Skip to content

Nền Đệ Ngũ Cộng Hòa Pháp – La cinquième République

07/07/2012

Nền Đệ Ngũ Cộng Hòa Pháp – La cinquième République

©Mathilde Tuyet Tran, France 2012

Nền Đệ Ngũ Cộng Hòa Pháp, tính theo các thể chế Cộng Hòa nối tiếp nhau từ sau cuộc Cách mạng 1789, kế tiếp nền Đệ tứ Cộng hòa, được xem như bắt đầu vào ngày 05.10.1958 bởi Hiến pháp 1958, kéo dài đến nay đã được 54 năm.

Các tổng thống của nền Đệ ngũ Cộng hòa Pháp là:

  • Charles de Gaulle (08.01.1959 – 28.04.1969)
  • Georges Pompidou (15.06.1969 – 02.04.1974)
  • Valéry Giscard d’Estaing (24.05.1974 – 21.05.1981)
  • François Mitterrand (21.05.1981 – 17.05.1995)
  • Jacques Chirac (17.05.1995 – 16.05.2007)
  • Nicolas Sarkozy (16.05.2007 – 15.05.2012)
  • François Hollande ( 15.05.2012 – 2017)

Ông François Hollande và bà Valérie Trierweiler

Trước đó, nền Đệ tứ Cộng Hòa Pháp chỉ tồn tại có 12 năm và chỉ gồm có hai vị tổng thống. Tổng thống thứ nhất thuộc giai đoạn Đệ tứ Cộng Hòa là Vincent Auriol thuộc đảng cánh tả SFIO (Section française de l’Internationale ouvrière, Phân bộ Pháp của Lao động Quốc tế), trị vì từ 16.01.1947 cho đến 16.01.1954, nhiệm kỳ tổng thống khi ấy dài 7 năm (septennat). Tổng thống thứ hai là René Coty, trị vì từ 23.12.1953 cho đến 08.01.1959.

Điểm khác biệt nổi bật giữa hai chính thể Cộng Hòa mà dân chúng ai cũng thấy rõ đó là nguyên tắc bầu cử Tổng thống và vấn đề mở rộng dân chủ cho người dân bình thường của nước Pháp. Do đó muốn hiểu Hiến pháp của nền Đệ ngũ Cộng hòa thì phải hiểu tiền thân của nó, nền Đệ tứ Cộng hòa Pháp.

Trên bình diện thể chế, trong Đệ tứ Cộng hòa, chiếu theo Hiến pháp thì người dân bầu Quốc hội (Assemblée Nationale, gồm có 618 ghế dân biểu, nhiệm kỳ 5 năm) và Hội đồng quốc gia (Conseil de la République, nhiệm kỳ 6 năm, gồm có 315 đại diện do dân bầu lên ở cấp làng, xã, vùng hành chánh).

Hai cơ quan này, Quốc hội và Hội đồng quốc gia, với tổng số là 933 phiếu, có nhiệm vụ bầu tổng thống với một nhiệm kỳ là 7 năm. Sau đó tổng thống sẽ lựa chọn các bộ trưởng, thư ký quốc gia, ấn định người lãnh đạo chính phủ, mà trong thời Đệ tứ Cộng hòa được gọi là « Président du conseil », có thể dịch ra tiếng Việt là « Chủ tịch hội đồng chính phủ », tương đương với danh vị « thủ tướng » (premier ministre, được thiết lập trong thời Đệ ngũ Cộng hòa, kể từ năm 1959).

Tổng thống và nội các chính phủ chỉ có quyền hành pháp. Quyền lập pháp nằm trong tay Quốc hội và Hội đồng quốc gia, nhưng Hội đồng quốc gia yếu thế hơn, chỉ có quyền cố vấn cho Quốc hội.

Vì nguyên tắc trên mà ứng cử viên tổng thống cần phải đạt ưu thế tuyệt đối, được nhiều dân biểu của nhiều đảng phái bầu lên. Ứng cử viên Vincent Auriol của đảng cánh tả SFIO thắng cử với 452 phiếu thuận, trong khi các ứng cử viên khác, Champetier de Ribes (MRP, Mouvement Républicain Populair, cánh hữu), Jules Gasser (Radical, cực tả), Michel Clemenceau (PRL, Parti Républicain de la Liberté, cánh hữu) chỉ đạt tổng cộng có 424 phiếu.

