Skip to content

Giấy – An toàn và cần thiết

07/07/2012

Giấy – An toàn và cần thiết

© Mathilde Tuyết Trần, France 2012

 Nhân đọc bài viết trên báo Tuổi Trẻ « Sống nơi ô nhiễm bậc nhất Việt Nam » hôm nay (24.06.2012), thông tin về làng giấy Phong Khê thuộc thành phố Bắc Ninh, tôi ngưng chủ đề khác để viết bài này về giấy.

 Nguyên liệu và công dụng

Giấy là một vật dụng không thể thiếu trong đời sống, rất nhiều sản phẩm thực dụng được ra đời bằng giấy: sách vở, báo chí, thư từ, bưu thiếp, hình ảnh, phong bì, bản đồ, giấy bao, giấy gói, thùng giấy, khăn tay, khăn bàn, khăn ăn, khăn bếp, quần áo y khoa, giấy thí nghiệm, bao tay, giấy lót vải, bích chương quảng cáo, nền tranh vẽ, nền khung ảnh, giấy than, giấy thuốc lá, giấy dán tường, giấy lọc dầu, túi lọc bụi, túi lọc cà phê, lọc trà, giấy tẩm nước hoa, tấm lót giường, tã trẻ con, quần lót người già, …cho đến giấy đi cầu, không kể đến…vàng mã để đốt cho người chết.

Tiếng Pháp « papier« , Đức « Papier« , Anh « paper« , tiếng Hy Lạp « pápyro »s có nguồn gốc từ tên cây « papyrus » (tiếng Việt: cây cói giấy), là vật liệu thiên nhiên đầu tiên dùng để làm giấy từ thời xa xưa. Dù các nước Ai Cập, Hy Lạp, La Mã trong nhiều thời đại trước Thiên Chúa đã có nhiều sáng kiến dùng kim loại, đá, đất sét, gỗ, tre, da thú, lụa …để khắc ghi lưu truyền chữ viết, hình ảnh cho văn hóa, kiến thức và tư duy của họ, nhưng những chất liệu này nặng nề, cồng kềnh, khó vận chuyển, cho đến khi có « giấy » được sáng chế ra từ Trung Hoa từ vải vụn, vải cũ, lưới đánh cá cũ, vỏ cây… vào thế kỷ thứ năm thời nhà Hậu Hán. Vì thế, giấy là một vật thực dụng đã có một lịch sử rất lâu dài, qua nhiều thời kỳ, giai đoạn phát triển kỹ thuật khác nhau. Ngay trong thời đại Internet, thời đại của màn hình, ảo ảnh…giấy cũng không chết, sách vở cũng không chết. Người ta vẫn thích cầm một cuốn sách trên tay, viết một lá thư tình, và còn cần đến nhiều thứ làm bằng giấy, một cánh diều bay bổng, một cái lồng đèn Trung Thu chẳng hạn.

Các nguyên liệu có chứa chất cellulose như gỗ, rơm rạ, cây gai, cây đay, cây sậy, cây tre, rong biển, vải vụn vải cũ của quần áo cũ cắt thành mảnh vụn, bông vải…đều dùng được để làm ra giấy. Vào thế kỷ thứ 19, ngành đóng tầu thủy, tầu chiến rất phát triển, khi chế tạo những cánh buồm vải và dây thừng dùng cho ngành đóng tàu chủ yếu bằng cây đay, thì người ta cũng dùng luôn cây đay và các phế thải của ngành đóng tàu cho việc sản xuất giấy. Đặc biệt là cây đay, tiếng Pháp là chanvre, là một cây công nghiệp có rất nhiều công dụng, hoa nho nhỏ mầu tím rất đẹp, được sử dụng để làm giấy, giây thừng, vải bố, dầu, nệm giường, vật liệu xây dựng, thuốc chữa bệnh, thức ăn cho người, cho súc vật, xăng dầu thực vật…và luôn cả cần sa (cannabis), cho nên có người còn gọi nó là cây cần sa, hay cây gai dầu. Nhưng nên phân biệt rằng cây gai (lin) khác cây đay (chanvre).

Tại châu Âu hiện nay giấy được chế tạo bằng các loại gỗ, thông dụng nhất là gỗ các loại thông (cho sợi dài) rồi đến các loại gỗ sồi, gỗ khuynh diệp, gỗ bouleau (cho sợi ngắn), và người ta thường dùng ưu tiên các cây bị đốn vì bệnh, yếu ớt, ngã đổ vì bão…khi săn sóc rừng.

