Skip to content

Vercingétorix và Samara – Histoire de France: Vercingétorix et Samara

13/09/2012

Lịch sử nước Pháp: Vercingétorix và Samara

Histoire de France: Vercingétorix et Samara

©Mathilde Tuyet Tran, France 2007

Lời nói đầu: Tôi không phải là một nhà sử học chuyên nghiệp. Tính khách quan của các nhà sử học có một giá trị tương đối, vì tùy theo thế đứng chính trị-lịch sử-xã hội-văn hóa của bản thân mình mà mỗi sử gia có nhiều cách nhìn và cách viết về lịch sử khác nhau, cũng như có người chép sử và có người viết sử, nếu không muốn bàn rộng ra về trình độ nghiên cứu và kỹ thuật dẫn giải. Sự yêu thích đọc những trang sử và tài liệu của quá khứ – và sự quan sát, tìm hiểu, ghi nhận những dấu tích còn lại trong thời đại hiện tại của chúng ta là hai yếu tố cơ bản kết hợp thành nền tảng các bài viết của tôi về lịch sử, nói chung. Tầm nhìn, khả năng, điều kiện và ý thích của riêng tôi tất có giới hạn và không tránh khỏi thiếu sót. Mong độc giả góp ý xây dựng, tôi xin chân thành cám ơn. MTT. France, vào thu 2007

Vercingétorix

Vercingétorix, cái tên nghe quen quen như Astérix và Obélix (1), thậm chí đã được thương mại hóa, thành thương hiệu cho nhiều sản phẩm bán trên thị trường.

Theo nhiều nhà sử học, cái tên Vercingétorix chỉ xuất hiện lại trên văn đàn vào đầu thế kỷ thứ mười chín. Cho đến cái mốc thời gian này, lịch sử nước Pháp được trình bày bắt đầu bằng thời đại Mérovingiens và cái tên Clovis. Các dòng vua Mérovingiens cai trị đất Gaule trong 270 năm, từ năm 481 đến năm 751, tức là đã mấy trăm năm sau Thiên Chúa (2). Danh từ Mérovingiens xuất phát từ tên Mérovée, ông của vua Clovis. Nhưng tôi muốn đi ngược thời gian về trước thời đại Mérovingiens, để tìm hiểu về Vercingétorix, chính ra là nhân vật lịch sử đầu tiên được biết đến của nước Pháp ngày nay.

Cái tên Vercingétorix lại gắn liền với cái tên một nhân vật khác, không ai khác hơn là…Julius César, người được gọi là Bạo chúa La Mã. Nếu ngày nay cái tên Vercingétorix còn tồn tại trong sách vở là cũng nhờ công của… César, đã viết nên cuốn sách „La Guerre des Gaules“.

Theo truyền thuyết Vercingétorix là con của một người quý tộc giầu có tên là Celtill, thuộc bộ tộc Arvernes, sinh vào năm -72 trước T.C. (3) (4)

Trước khi quân La Mã tấn công đất Gaule, lãnh thổ Gaule thời ấy bao gồm, về phía Đông, toàn thể nước Bỉ, một phần nước Đức, Thụy sĩ, và Ý hiện tại, mà biên giới thiên nhiên là dòng sông Rhin (Rhein), trải dài xuống phía nam cho đến rặng núi Pyrénée ngăn cách lãnh thổ Gaule và lãnh thổ Tây Ban Nha. …. Julius César viết trong đoạn đầu của cuốn sách „La guerre des Gaules„ rằng đất Gaule được chia ra làm ba vùng do ba dân tộc ngự trị: Belgique của dân Bỉ (biên giới thiên nhiên về hướng Nam là sông Marne và sông Seine), Celte của dân Gaulois (biên giới thiên nhiên về hướng Nam là sông Garonne và Aquitaine (tiếng latin là Aquitania) của dân gốc Basques. Ngày nay còn lưu truyền tên gọi là „Les trois Gaules“ (ba vùng đất Gaules). (5)

Có sách viết rằng gốc gác của dân Celte là dân của vùng thượng nguồn sông Danube, Bavière (phía Nam nước Đức) và nước Áo. Trong thời thượng cổ, một đợt sóng di dân tràn vào lãnh thổ Pháp hiện nay, mà dân La Mã gọi họ là dân Gaulois, đất định cư của họ là Gaule. Một đợt sóng di dân thứ hai vào thế kỷ thứ ba trước Thiên Chúa, họ định cư ở phía Bắc sông Seine – được gọi là dân Bỉ -, một phần khác định cư ở vùng sông Rhône và sông Garonne – được gọi là dân Volques. Các dân tộc này có thổ ngữ riêng nhưng cùng chung một gốc celtique. (6)