Thời kỳ trị vì 7 năm của Vincent Auriol có nhiều biến cố rất quan trọng. Trên thực tế, nhân vật cánh tả Vincent Auriol đã « chứng kiến » suốt 7 năm trường một biến cố quan trọng cho cả hai dân tộc Pháp-Việt, đó là cuộc chiến tranh Đông Dương (đã bắt đầu từ năm 1945) từ 1947 đến 1954. Tuy ông đã có suy nghĩ về vấn đề tăng cương vị và quyền lực của tổng thống đối với quyền lực của Quốc hội và Hội đồng quốc gia, nhưng thời và thế không cho phép ông thay đổi được chính trường. Trong vòng 7 năm đó, tổng thống Vincent Auriol phải thay đổi chính phủ 14 lần với các nhân vật chính trị thuộc các đảng phái khác nhau từ tả sang hữu : Paul Ramadier, Robert Schuman, André Marie, Henri Queille, Georges Bidault, René Pleven, Edgar Faure, Antoine Pinay và René Mayer.

Cuối nhiệm kỳ của Vincent Auriol, người không muốn tái ứng cử thêm một nhiệm kỳ nữa, cuộc bầu cử tổng thống kế tiếp được bắt đầu từ ngày 17.12.1953 tại Versailles nhưng các đảng phái ủng hộ phân tán, xé lẻ nhiều ứng cử viên của nhiều khuynh hướng chính trị được đưa ra, mà không ứng cử viên nào đoạt được số phiếu tối đa. Mãi bảy ngày sau, đến ngày 23.12.1953 trong vòng bỏ phiếu thứ 13, René Coty thuộc cánh dân biểu Cộng hòa độc lập, đoạt 477 phiếu thuận, thắng ứng cử viên Marcel Naegelen của đảng Xã Hội chỉ được 329 phiếu thuận, trở thành tổng thống thứ 17 của Cộng hòa Pháp và cũng là tổng thống chấm dứt nền Đệ tứ Cộng hòa.

René Coty là một trong những người vạch ra yếu điểm của Đệ tứ Cộng hòa, cương vị và quyền lực của tổng thống bị tùy thuộc rất nhiều vào sức ép của nhiều đảng phái, to, nhỏ, mạnh, yếu, qua tổng số và thành phần dân biểu của mỗi đảng phái trong Quốc hội.

Nhà báo André Passeron, bình luận trên tờ Le Monde vào ngày 8-9.01.1984 như sau :

« Giai đoạn 1954-1958 thực sự là giai đoạn quyền lực của Chủ tịch hội đồng chính phủ (président du conseil) trên cả quyền lực của nguyên thủ quốc gia (tổng thống được xem là nguyên thủ quốc gia, chef de l’Etat ), uy quyền chính trị nằm trong tay của l’hôtel Matignon và Quốc hội, không phải ở điện Elysée. Đó là mục đích nguyên tắc của Hiến pháp 1946. Trong thời Coty, tám Chủ tịch hội đồng chính phủ kế tiếp nhau nhận lãnh trách nhiệm: Joseph Laniel, Pierre Mendès France, Edgar Faure, Guy Mollet, Maurice Bourgès-Maunoury, Félix Gaillard, Pierre Pflimlin và Charles de Gaulle, có nghĩa là một đại diện cánh độc lập, bốn cực tả, một SFIO, một MRP và một gaulliste. Đứng trước các biến cố rất quan trọng như giai đoạn kết thúc chiến tranh Đông Dương, giai đoạn bắt đầu cuộc chiến tranh ở Algérie, khủng hoảng 13.05.1958, vấn đề Suez…tổng thống hầu như không có uy quyền gì cả, chỉ « đi khai mạc những đóa hoa cúc » theo sự chế diễu của de Gaulle khi ấy. Chính Coty cũng ghi chép lại một thí dụ điển hình vào ngày 21.02.1956: « Hôm qua, đang ăn tối, Guy Mollet gọi điện báo tin là Chaban và Lemaire sẽ gia nhập vào chính phủ. » để thấy phong cách thông tin về quyết định của ngài chủ tịch chính phủ đối với ngài nguyên thủ quốc gia ! …Coty là một trong những người đầu tiên tố giác những yếu điểm của hệ thống Đệ tứ Cộng hòa, ông phản kháng nhất là các yếu điểm, đó chỉ là các trò chơi của các đảng phái, không thể tụ hợp được một số đồng thuận tối đa cần thiết cho mọi quyết định quan trọng và mọi thay đổi bất chợt xảy ra không theo luật lệ. Coty muốn thay đổi quyền hạn của Quốc hội, ông cho rằng tổng thống, không phải chỉ là người có nhiệm vụ thừa hành luật pháp, mà phải ở cương vị bảo đảm sự tôn trọng Hiến pháp trước Quốc hội.