Một phân nửa tổng số số lượng sản phẩm giấy được chế tạo bằng phế liệu (FCR, fibre cellulosiques de récupération).

Chế tạo giấy

Các phương pháp chế tạo giấy sử dụng rất nhiều nước và nhiệt điện, cộng thêm một số lượng lớn chất hóa học để từ gỗ hay phế liệu cán nghiền nát thành bột giấy, rồi từ bột giấy cán thành sản phẩm giấy.

Để chế tạo được 1 tấn giấy, tùy theo phương pháp mà cần phải có từ 1,5 tấn đến 3 tấn gỗ. Trong khi đó, 1 tấn phế liệu FCR có thể tái tạo lại đến 900 kí lô thành phẩm mới, đồng thời, quá trình sản xuất này tiêu thụ ít nước và nhiệt điện hơn là chế tạo từ gỗ.

80% phế liệu đến từ các thùng giấy cũ, cồng kềnh, người dân ít có chỗ chứa trong nhà nên họ vất các loại thùng giấy rất nhanh, sau đó là các loại báo, tạp chí cũ (sách, thư từ…được giữ lâu hơn). Còn trong các văn phòng, người ta thường sử dụng máy cắt giấy để « thủ tiêu » các hồ sơ cũ, giấy tờ cũ…nên một số lượng lớn rác văn phòng đã được cắt nhỏ sẵn, tiện cho công đoạn đầu tiên tái tạo thành bột giấy.

Phương pháp chế tạo giấy tùy thuộc vào hai tiền đề: muốn tạo ra sản phẩm nào ? và, sử dụng nguyên liệu nào ? Sự sản xuất giấy có thể làm theo lối thủ công, nhỏ hay theo quy mô kỹ nghệ lớn.

Một thí dụ giấy thủ công đặc sắc của Việt Nam là giấy dùng để làm tranh Đông Hồ, hay tranh Hàng Trống. Giấy in tranh Đông Hồ làm bằng bột vỏ con sò điệp trộn với bột gạo tẻ, gạo nếp hay bột sắn là chất keo dính tự nhiên, hỗn hợp này được pha loãng quét lên mặt giấy dó bằng chổi lá thông, tấm giấy khi đã khô có đường chổi quét tự nhiên và ánh sáng óng lấp lánh của bột vỏ sò điệp, nên được gọi là giấy điệp. Màu giấy thường không trắng tinh như các loại giấy kỹ nghệ, mà có mầu vàng hơi ngả nâu. Hiện nay, người làm tranh lại pha thêm mầu trắng vào nên giấy điệp ngày nay trắng hơn giấy điệp cổ. Giấy dó cũng là loại giấy thủ công, làm bằng sợi cây dó (gió) trộn với bột cây mò làm chất kết dính, rồi qua các công đoạn pha loãng, tráng, phơi, ép, xấy, nén, cán phẳng…để tạo thành tờ giấy.

Người Âu châu rất yêu thích các loại giấy thủ công làm theo phương pháp vật liệu cổ truyền, dù giá rất cao, nhưng họ vẫn mua, dùng để viết thư tình hay thư chúc tụng.

Để chế tạo giấy từ gỗ, công đoạn làm gỗ thành bột giấy được thực hiện bằng phương pháp cơ học (cắt, cán, nghiền, xay, đập, giã…), hóa học (ngâm, tách, rửa, tẩy, khử mực, dùng chất kiềm, chất lưu huỳnh sulfit, sulfat, chất chlore, chất methanol…), hay kết hợp cả hai phương pháp trên. Sau đó, bột gỗ được lọc cho sạch, làm trắng. Bột gỗ sạch được phun, trải một lớp mỏng lên một tấm màng thưa, đồng thời được pha lẫn với các chất gọi là chất độn như kaolin, phấn bột (talc), tinh bột, chất hóa học, mầu sắc…để chế tạo tấm giấy mềm mại và có bề mặt theo ý định sản xuất. Lớp này được cán cho các hợp chất dính lại với nhau, và cũng để ép cho thoát nước. Sau đó, sản phẩm sẽ qua công đoạn hong nóng cho khô. Các cuộn giấy cuốn tròn thường có bề ngang từ 1 mét đến 10 mét, một cuộn giấy có thể nặng đến 30 tấn.