Nhưng nếu ngược dòng thời gian xa hơn nữa, lên hơn bốn ngàn năm trước T.C. thì có người cho rằng dân tộc Celtes là dân gốc vùng phía Bắc của hai châu Âu-Á ngày nay đã di cư xuống nam, nơi mà khí hậu ôn hòa hơn và mặt đất cung cấp cho họ thực phẩm, họ sống bằng cách hái hoa quả rau cỏ mọc trong thiên nhiên (thời mésolitique), dần dần bắt đầu biết định cư và trồng trọt ( thời néolitique).Danh từ Gaule xuất hiện từ thời La Mã, kể từ César, gaulois viết theo tiếng La tinh là gallus, Gaule là Gallia. Cũng vì thế mà dòng chữ bất hủ trong các sách giáo khoa của Pháp, thậm chí trẻ con Việt Nam cũng đã phải học, „Nos encêtres sont les Gaulois.“ (Tổ tiên chúng ta là người Gô loa), theo một vài nhà sử học phải được sửa lại rằng „Nos encêtres sont les Celtes.“

Gaullus cũng là danh từ để chỉ con gà. Gallus gallus là con gà gaulois, còn gọi là con gà vàng (coq doré), biểu tượng của nước Pháp, và cũng là biểu tượng của đạo Thiên Chúa, con gà trống đứng trên mọi tháp chuông của nhà thờ. Vì sao ? có thể là con gà trống rất đẹp, to lớn, kiêu hãnh, gáy to, hung hăng, thích đánh nhau, làm chủ tướng đàn gà mái và gà con, nhưng cũng vì các nhà khảo cổ học đã tìm thấy rất nhiều xương gà trong các hố khảo cổ, chứng tỏ rằng dân đất Gaule đã có chăn nuôi gà và ăn rất nhiều gà. Tiếng gà gáy „cocorico“ cũng là biểu tượng, đôi khi trào phúng, của tinh thần quốc gia của dân Pháp (7).

Còn giống gà ở Việt Nam ta thì có tên La tinh là Gallus gallus jabouillei. Đây cũng là một điều thú vị, vì con gà có nguồn gốc nguyên thủy ở vùng Đông Nam châu Á, nhiều nhất từ phía Tây-Bắc Ấn Độ trải dài xuống phía Đông Nam, qua Việt Nam, xuống Java và các đảo trên biển Thái Bình Dương. Nếu bây giờ tôi đổi câu „Nos encêtres sont les Celtes“  thành câu „Nos encêtres sont les Vietnamiens“ thì chắc chắn rằng các nhà sử học sẽ xử trảm tôi mất thôi.

Vào cuối thế kỷ thứ hai trước Thiên Chúa, tức là khoảng -125 năm trước T. C., quân đội La Mã chiếm đóng hai vùng đất phía nam trên bờ biển Địa Trung Hải, ngăn cách nhau bởi rặng núi Alpes ở giữa, cho nên có tên gọi là Gaule Transalpine, và Gaule Cisalpine. Bẩy mươi năm sau, tức là khoảng 50 năm trước T. C., Jules César chiếm đóng toàn bộ đất Gaule. Quân đội La mã, gồm khoảng 12 đạo quân viễn chinh, tức khoảng hơn 50.000 binh sĩ, không kể ngựa chiến, đoàn nô lệ và đoàn phục dịch, chinh phục đất Gaule trong hai thời kỳ. Có tài liệu viết rằng quân đội La Mã tiến đánh đất Gaule vào năm –58 trước T.C. Họ cần rất nhiều lương thực, vải vóc, mọi sản phẩm cần thiết khác và phục dịch, cho nên đi đến đâu cướp bóc tàn sát dân chúng đến đó, bắt dân và tù binh làm nô lệ.

Các trận đánh thời ấy dùng sức người và ngựa là chính, thường bắt đầu một cách có vẻ hỗn độn, hai cánh quân chạy bộ, hò hét cho lên tinh thần chiến đấu, cầm gươm, dáo, dùi nhọn, cung tên, xông thẳng vào nhau, các chủ tướng cưỡi ngựa, vừa đánh vừa chỉ huy trận chiến, mà kết cục thường là những trận đấu gươm dáo tay đôi, một mất một còn, cho đến khi một người phải ngã xuống, chết.