Trong thời René Coty, chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 08.05.1954, xảy ra chỉ vài tháng sau khi Coty nhậm chức tổng thống, đã làm rung chuyển ngay chính phủ do Joseph Laniel lãnh đạo. Việc soạn thảo, ký kết hiệp định Genève vào ngày 21.07.1954 ảnh hưởng trực tiếp đến vận mạng của Việt Nam nói riêng và các nước trong Đông Dương thuộc Pháp nói chung xảy ra dưới quyền lãnh đạo của Pierre Mendès-France.

Năm 1958 đứng trước nhiều khó khăn, nhất là sự đe dọa trước một cuộc nội chiến vì nhiều bất đồng chính trị, René Coty trao quyền thành lập một chính phủ mới cho Charles de Gaulle. De Gaulle thành lập chính phủ mới vào ngày 02.06.1958 và sửa soạn cải tổ Hiến pháp.

Theo thống kê chính thức của INSEE (Institut national de la statistique et des études économiques) năm 1958 thì dân số nước Pháp là 44,563 triệu người. (So sánh với dân số nước Pháp vào tháng 1.2011 gồm có 65,8 triệu người, tăng gần 48% so với dân số cũ năm 1958). Cần nhắc lại ở đây là đạo luật cho phép phụ nữ Pháp được đi bầu lần đầu tiên trong lịch sử nước Pháp được ký ngày 21.04.1944 bởi tướng de Gaulle và Hội đồng Giải phóng quốc gia (Comité Français de la Libération Nationale) tại Alger. Sau khi Đệ nhị thế chiến chấm dứt quyết định của tướng de Gaulle được bảo đảm trong Hiến pháp năm 1946.

Theo Hiến pháp năm 1958 (07.11.1958) ứng cử viên tổng thống phải được đề cử bởi ít nhất là 50 cử tri trong thành phần có trách nhiệm bầu tổng thống, ấn định trong điều 6 của Hiến pháp (dân biểu quốc hội và những người lãnh đạo do dân bầu lên, cho đến cấp thấp nhất là làng xã.)

De Gaulle thắng cử cương vị tổng thống vào ngày 21.12.1959 với số phiếu 78% trên tổng số cử tri bầu cử, và trở thành vị tổng thống thứ 18 của nền Cộng hòa Pháp. Ông chính thức nhậm chức tổng thống vào ngày 08.01.1959.

Để bảo đảm tính dân chủ rộng rãi trong mọi tầng lớp dân chúng và tránh các áp lực trực tiếp của nhiều đảng phái với nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau, ngày 06.11.1962 tổng thống de Gaulle thay đổi điều 6 Hiến pháp của năm 1958, đạo luật mới ấn định hai điều khoản quan trọng, thứ nhất là cương vị Tổng thống Pháp được dân chúng trực tiếp bầu cử (suffrage universelle), và thứ hai, mỗi ứng cử viên tổng thống phải có sự giới thiệu của 100 người lãnh đạo do dân đã bầu lên (từ dân biểu quốc hội xuống tới xã trưởng từng làng mạc), và danh sách giới thiệu được giữ kín như cũ.