Khi dùng phế liệu (FCR) để tái tạo giấy thì có những loại giấy tái tạo được, những loại giấy khó tái tạo như giấy fax, giấy dán dính, giấy có nhiều chất độn… và có những phế liệu giấy không thể dùng được như các loại giấy dùng trong lãnh vực vệ sinh, y tế, thực phẩm.

Công đoạn đầu tiên là loại bỏ những chất liệu lẫn lộn trong phế liệu như chất nhựa, chất sắt…(kim, kẹp bấm…), chất mực, chất keo…để lọc lại bột giấy. Sau đó bột giấy này thường có mầu nâu đậm nhạt khác nhau cần phải được làm trắng. Hiện nay ở châu Âu chất làm trắng thường được sử dụng là peroxyde d’hydrogène (eau oxygénée), gọi là quy trình sản xuất không có chất chlore.

Khối lượng nước rất lớn của các công đoạn tẩy rửa, làm trắng được dùng đi dùng lại 6 lần trước khi qua khâu lọc để thải ra ngoài. Thành phần « rác hữu cơ » còn lại trong quá trình sản xuất giấy được tận dụng để sản xuất phân bón.  Bột giấy tái tạo đã làm trắng thì được đưa vào các khâu sản xuất giấy. Tuy nhiên người ta cũng sản xuất loại giấy tái tạo từ phế liệu nhưng không được tẩy mực, giấy không có mầu trắng, và còn lấm tấm các mầu mực, gọi là sản phẩm bảo vệ môi trường (papier écologique).

Việc sản xuất giấy tạo ra hai dạng ô nhiễm môi trường, ô nhiễm do khí thải và ô nhiễm do nước thải, trong đó có cả chất độc dioxin, cho nên người sản xuất giấy có trách nhiệm bảo vệ môi trường qua các công đoạn lọc khí thải và lọc nước thải trong quy trình sản xuất.

Các hình ảnh của làng giấy Phong Khê cho người đọc có cảm giác ở nơi đó môi trường bị nhiễm độc nặng, từ không khí để thở cho đến nước dùng. Người dân sinh sống và lao động trên những đống rác khổng lồ, bốc khí, rất độc hại cho sức khỏe. Và nếu quy trình sản xuất, đúng ra là để bảo vệ môi trường, không được kiểm nghiệm, thì các chất hóa học sử dụng trong sản xuất và thải ra theo nước lại gây ô nhiễm nặng đến môi trường sinh sống lâu dài. Người tiêu dùng cũng có thể bị nhiễm độc gây dị ứng da, bệnh đường tiêu hóa…khi vô tình dùng những sản phẩm giấy không an toàn, không sạch, có chứa nhiều vi khuẩn và nấm mốc.

Thăm nhà máy giấy Mỹ Xuân I và II của công ty SaigonPaper

Đối với tôi, đó thực là một hân hạnh khi được ông Cao Tiến Vị, chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần giấy Sài Gòn (SaigonPaper) đích thân đưa đi thăm nhà máy giấy Mỹ Xuân tại Bà Rịa, Vũng Tàu vào một ngày xuân tháng ba năm 2012.

Ông Vị, còn khá trẻ, nhưng đã có phong thái khẳng định của một người sản xuất dám làm, dám có trách nhiệm và nhiều kinh nghiệm của ngành nghề. Nhà máy giấy của ông tính đến 2012 nay đã tròn 15 tuổi, trong đó có thời gian dài 5 năm để hình thành dự án Mỹ Xuân II, trong mục tiêu đến 2015 sẽ chiếm 50% trị trường trong nước. Cơ sở sản xuất đầu tiên được thành lập vào tháng 12/1998 với vỏn vẹn 10 nhân công.

Tại Mỹ Xuân giấy được sản xuất bằng phế liệu (recycling), một công nghệ bảo vệ môi trường. Để thu giấy, công ty đã ký với 20 phường trong thành phố để duy trì hoạt động điểm thu giấy phế liệu, ngoài ra còn tài trợ cho 100 thùng đựng rác giấy tại các địa điểm gom giấy. Trên toàn quốc thì công ty có hơn 300 trạm thu mua từ Quảng Bình trải đến Cà Mau. Khó khăn chính của khâu thu mua là sự phân loại các loại giấy hỗn tạp, để loại bỏ thành phần không thể xử dụng được.