Quân La Mã mang tiếng tàn án cực độ vì họ giết dân thường, già trẻ, phụ nữ, trẻ con không một chút nao núng. Sử sách không thể biết chính xác các con số, nhưng sự thiệt hại về dân sự, trên thực tế, lớn hơn sự thiệt hại về chiến sĩ rất nhiều. Thêm vào đó, một số dân giầu có của đất Gaule yêu thích nền văn minh La Mã, muốn thoát khỏi cách sống „hoang dã thô sơ„ của các bộ tộc đất Gaule, phần khác muốn yên ổn làm ăn, cho nên đạo quân Vercingétorix thiếu hỗ trợ, thế yếu dần.

Các thủ lãnh gaulois đồng ý chiến đấu dưới quyền chỉ huy của Vercingétorix và phong Vercingétorix làm chủ soái, có sách viết là Vercingétorix xưng Vua „Roi des Arvernes“, trong dịp này. Thời ấy chế độ quân chủ còn là một điều mới lạ, chưa được thành hình, „Vua“ là gì ?, khái niệm về quốc gia, dân tộc, hành chánh chưa có, vì họ sống rải rác khắp nơi thành làng xóm, bộ tộc, chưa có liên kết. Hai yếu tố quan trọng nhất để được mọi người khác công nhận là sức mạnh thân thể và sự thông minh của mỗi cá nhân.

Trận đánh đầu tiên của quân Vercingétorix là trận Cénabum (ngày nay là Orléans). Quân La Mã lấy lại được Cénabum, nhưng khi rút lui quân Vercingétorix đã làm theo kế hoạch đồng không nhà trống, đốt cháy sạch, rồi cố gắng gìn giữ Avaricum (ngày nay là Bourges). Nhưng quân của Vercingétorix bị đánh ra khỏi thành phố này vì họ không nỡ đốt cháy một thành phố đẹp như Avaricum.

Thừa thắng, César quyết định tấn công ngay quê hương của Vercingétorix: Gergovie ( ngày nay gần Clermont Ferrand), nhưng quân Vercingétorix phá hủy các cầu và đường, quân La Mã bị thiệt hại nặng nề, bị quân của Vercingétorix đón đánh ở Aignay le duc trên đường rút lui. Vercingétorix bị tình thế bắt buộc lui về cố thủ ở Alésia (ngày nay tên là Alise-Ste-Reine) và bị quân La Mã huy động lực lượng, đào các chiến hào chung quanh bao vây. Mặc dù các tướng lãnh gaulois quyết tâm chiến đấu và chịu tổn thất nhân mạng rất lớn để giải vây Alésia, nhưng Vercingétorix không thoát được vòng vây của quân La Mã. (8)

Cuối cùng Vercingétorix phải ra đầu hàng César vào năm -52 trước T.C., lúc mới hai mươi tuổi, bị cầm tù sáu năm dài, rồi bị bêu làm vật chiến thắng của César Cesar rồi bị xử tử năm -46 trước T.C. , tức là sống được có 26 năm. Tương truyền, mỗi một quân La Mã được phát một quân Gaulois làm nô lệ, xem như một biểu tượng chiến thắng. Toàn thể đất Gaule về tay César.

Năm -15 trước T.C. Octave Auguste được César cho ở lại trấn đóng đất Gaule. Auguste thiết lập các vùng hành chánh Narbonne (thủ đô là Narbonne), Aquitaine (thủ đô là Bordeaux), Lyon (thủ đô là Lyon), Belgique (thủ đô là Reims) để dễ dàng kiểm soát và cai trị.

Thành phố Lyon đã được hình thành từ thời cổ đại (Antique), mà nguồn gốc xuất phát của Lyon còn đang được nhiều sử gia tranh cãi. Khởi thủy, Lyon là một vùng đất sình lầy, nơi giao thủy của hai con sông, sông Rhône và sông Saône, nhưng cũng nhờ địa thế này, cộng thêm điểm thuận lợi nằm giữa hai vùng núi non hiểm trở, về phía đông là rặng Alpes và về phía tây là vùng núi cổ Massiv Central mà Lyon thu hút các dân tộc đến định cư và nhất là các thương nhân dùng Lyon là điểm hẹn để trao đổi hàng hóa. Ở đâu có trao đổi là ở đó thành hình sự sống.