Sự thay đổi Hiến pháp dưới quyền de Gaulle mở ra một nền Cộng hòa mới, nền Đệ ngũ Cộng hòa, và de Gaulle là người sáng lập và cũng là vị tổng thống đầu tiên. Dân chúng cũng được trực tiếp bầu Quốc hội (Assemblée Nationale, 577 ghế, nhiệm kỳ 5 năm) và Thượng viện (Sénat, 321 ghế, nhiệm kỳ 9 năm). Quyền lập pháp vẫn nằm trong tay của Quốc hội và Thượng viện, nhưng Thượng viện có đồng quyền lực quyết định như Quốc hội. Thêm vào đó, một cơ quan mới được thành lập, đó là Hội đồng Hiến pháp, gồm có 9 ghế, ba ghế của Tổng thống đề cử, 3 ghế do Quốc hội và 3 ghế do Thượng viện đề cử, để bảo đảm công việc thực hiện Hiến pháp. Tổng thống và chính phủ vẫn giữ quyền hành pháp, chính phủ do tổng thống thành lập. Quyền lực của hai cơ quan này cũng được củng cố thêm so với Quốc hội. Chính phủ có thể đặt vấn đề « tin tưởng » (question de confiance) lên Quốc hội. Nhưng quan trọng hơn cả là quyền lực của tổng thống Pháp thời Đệ ngũ Cộng hòa được nới rộng và củng cố: tổng thống có quyền giải tán Quốc hội, tổng thống có quyền quyết định đặc biệt khi có biến cố nghiêm trọng (Hiến pháp, điều số 16), và tổng thống có quyền trưng cầu dân ý trực tiếp (référendum) khi có những vấn đề cải tổ quan trọng.

Ngày 18.06.1976 thủ tướng Jacques Chirac dưới thời tổng thống Valéry Giscard d’Estaing ký sắc lệnh thay đổi một chi tiết quan trọng của điều 6 Hiến pháp năm 1962: thay vì 100 chữ ký giới thiệu được giữ kín, thì ứng cử viên tổng thống sẽ phải hội đủ ít nhất 500 chữ ký ủng hộ của các lãnh đạo do dân bầu (les élus), và danh sách ủng hộ sẽ được công bố chính thức. Trong thời gian ở cương vị tổng thống Jacques Chirac thay đổi thêm một điều khoản nữa trong điều 6 của Hiến pháp là nhiệm kỳ 7 năm của tổng thống sẽ bị giới hạn lại còn 5 năm kể từ năm 2002.

Từ khi thành lập nền Đệ ngũ Cộng hòa đến nay, có nhiều sự kiện và nhiều thay đổi quan trọng. Sự kiện quan trọng mà hiện nay nhiều người dân Pháp còn nhắc nhở đó là sự ra đi của de Gaulle sau cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề « Phân quyền » (la décentralisation, régionalisation), trong mục đích phân chia bớt quyền lực tập trung về địa phương, đồng thời cải tổ lại Thượng viện Pháp (Sénat), vào tháng 4.1969.

Ngày 28.04.1969, kết quả cuộc trưng cầu dân ý (référendum de 1969) cho thấy 52,41% phiếu chống và 47,59% phiếu thuận, trên một tổng số cử tri là 22.908.855 người đi bầu cử. De Gaulle thất vọng nặng nề, từ chức ngay và lập tức rời khỏi điện Elysée trong ngày hôm đó.

Cái chết đột ngột của de Gaulle vào ngày 09.11.1970 và bản di chúc từ chối tất cả mọi nghi lễ quốc gia, tước vị, quân hàm, vinh danh sau ngày ông qua đời, khiến cho mọi người hiểu sự thất vọng to lớn của ông. Mãi 33 năm sau, năm 2003, dự án « Phân quyền » của de Gaulle khi xưa được thực hiện một phần, lãnh thổ nước Pháp được tổ chức lại, chia thành 27 vùng hành chánh (régions) gồm có 22 vùng đất liền và 5 vùng ngoài đất liền (régions françaises d’outre-mer, đó là Guadeloupe, Martinique, Guyane, La Réunion và Mayotte).