Lúc chúng tôi lên đường vào 6.30 sáng thì đoạn đường quốc lộ số 51 từ Sài Gòn ra Bà Rịa còn mát mẻ, thông xe. Ra đến bùng binh Hàng Xanh, ông Vị cho biết hàng ngày có xe bus lớn của công ty đón nhân công từ nhiều vùng phụ cận tập họp tại địa điểm hẹn Hàng Xanh để chở họ từ đây đến cơ sở sản xuất Mỹ Xuân ở Bà Rịa, và chở về thành phố. Ngoài ra còn có ký túc xá nhân công cho 300 người ở do công ty xây dựng và quản lý, nhân công được ở miễn phí, chỉ trả tiền điện nước dùng cho tiêu thụ cá nhân.

Trời hôm nay trong xanh, vài cụm mây bông gòn bay cô đơn, lững lờ. Vị trí của cơ sở Mỹ Xuân rất tiện lợi, nằm ngay trên đường Sài Gòn-Vũng Tàu hiện nay đã được mở rộng và lại đẹp nữa. Khi xe chúng tôi đến, trước cửa nhà máy đã có một đám người tụ tập, cầm đơn xin việc đứng chờ ngoài cổng. Trong sân đậu xe rất rộng, năm sáu xe tải dài đang chất những cuộn giấy khổng lồ để chuyên chở. Nhà để xe hai bánh có mái che chật ních xe của nhân viên đến hãng làm việc. Phòng tiếp tân chưng bày các dãy dài bằng khen, huân chương và hình ảnh, cũng như các sản phẩm của nhà máy:  đủ loại thành phẩm khăn ăn, khăn tay và giấy vệ sinh.

Mỹ Xuân là một cơ sở sản xuất rộng lớn trên 16 hecta đất (16.000m²), có 4 phân xưởng, với 1.600 nhân viên và nhân công làm việc theo ca để bảo đảm chu trình 24/24 tiếng.

Nhìn ông Vị và quy mô to lớn của hai nhà máy giấy tôi không khỏi thán phục tài sức của ông.

Hai khu sản xuất Mỹ Xuân I và Mỹ Xuân II nằm kế cận song song với nhau. Ở giữa hai phân xưởng sản xuất là bãi chứa vật liệu, nền đúc bê tông, những bành giấy phế thải nằm phơi dưới ánh nắng, mùa mưa thì che bạt. Ở nhiều góc khác cũng chất chứa những bành giấy phế liệu.

Mỹ Xuân I đang hoạt động. Ngang qua khâu sản xuất cuối cùng, các nữ nhân viên mặc đồng phục xanh, đeo khẩu trang, cột tóc, đội cát két đang đóng gói thành phẩm giấy tissue trắng tinh dùng làm khăn ăn, hay giấy đi cầu, chúng tôi sang khu vực giấy đã được chế tạo thành cuộn.

Những cuộn giấy thật to, mầu nâu nhạt thật rộng, bề ngang hơn 4 mét, đã được cán và xấy khô đang được cuộn cho phẳng. Nhân viên sử dụng những cần trục để tháo, ráp và di chuyển những cuộn giấy nặng hàng tấn. Ở hai đầu khu vực, những cuộn giấy đã được cắt, nằm chồng chất lên nhau chờ di chuyển. Tôi thấy có nhiều bảng cấm lửa, quả thật, giấy và lửa rất là « nồng nàn » với nhau. Các máy móc trong khu vực này đều là những giàn máy khổng lồ, có giàn được khép kín, có giàn thì lộ ra những bánh quay, những cuộn ép, những ống cuốn rất to lớn đang « phun » ra những « tờ » giấy trắng tinh bề ngang khoảng 3 mét đang được cuộn tròn.

Bụi, giấy vụn, giấy nát…nằm thành ụ trước, ụ sau, ụ bên cạnh các giàn máy, nên công việc vệ sinh quét dọn là cần thiết, nhưng khi bước vào, chúng tôi thấy ba nữ nhân công vệ sinh đang ngồi ngủ sau những cuộn máy to, không biết có phải là giờ nghỉ của họ không.