Theo sách sử thì thương nhân từ vùng Cận Đông đã đặt chân đến Lyon từ 900 năm trước T.C., sau đó là người Hy Lạp đi từ phía nam đến buôn bán, sinh cơ lập nghiệp. Năm -43 trước T.C. quân La Mã chiếm đóng Lyon, khi ấy bao gồm bởi hai làng của dân tộc Celte, và rồi đặt tên tiếng La tinh là Lugdunum cho Lyon. Ngọn đồi Fourviere vẫn còn đó làm nhân chứng thời gian.

Trải qua các thời đại đồ đá, đồ thau, đồ đồng, rồi tiếp đến là thời đại đồ sắt (bắt đầu từ khoảng 800 – 700 năm trước T.C. tại phía Bắc Âu châu ngày nay, và khoảng 1.100 năm trước T.C. trong các dân tộc sinh sống ở vùng biển Địa Trung Hải, theo các nhà khảo cổ học) các dân tộc sinh sống tại vùng Gaule, ước đoán khoảng 7, 8 triệu dân, đã có nhiều quan hệ thương mại với các dân tộc láng giềng: họ bán muối, da thú, nô lệ, kim loại (nhiều nhất là chì), hổ phách, và họ mua rượu, dầu olive, nước hoa, đồ sành sứ.  Đồng thời, họ sản xuất được nhiều dụng cụ nông nghiệp, đồ sành sứ, vải, nữ trang, đúc tiền, đồ vật xử dụng trong đời sống hàng ngày, bằng kim loại, bằng gỗ… không những tiện dụng hữu ích mà đã có chất lượng mỹ thuật cao. Các loại vũ khí, đồ vật còn tìm được ngày nay, nền nhà, nền đường, nền nông trại… qua các chương trình khảo cổ học quy mô chứng tỏ là dân đất Gaule không phải là một dân tộc mọi rợ hoang dã thô sơ, theo như sự trình bày của văn chương La Mã, là người La Mã đã đem nền văn hóa La Mã đến khai sáng cho dân tộc Gaulois. Thậm chí, Giáo Sư Christian Goudineau, phát biểu rằng, cách trình bày vấn đề như thế cũng giống tương tự như cách trình bày của thời nước Pháp đi đô hộ Phi châu và Á châu, cho rằng người Pháp đi khai sáng các dân tộc lạc hậu man di, mà quên rằng, La Mã cần đến các tài nguyên thiên nhiên, đất đai và nhân lực của đất Gaule.

Qua nhiều giai đoạn lịch sử, nhân vật Vercingétorix đã được xử dụng với những tính chất chính trị mâu thuẫn. Hình ảnh Vercingétorix, được lãng mạn hóa trong giai đoạn văn chương lãng mạn của Pháp: trẻ, đẹp, cao thượng, từ gốc nông dân hoang dã trở thành thủ lãnh các đạo quân, biết kết hợp và động viên nhiều bộ tộc khác nhau thành một khối đoàn kết, dám đứng lên khai chiến với kẻ thù, đem sự sống của mình để hy sinh cho đất nước, trở thành một biểu tượng đẹp cho dân Pháp, có thể nói là tương đương với biểu tượng nữ anh hùng Jean d‘Arc.

Napoléon III, khi đi tìm một biểu tượng cho khái niệm „quốc gia“ và „anh hùng“, đã góp phần tích cực trong việc thúc đẩy các nhà khảo cổ học, rời bỏ tháp ngà sách vở mà đi triển khai thực tế, tìm các dấu vết còn sót lại trong lòng đất, mà thời gian và con người đã lãng quên, và tạo điều kiện vật chất cho các nhà khảo cổ học làm việc. Nhờ thế, mà nhiều dấu tích về thời đại Vercingétorix được khai quật, bảo tồn, và gây một làn sóng „Vercingétorix“ trong ý thức của dân chúng.

Sau Napoléon III, lúc thì Vercingétorix được thống tướng Pétain xây dựng là anh hùng quốc gia, lúc thì Gambetta được so sánh với Vercingétorix, mà Bismarck là César và quân Đức coi như đóng vai quân La Mã khi xưa, lúc thì Vercingétorix được xây dựng thành thủ lãnh anh hùng bất khuất của kháng chiến quân. Trên nhiều tượng đài kỷ niệm đệ nhất thế chiến (1914-1918) người ta đúc tượng Vercingétorix nắm tay hoặc vai kề vai với các chiến sĩ hy sinh trong trận đại chiến thứ nhất. Nhưng cũng có một điều mâu thuẫn là các ảnh tượng của Vercingétorix hiện hữu ngày nay là hình ảnh một ông già trung niên, có vẻ hoang dã, man rợ, tóc dài quá vai, thẳng, bay lơ thơ trong gió, có râu mép và râu cằm dài phất phơ, đi ngược lại sự phản ảnh của các nhà khảo cổ học đã cố gắng minh chứng nền văn hóa của dân đất Gaule.