Tình hình chính trị của nền Đệ ngũ Cộng hòa cũng có nhiều thay đổi trong thành phần chính phủ, tức là thay đổi thủ tướng và bộ trưởng, nhiều nhất là trong giai đoạn trị vì của François Mitterand (đảng Xã hội). Tổng thống de Gaulle có 3 lần thay đổi thủ tướng: Michel Debré, Georges Pompidou, Maurice Couve de Murville. Tổng thống Georges Pompidou có hai thủ tướng kế tiếp là Jacques Chaban-Delmas và Pierre Messmer. Tổng thống Valéry Giscard d’Estaing thay đổi thủ tướng hai lần, đó là Jacques Chirac và Raymond Barre. Tổng thống François Mitterand thay đổi 7 lần thủ tướng kế tiếp là Pierre Mauroy, Laurent Fabius, Jacques Chirac, Michel Rocard, Édith Cresson, Pierre Bérégovoy, Édouard Balladur. Tổng thống Jacques Chirac thay đổi 4 lần thủ tướng Alain Juppé, Lionel Jospin, Jean-Pierre Raffarin, Dominique de Villepin. François Fillon tại chức thủ tướng trong suốt năm năm (quinquenat) của tổng thống Nicolas Sarkozy.

Trong nhiệm kỳ lần thứ hai của Tổng Thống Chirac 2002-2007, các sự kiện nổi bật thí dụ như mùa hè nóng khô năm 2003 làm cho khoảng 15.000 người chết trong hai tuần lễ đầu tháng tám, cuộc trưng cầu dân ý về Hiến Pháp Âu Châu (5/2005), dự án CPE (Contrat Premier Embauche, Hợp đồng thu dụng đầu tiên – 2006), vụ án Outreau (2004/2005) làm cho một số người bị vu oan và ở tù oan, sự phản kháng của dân cư vùng ngoại ô Clichy-sous-Bois vì cái chết của hai người trẻ trong một cuộc đuổi bắt của cảnh sát (10/2006), hồ sơ Clearstream, các khoản chi tiêu và danh sách lương « ma » của tòa thị trưởng Paris…đã làm xôn xao dư luận. Ngay tạp chí Der Spiegel bên Đức (Tấm gương) vừa mới nhắc lại trường hợp một ông già bị cảnh sát bắt ngay trước cửa trường mẫu giáo khi đi đón cháu, bà giám đốc trường cũng bị tạm giam vì phản kháng.

Năm 2007, dưới tựa đề « Nước Pháp ngả về phía hữu » các báo chí ngoại quốc như tại Bỉ, Thụy Sĩ và Đức đã công bố kết quả trước khi các phòng phiếu tại Pháp đóng cửa. Trong vòng 1 có tổng cộng 12 ứng cử viên tranh cử : François Bayrou, Olivier Besancenot, José Bové, Marie-George Buffet, Arlette Laguiller, Jean-Marie Le Pen, Frédéric Nihous, Ségolène Royal, Nicolas Sarkozy, Gérard Schivardi, Philippe de Villiers, Dominique Voynet. Hai ngày trước ngày kỷ niệm chấm dứt Đại chiến thứ hai tại Pháp (8 tháng năm 1945) cử tri Pháp đã đi bầu vòng hai cuộc bầu cử Tổng Thống với kết quả như sau: Bà Ségolène Royal đoạt 16.790.611 phiếu (46,94%), ông Nicolas Sarkozy đoạt 18.983.408 phiếu (53,06%) số phiếu hợp lệ. Tỷ lệ không đi bầu là 16,03% trên tổng số cử tri là 44.472.363 (100%), phiếu trắng/bất hợp lệ chiếm 4,20% trên số cử tri đi bầu.

