường rút lui, theo các mật hiệu được phát thanh như: « Il fait chaud à Suez » (trời nóng ở Suez), « Les dés sont sur le tapis » (cái mũ ngón tay nằm trên thảm), « Le chapeau de Napoléon est dans l’arène » (cái nón của Napoléon nằm trong chiến trường) , « John aime Marie » (John yêu Marie) , « La Guerre de Troie n’aura pas lieu » ou  » ( Trận đánh thành Troie sẽ không xẩy ra), La Flèche ne passera pas » (Mũi tên sẽ không xuyên qua)…

D-Day – The longest Day – Le jour le plus long – Ngày dài nhất: 6 juin 1944

Tại sao lại có tên như thế ? Vì tháng sáu nơi đây ngày dài đêm ngắn. Dân Pháp có thông lệ hàng năm tổ chức đêm đốt lửa Saint Jean vào ngày 24.06

Chiến dịch « Overlord » bắt đầu. Đêm 05.06, vào lúc 22.00 giờ, 6.939 chiến thuyền đem 135.000 quân đổ bộ tiến vào bờ biển theo công thức: một tấn công, hai yểm trợ. Các bãi biển trên đất Pháp được đặt tên riêng cho chiến dịch: Utah Beach, Omaha Beach, Gold Beach, Juno Beach, Sword Beach, và được phân công như sau, U và O cho quân Mỹ, G, J và S cho quân Anh và quân Canada.

Lúc 0.05 giờ quân Mỹ thả bom dọc bờ biển từ cảng le Havre đến Cherbourg với một lực lượng là 15.500 không quân, 1.682 máy bay và 512 máy bay không động cơ của không đoàn 82 và 101 Mỹ.

Sau hai ngày chờ đợi đầy căng thẳng và ứ đọng trong các chiến thuyền, các đoàn quân đổ bộ theo lịch trình như sau: 6.30 giờ quân Mỹ đổ bộ vào bãi Utah và Omaha, 7.10 giờ quân Mỹ tấn công vào cứ điểm  Pointe du Hoc, 7.30 giờ quân Anh đổ bộ lên bãi Gold và Sword, 8.00 giờ quân Canada đổ bộ lên bãi Juno.

Đại tướng de Gaulle, được sĩ quan của Đại tướng Montgomery hộ tống trở về trên một chiến hạm Pháp và được đón tiếp nồng hậu tại Bayeux.

Kết quả của chiến dịch đổ bộ Normandie ra sao thì không biết cơ man nào là sách vở, phim ảnh, tài liệu, báo chí, âm nhạc đã đề cập đến. Tôi đã đi thăm khắp vùng biển đổ bộ này, các bảng chỉ đường còn mang tên của chiến dịch, và vài nghĩa trang mênh mông thập giá trắng của các quân đội Mỹ, Anh, Canada, (2) nhìn sóng biển xanh xám vỗ tấp nhe nhẹ vào bờ mà không thể hình dung ra được khung cảnh của ngày 06.06.1944: ngoài sức tưởng tượng ! MTT.

Ghi chú:

(1) COSSAC (Chief of Staff to the Supreme Allied Commander)

(2) Các nghĩa trang quân đội trong vùng Normandie:

Quân Đức: La Cambe 21.160 mộ, Huisnes-sur-Mer 11.956 mộ, Marigny 11.169 mộ, Orglandes 10.152 mộ, St-Désir-de-Lisieux 3.735 mộ

Quân Mỹ: Colleville-sur-Mer 9.386 mộ và 1.557 tên mất tích, St-James 4.410 mộ

Quân Anh: Banneville-Sannerville 2.175 mộ, Bayeux 4.868 mộ và 1.807 tên mất tích, Brouay 377 mộ, Cambes-em-Plaine 224 mộ, Chouain 40 mộ, Douvres-la-Délivrande 927 mộ, Fontenay-le-Pesnel 965 mộ, Hermanville-sur-Mer 986 mộ, Hottot-les-Bagues 965 mộ, Ranville 2.151 mộ, Ryes-Bazenville 987 mộ, St-Charles-de-Percy 792 mộ, St-Désir-de-Lisieux 469 mộ, St-Manvieu 2.186 mộ, Secqueville-en-Bessin 117 mộ, Tilly-sur-Seulles 1.224 mộ

Quân Canada: Bény-sur-Mer-Reviers 2.048 mộ, Cintheaux 2.959 mộ

Quân Ba Lan: Urville-Langannerie 650 mộ

Nghĩa trang quân Pháp ở Les Gateys

Tài liệu tham khảo:

Die Invasion – Frankreich 1944, Janusz Piekalkiewicz, Verlag Bechtermünz 1998

La seconde guerre mondiale, Larousse 1990

La seconde guerre 1939-1945, Ronald Heifermann, Octopus Books Limited, 1973

Các trang trên mạng: www.dday-overlord.com, www. cheminsdememoire.gouv.fr, archives.radio-canada …

Les commentaires sont fermés.