Chúng tôi bước sang khâu cán nghiền vật liệu. Nhà máy rất thoáng, nóc cao, rộng rãi, gió thổi lộng qua…nhưng khí và bụi từ phế liệu bốc ra cũng có mùi xông lên mũi, nhất là vào buổi trưa khi nắng và nhiệt độ bên ngoài đều lên cao điểm. Một nhân viên đang dùng vòi nước quét chung quanh khu vực dàn máy cho sạch, đồng thời làm mát không khí.

Nhân công lái xe vận chuyển những bành vật liệu đã được ép chặt, tháo bung ra, để chuyển vào máy nghiền qua một cái ống rất to. Nhìn cái máy từ dưới lên cao, rồi từ trên cao nhìn xuống, tôi sợ. Hai cái ống sắt vĩ đại, đường kính rất to, được đặt nằm ngang, xoay ngược chiều với nhau để cán nát, nghiền nát phế liệu. Nếu lỡ có ai rớt vào đấy ! Bắt đầu từ công đoạn này, nước đã được sử dụng nhiều, sàn nhà máy luôn được rửa bằng những tia nước từ vòi. Phế liệu cán nát được dẫn vào những ống to để sang những công đoạn hóa chất tạo thành bột giấy.

Ông Vị cho biết nhà máy phải mua thêm bột giấy vì thu mua không đủ, hiện nay phải nhập 5% vật liệu. Nguyên một nhà kho rộng chứa toàn sản phẩm bột giấy đã làm sẵn.

Từ bộ phận sửa máy móc của cơ xưởng Mỹ Xuân I, nơi những người thợ cơ khí áo xanh đang sửa chữa, lắp ráp những ống kim loại cuộn giấy, tay chân đầy dầu mỡ đen thui, chúng tôi qua khu vực Mỹ Xuân II. Nhưng ông Vị đưa chúng tôi lên xem công đoạn lọc nước thải trước.

Đồng hồ mới chỉ có mười giờ sáng mà mặt trời đã lên cao, nóng rịn mồ hôi. Chúng tôi theo chân ông Vị thoăn thoắt đi trước, leo lên một cái cầu thang sắt để lên bể nước thải. Khu vực bể nước thải có nhiều ngăn, nước trong bể chảy mạnh, sủi những đám bọt trắng, trong nước nổi rất nhiều cục đen tròn chứa vi khuẩn. Bên Pháp, hệ thống xử lý nước thải từ nhà của chúng tôi cũng là phương pháp dùng vi khuẩn để làm sạch nước, cứ mỗi sáu tháng là đổ vào đó một hộp vi khuẩn đặc biệt. Ông Vị phóng tầm nhìn trên bể nước thải theo phương pháp vi sinh học, tuy biết rằng, cái toàn hảo thật toàn hảo là chưa có, hay chưa đạt đến, nhưng ông có vẻ hài lòng với kết quả đang xảy ra trước mắt. Nước thải từ nhà máy sẽ được thải ra sông Thị Vải, công suất xử lý nước thải là 17.000 m3/ngày-đêm.

Con sông Thị Vải dài khoảng 76 cây số, bắt nguồn từ huyện Long Thành và đổ ra biển tại vịnh Gành Rái, gần Bãi trước Vũng Tàu. Trong hai năm liên tiếp 2007/2008 báo Tuổi Trẻ có một loạt bài về sự ô nhiễm nặng của sông Thị Vải gây ra bởi công ty chế tạo bột ngọt Vedan đã thải nước có chứa các chất độc không qua xử lý. Kể từ năm 2009 dòng sông Thị Vải bắt đầu hồi sinh, nhờ đợt lũ năm 2008 đẩy dòng nước ô nhiễm nhanh chóng thoát ra biển.

Bước vào khu vực Mỹ Xuân II, tôi còn bị ấn tượng hơn vì ở đây cái gì cũng mới. Lúc chúng tôi đến thăm, các nhân viên kỹ thuật đang khẩn trương lắp dàn máy sản xuất mới, vật liệu còn nằm ngổn ngang trên các lối đi. Nhìn giàn máy khổng lồ, ông Vị cho biết đã đưa nhân viên đi học vận hành máy để làm việc chung với một bộ phận chuyên gia nước ngoài, và ông vừa vui vừa hãnh diện cho biết nhân viên quản lý chủ dự án Mỹ Xuân II là một phụ nữ, bà Đặng thị Kiều Nguyệt.