Trên tạp chí Spiegel Online vào ngày 05. Mai 2007 tác giả Stefan Simons đã bình luận như sau: « Sau một tiền đề tranh cử dễ gây ấn tượng của bà Royal « Nước Pháp là Tổng Thống » hoặc của ông Sarkozy « Cùng chung sức, tất cả sẽ trở thành hiện thực » là hai chương trình dự tính cơ bản đối lập sâu xa của hai mẫu xã hội của hai nước Pháp khác nhau, theo nhật báo Le Monde: đứng trước thử thách của sự toàn cầu hóa và sự dời chuyển của công việc lao động, suy giảm xã hội và sự lụn bại của thành phần trung lưu xã hội, cả hai ứng cử viên đều tự xem mình là người nắm chốt cho một sự thay đổi đã chín mùi. Bà ứng cử viên Xã hội cố gắng đưa ra một sự cải tổ linh động lao động với trợ cấp của nhà nước và một sự trao đổi ôn hòa và tin cậy lẫn nhau giữa chính quyền, công đoàn và giới chủ nhân, theo mô hình Bắc Âu, dưới khẩu hiệu « Tham dự Dân chủ ». Ông Sarkozy thì theo mô hình cục súc (rabiateren) của nước Mỹ: giảm thuế cho thành phần chủ nhân kinh tế để thúc đẩy chu trình kinh tế và hy vọng qua đó chủ nhân sẽ đầu tư để thiết lập thêm nhiều công việc lao động mới – giới đầu tư phải được hưởng lợi trước đã, sau đó sự giầu có sẽ thấm dần xuống hạ tầng xã hội (trickle-down-effects). Hai chiến sách này được gói gém trong lời hứa hẹn dễ hiểu và đơn giản: bà Royal hứa hẹn sẽ tạo ra một « trật tự công bằng », trong khi ông Sarkozy hứa hẹn một đất nước « mà không ai bị bỏ rơi », khẩu hiệu đã dùng của đương kim Tổng Thống Mỹ George W. Bush, để nói lên tính chất « Bảo thủ thông cảm » (mitfühlenden Konservativen) của một hệ thống luật pháp đứng về phía chủ nhân. »

Cuộc bầu cử ở tầm mức « vùng » (élections régionales) năm 2010 với kết quả vòng 2 vào ngày 21.03.2010 đã đem lại 2 chi tiết đáng lưu ý. Tổng số cử tri năm 2010 lên đến 43.354.968 phiếu, nhưng có đến 21.148.548 người không đi bầu, chiếm tỷ lệ 48,78% số cử tri. Trong số người đi bầu, 22.206.420 cử tri (51,22%) thì phải trừ đi 1.013.554 phiếu trắng hay không hợp lệ (2,34% số cử tri), có nghĩa là tổng số phiếu hợp lệ chỉ có 48,88% trên tổng số cử tri. Những con số này nói lên sự chán nản của dân chúng, bầu hay không bầu, cũng chẳng thay đổi được gì.

Trong cuộc bầu cử vùng 2010 có tổng cộng 9 đảng phái và liên minh đảng phái tranh cử thuộc cánh hữu, cánh tả, đảng xanh, trung lập, cực hữu và cực tả. Tuy Liên minh cánh tả, Listes d’Union de la gauche (LUG), thắng to chiếm 1006 ghế (46,40%) trên tổng số 1.880 ghế, nhưng mức độ thắng cử của đảng cực hữu, ông Jean-Marie Le Pen và con gái ông, bà Marine Le Pen, toàn quốc là 9,17%, đoạt 118 ghế, với một số lượng cử tri hợp lệ gần 2 triệu người gây lo ngại trên chính trường. Trong khi chính bản thân đảng Xã hội (PS, Parti Socialiste) chỉ đạt được một kết quả khiêm tốn :  3,11% với 58 ghế.

Tuy cánh tả đang trên đà chiến thắng chính trị, nhưng việc giải quyết nội bộ về nhân sự của cánh tả sẽ còn đem lại nhiều sôi nổi, một số nhân vật lãnh đạo cánh tả bị phê bình là « la gauche caviar » (cánh tả tiền, chỉ bảo vệ thành phần giầu có).

Có thể nói, từ sau khi de Gaulle từ chức năm 1969, nước Pháp, trong thời Đệ ngũ Cộng hòa dần dần đi vào quỹ đạo của sự kiện chính trị « Toàn cầu hóa » (mondialisation, globalisation), đằng sau hậu trường sân khấu chính trị là các thế lực tài chính dần dần chi phối nghiêm trọng mọi nền kinh tế. Kể từ đầu những năm 1980 việc « tư hữu hóa » được đẩy mạnh, trong khẩu hiệu « công là xấu, tư là tốt » và theo lý luận cùng hứa hẹn rằng, tư hữu hóa đẩy mạnh cạnh tranh thị trường, rồi mọi giá sinh hoạt sẽ được giảm xuống.

Thực tế bây giờ cho thấy một kết quả ngược lại, khuynh hướng chiếm hữu địa vị độc tôn thị trường (monopol) khiến cho cá lớn nuốt cá bé, nhiều hãng đóng cửa, nhiều hãng dời cơ xưởng sản xuất, tình trạng thất nghiệp và giá sinh hoạt không giảm mà lại tăng lên. Năm 2001 đồng Euro của khối Liên minh Âu châu (Union Européenne, hiện nay lên đến 27 quốc gia thành viên) được phát hành chính thức. Hai năm kế tiếp theo đó, dân chúng khổ sở cùng cực vì mọi giá sinh hoạt đều tăng vượt bậc, mà lương thì không tăng.

Hiện nay đồng Euro đang trở thành « ngòi nổ » xã hội và có nhiều tiếng kêu trở về đồng tiền quốc gia cũ của từng nước. Khối nợ của Hy Lạp, từ 2011 đến 2015 sẽ lên đến một con số khủng khiếp là 198 tỷ Euro, và người dân Hy Lạp đang đấu tranh từ chối mọi biện pháp cắt giảm trên đầu dân chúng để trả nợ cho tư bản tài chính, cho nhà băng. Con số thất nghiệp của thành phần trẻ tuổi 15-24 của Hy Lạp lên đến 36%.

Chính sách về người nhập cư của Nicolas Sarkozy, thiết lập một cơ quan quản lý người nhập cư gọi là Bộ Di Dân và Nhân Diện Quốc Gia (Ministère de l’Immigration et de l’Identité nationale), hạn chế nhập cư mỗi năm, đặt các rào cản như trình độ văn hóa Pháp, có công ăn việc làm, có chỗ ở, không xin trợ cấp xã hội…trong mục đích, như một cử tri đã hy vọng rằng chính phủ cánh hữu sẽ đuổi bớt người ngoại quốc, đang dành công ăn việc làm của người bản xứ hoặc sống bám vào các trợ cấp xã hội làm suy sụp ngân quỹ quốc gia, và sẽ đóng cửa biên giới thương mại chặn hàng hóa rẻ tiền từ châu Á, để thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa nội địa, rồi như thế sẽ giải quyết được nạn thất nghiệp cho nước Pháp, không trở thành một « đòn bẩy » giải quyết thất nghiệp như mong đợi.

Cái nhìn tập trung vào sự hứa hẹn trong chủ đề « Lao động tối đa » (Plein-emploi, Vollbeschäftigung) của Nicolas Sarkozy, mỗi người dân phải biết giá trị lao động, góp sức lao động, không được ngồi chơi xơi nước hay ăn bám, và sẽ có công ăn việc làm theo tư tưởng chỉ đạo « travailler plus pour gagner plus » (làm nhiều ăn nhiều) trở thành một sự thất vọng. Ngoài ra, các sự kiện chính trị kinh tế như tư hữu hóa tài sản quốc gia, bán 600 tấn vàng dự trữ của quốc gia, tài trợ kinh tế cho các nhà băng, tái gia nhập OTAN (Organisation du Traité de l’Atlantique Nord, Khối phòng thủ Bắc Đại Tây Dương) vào năm 2009, vấn đề đồng Euro, khủng hoảng tại Hy Lạp, quan hệ của bộ trưởng Eric Woerth và bà tỷ phú Liliane Bettencourt, đẩy tuổi về hưu lên mức 65/67 tuổi cũng là tiền đề… cho nhiều sự chỉ trích.

Vào tháng 3.2011 toàn thể nước Pháp có 4,301 triệu người thất nghiệp, trong đó có 37,9% đã thất nghiệp dài hạn ít nhất là hơn 1 năm. Đa số thành phần thất nghiệp lâu dài là những người trên 50 tuổi, nhưng trong lớp tuổi từ 25-49 cũng có nhiều trường hợp thất nghiệp lâu dài. Khi một người thất nghiệp thì cả gia đình vợ chồng con cái đều cùng khổ, cùng thiếu thốn. Tuy nhiên phải công bằng mà nói, hệ thống xã hội của nước Pháp còn rộng rãi và tốt hơn các nước chung quanh, đồng thời cũng được kiểm soát khá nghiêm ngặt.