Ông Vị cho biết, vốn đầu tư của Nhật (công ty giấy Daio Paper Corporation và Quỹ Đầu tư BridgeHead thuộc Ngân hàng phát triển Nhật Bản) chiếm 49% tổng số vốn. Nhà máy Mỹ Xuân II đạt mức đầu tư lên đến 100 triệu đô la Mỹ, và dự tính sẽ đi vào sản xuất vào tháng 6 năm 2012, còn dự tính thương mại là sẽ xuất khẩu 30% tổng số thành phẩm (giấy carton, giấy tissue). Thị trường xuất khẩu cũng là nước Nhật. Gọi là giấy tissue là các loại giấy mềm, trắng để chế tạo khăn ăn, khăn tay, giấy vệ sinh.

Khí hậu và thời tiết miền Nam cho nhiều thuận lợi. Ánh sáng trắng lóa ban ngày rọi qua những tấm tôn trong suốt của nóc cho nguồn sáng tự nhiên trong nhà máy, ít cần dùng đèn điện. Trời nóng, gió thoáng, khô ráo, ít gây ẩm mốc tai hại. Sàn nhà máy bằng bê tông tráng rất phẳng, đi không sợ vấp té. Nhiều dàn máy khổng lồ đã được lắp ráp, đang nằm im. Trong một khu rất rộng, nhân viên kỹ thuật đang lắp ráp một giàn máy Andritz (PM6) cuộn giấy khổng lồ.

Dàn máy của Mỹ Xuân II thực hiện 5 công đoạn để chuẩn bị bột giấy: đánh tơi bột ở nồng độ cao, khử mực và các chất độn, cô đặc và rửa bột, sàng bột. Nước công nghệ được lọc để tái sử dụng trong quá trình sản xuất. Các máy xeo giấy công nghiệp, xeo giấy tráng phấn, xeo giấy tissue với nhiều khổ giấy và đường kính cuộn khác nhau, từ 4,150 mét cho đến khổ hẹp hơn 2,660 mét. Đường kính cuộn giấy có 2, 4 hay 2,5 mét. Công suất thay đổi từ 90 tấn cho đến 400 tấn trong một ngày sản xuất.

Doanh số thu từ giấy tissue lên đến 50 tỉ/đồng/tháng vào cuối năm 2011 với sức sản xuất của nhà máy Mỹ Xuân I đã đẩy « tham vọng » lên mục tiêu 920 tỉ doanh thu cho loại giấy tissue và 932 tỷ cho loại giấy IP tức là lên mức doanh thâu 2.000 tỷ đồng, tương đương với tỷ giá 100 triệu đô la Mỹ, cho năm nay, 2012.

Rời khỏi Mỹ Xuân, cũng còn sớm, ông Vị đưa chúng tôi đến thăm cơ sở giáo dục Trung tâm dạy nghề Phước Lộc thuộc xã Phước Hòa, huyện Tân Thành. Cha Nguyễn Văn Quang,    giám đốc cơ sở niềm nở tiếp đón chúng tôi và cho biết hiện nay có 600 em học sinh đang được giáo dục nghề nghiệp tại đây. Sau khi học hết lớp 12 các em sẽ học thêm 2 năm, 3 năm tại đây, học các ngành nghề như cơ khí, kỹ nghệ sắt, gò hàn, điện, ô tô, vi tính, quản gia, may công nghiệp, thêu tay rồi sẽ tốt nghiệp với mảnh bằng Trung cấp nghề, sau đó có thể học tiếp lên cao đẳng hay đại học. Có 40 giáo sư chuyên môn, và các cha, các bà sơ, phụ trách giáo dục cho các em. Lương giờ giáo sư rất thấp, cơ sở chỉ có thể trả 40.000 đến 50.000 đồng một giờ dạy 45 phút, vì trường mang nhiều tính chất tương thân tương trợ, không thuộc hàng trường tư nhân kiếm nhiều lợi nhuận. Ngược lại, nhiều gia đình được miễn 2/3 học phí, chỉ phải đóng 1/3 học phí. Hiện tại cha Quang đang tìm nguồn trợ cấp chi phí ăn uống cho các em học sinh nghèo, mà gia đình không có tiền đóng học phí cũng như tiền ăn uống. Trường Phước Lộc có nội trú cho 130 em trai, 50 em nữ, nhưng yêu cầu chỗ nội trú đang tăng. Cơ sở khá khang trang, sạch sẽ, nhiều hàng cây cho bóng mát, có một sân rộng, để đá banh, chơi thể thao. Các em học sinh đang dùng bữa trưa, mỗi bàn năm sáu em, xem rất có quy củ, trật tự. Ông Vị cho biết rằng thường tuyển nhân viên từ cơ sở giáo dục Phước Lộc.

Ấn tượng về nhà máy giấy Mỹ Xuân của công ty giấy SaigonPaper như lớn thêm lên, khi tôi có dịp theo chân một người bán hàng của công ty ở Hà Tiên đi quan sát thị trường, thăm hỏi khách hàng, anh rất gắn bó với sản phẩm mà anh đang chào mời, bán. Thêm vào đó, khi lang thang trên các thành phố, tôi bỗng chú ý hơn đến những người lượm rác giấy ở ngoài đường, đa số là phụ nữ. Nhiều người vất rác một cách vô tư, không hề có một ý nghĩ bảo vệ môi trường, nhưng có những người đi nhặt từng mảnh giấy vụn, từng mẩu cạc tông, phân loại, xếp loại, chuyên chở đến những địa điểm gom giấy, thu mua giấy. Giá giấy phế liệu trên thị trường thay đổi từ 260 đến hơn 400 đô la Mỹ cho 100 tấn, nhưng bao nhiêu là công sức, thời gian và mồ hôi của người nhặt giấy đã đổ trong đó ?

Gần đây đọc tin trên mạng công ty CP Giấy Sài Gòn đã khởi động một máy xeo Andritz PM6 tissue mới ở nhà máy mới, Mỹ Xuân II, có công suất trong khoảng 25.000 tấn/năm tới 28.000 tấn/năm, có thể chạy ở tốc độ 1.650 m/min và có chiều rộng 2,85 m, tôi rất vui và mừng cho ông Cao Tiến Vị cùng toàn thể nhà máy. MTT

Chú thích:

Trước đây chừng hai mươi năm tại châu Âu, mỗi gia đình mỗi nhà hay mỗi chung cư đều vất tất cả các loại rác chung vào một thùng. Việc hốt rác và giải quyết rác rưởi là công việc của chính quyền, có nghĩa là thuộc phạm vi công cộng. Khi bước sang giai đoạn toàn cầu hóa, nhiều trách nhiệm thuộc phạm vi nhà nước, công cộng bị tư hữu hóa, trong đó có việc hốt rác và giải quyết rác. Để góp sức tich cực cho các thế lực kỹ nghệ và tài chánh tư nhân, các chính phủ châu Âu ra một số luật lệ mạng danh « bảo vệ môi trường » để bắt dân chúng « phân rác » không công, rồi phải đem « rác » đến một nơi gom rác nhất định. Người dân vừa bị tốn công, vừa bị tốn của để hoàn thành khâu đầu tiên của quy trình giải quyết rác: mỗi nhà phải phân rác riêng rẽ theo các loại rác giấy, rác nhựa, rác thủy tinh, rác thực phẩm và các loại rác khác như bàn ghế vứt đi, máy móc, pin…, gần đây lại còn bị cấm đốt rác « xanh » (lá cây, cành cây, cỏ…) và phải mang « nộp » rác xanh tại nơi chứa rác nhất định (déchetterie), thậm chí có nơi còn bắt phân theo mầu sắc chai lọ, mầu nâu, mầu trắng, mầu xanh ve, không được vứt lẫn lộn ! Các trung tâm chứa rác (tư !) đang yêu sách thêm nữa, bằng cách phát thẻ nhận diện người đem rác đến nộp, thường nộp loại rác nào, số lượng bao nhiêu, trong mục đích sẽ bắt trả thêm tiền nộp rác. Thật là chuyện ngược đời vừa bất công vừa vô lý, vì họ đem phế liệu do dân chúng đến nộp, từng xe tải nào là giấy, sắt thép, rác xanh, gỗ….đã được dân chúng phân loại sẵn, đi bán mà không tốn công tốn của, lại còn tham thêm, đó là do các lobby tư nhân đã điều khiển chính phủ.

Les commentaires sont fermés.