Cuộc bầu cử tổng thống năm 2007 đã mở ra một cuộc tranh luận mới về nguyên tắc đề cử ứng cử viên tổng thống của các đảng phái. Nhiều « rào cản » phụ, nhưng quan trọng, như tiền thế chân của mỗi ứng cứ viên, 500 chữ ký ủng hộ được công bố danh tánh và địa điểm…khiến cho chỉ có các đảng phái, dù to dù nhỏ, dù chỉ có một số rất ít đảng viên so với thành phần đại đa số cử tri, mới có đủ điều kiện tài chánh, cộng thêm sự ủng hộ của giới lãnh đạo và hệ thống truyền thông (báo chí, truyền thanh, truyền hình, điện ảnh, sân khấu, mạng internet…) để « đưa » ra một ứng cử viên tổng thống của đảng mình, và người dân chỉ còn có thể lựa chọn trong những nhân vật của các đảng phái đã lựa chọn sẵn, dù những ứng cử viên đó có nhiều yếu điểm về tư cách cá nhân, quá khứ, lập trường chính trị, và nhất là không được lòng dân.

Chính trường nước Pháp hiện nay có 14 đảng phái từ cực tả sang cực hữu với các tên viết tắt là : NPA, LO, PS, PCF, EELV, PRG, PG, MoDem, NC, PR, UMP, MPF, DLR, FN. Các đảng trung lập thực ra là thuộc khuynh hướng cánh hữu.

Con số đảng viên của các đảng phái là một dữ liệu khó chính xác vì có nhiều thay đổi (gia nhập, rời bỏ), nên chỉ có thể ước chừng, chiếu theo nhiều nguồn thông tin của báo chí Pháp. Năm 2008 đảng Xã hội (PS, Parti Socialiste) có 233.000 đảng viên, năm 2011 đảng cộng sản Pháp PCF có 138.000 đảng viên (báo Express 17.06.2011), đảng cánh tả Parti de gauche (PG) có 8.000 đảng viên, năm 2011 đảng Xanh (EELV) có khoảng 32.896 đảng viên, năm 2007 đảng UMP có 145.000 đảng viên, đảng Debout la République (DLR) có khoảng 12.500 đảng viên, đảng cực hữu Front National (FN) có khoảng 23.000 đảng viên, đảng trung lập MoDem có 80.000 đảng viên (báo France Matin 29.06.2011), đảng Nouveau Centre (Trung lập mới) có 8.000 đảng viên (theo Politique.net).

Trong mùa mùa tranh cử tổng thống cho nhiệm kỳ 2012-2017, sự kiện người được xem là một ứng cử viên sáng giá của đảng Xã hội Pháp, ông Dominique Strauss-Kahn, đang bị quản thúc tại gia tại New York, vì ông bị tố ra tòa về tội cưỡng dâm một người đàn bà hầu phòng trong khách sạn Sofitel New York vào ngày 14.05.2011, làm chấn động giới chính trị tại Pháp và Âu châu. DSK, tên tắt nổi tiếng của ông, phải từ chức giám đốc FMI (Fonds Monétaire International, Quỹ tiền tệ quốc tế) vào ngày 18.05.2011 trong khi đang bị bắt giam để điều tra. Bà Bộ trưởng đương nhiệm Christine Lagarde trong chính quyền Sarkozy/Fillon, thuộc cánh hữu UMP, vừa được bầu làm tổng giám đốc FMI ngày 28.06.2011.

Thời cơ đã đến cho ông François Hollande, người đắc cử chức vị tổng thống Pháp năm 2012, đem quyền lực về cho đảng Xã hội Pháp, sau 17 năm gián đoạn kể từ khi Mitterand chấm dứt nhiệm kỳ. MTT

Nguồn tham khảo:

  • Georges et Janine Hémeret, République Française – Les présidents, Socadi, Paris 1985
  • Các dữ liệu của INSEE (Viện Thống Kê Pháp, Institut National de la Statistique et des Études Économiques)
  • Các văn kiện công bố chính thức của Bộ Nội Vụ Pháp (Ministre de l‘Intérieur et de l‘Aménagement du Territoire), Thượng nghị viện (Sénat)
  • Các văn kiện công bố chính thức của Bộ Kinh Tế, Tài Chánh và Kỹ Nghệ (Ministère de l’Économie, des Finances et de l’Industrie)
  • Tạp chí Der Spiegel – CHLB Đức
  • Báo chí, truyền thanh và truyền hình
  • Chương trình ứng cử của các ứng cử viên 2007, 2010

Les commentaires sont fermés.