SAMARA

Hiện nay có nhiều vùng khảo cổ, viện bảo tàng về thời đại thượng cổ của Vercingétorix, nhưng ngại đường xá xa xôi, tôi chọn con đường gần nhất để đi xem một chiến hào chống La mã của dân gaulois trong vùng gần nơi tôi ở, chỉ cách khoảng hơn một trăm cây số.

Lều ở bằng da thú của người Gaulois - Samara, Amiens

Lều ở bằng da thú của người Gaulois – Samara, Amiens

Samara ngày nay là tên của một địa điểm du lịch hoàn toàn xây dựng lại mới, nằm ở phía Tây Bắc của thành phố Amiens, thủ phủ của vùng Picardie, nhưng có lợi thế là được xây dựng trong một làng mà nơi đó người ta đã đào ra được nhiều di tích cổ, và nhất là nằm bên cạnh một chiến hào chống La Mã. Thật ra, các di tích thời thượng cổ gallo-romain có rải rác ở khắp nơi, nhưng dân chúng khi đào phải, một phần vì thiếu hiểu biết, họ tự phá hủy, một phần vì sợ nếu khai báo thì sẽ bị mất đất mất nhà, cho nên công trình khảo cổ văn hóa mất đi nhiều di tích có thể rất quý giá.

Công trình xây dựng khu du khách Samara không có gì là quy mô vĩ đại. Trong khu này có một trung tâm làm nơi triển lãm về văn hóa thời thượng cổ và hai đường đi dạo, một đường đi dạo gọi là trong thiên nhiên, ngang qua một khu vườn thảo mộc, một đường đi dạo khác dẫn đến vài ngôi nhà theo kiến trúc thời thượng cổ qua các thời đại paléotithique (-12.000 đến -5.000 năm), thời đại néolitique (-780 năm),thời đại đồ đồng (-50 năm), thời đại đồ sắt, hoàn toàn làm bằng thân cây, cành cây, đất sét và rơm rạ, ngang qua những địa điểm biểu diễn các nghề lao động tay chân thời ấy, như làm đồ đất sét nung, làm đồ khắc gỗ, khắc đá, làm đồ sắt, làm đồ mosaique.

Nhà bằng đất sét mái rơm thời cổ của người Pháp

Cái hay của khu vực Samara là tính chất giáo dục cho trẻ em. Nhiều lớp học ngoài trời được chở bằng xe bus đến đây. Các em học cách đánh lửa của người tiền sử bằng hai cục đá, thổi lửa bằng rơm, và giữ lửa cháy liên tục trong nhà để sưởi và nấu ăn, học cách làm tường nhà bằng cành cây và đất sét trộn với rơm rạ, học cách nấu muối mỏ, học cách làm mái nhà bằng gỗ lợp rơm, ở nơi giao điểm của hai mái trước mái sau có trồng hoa, loại hoa iris, vừa để hút nước, vừa để ngụy trang. Làng Samara được xây theo phong cách xưa, tức là nằm thụp trong một vùng đất thấp, bên dưới một vùng đất cao dùng làm địa điểm quan sát và báo động khi có quân địch đến, bên cạnh là một chiến hào rộng để ngựa không thể nhảy qua, gần khu vực đầm lầy để có nước xử dụng cho đời sống hàng ngày, bao bọc bởi cây xanh để ngụy trang.

Chiến hào chống La Mã của dân gaulois, tiếng La tinh gọi là Oppidum, các chiến hào này có nơi rộng đến 1.600 mẫu, ở đây gọi tên là „Le Camp César„ thuộc làng La Chaussée-Tirancourt, rộng 10 thước, cao 26 thước, dài 457 thước, độ nghiêng là 45°, đào bằng sức người, ngày nay được bảo tồn là khu di tích lịch sử, tuy nông dân đang cầy cấy trồng trọt trên ấy, một hình ảnh thời thanh bình hiện đại, đối lập với những trang sử cũ.

Samara là tên gaulois của con sông Somme, dài 245 km, thung lúng sông Somme rộng 6.550 cây số vuông, đổ ra biển Manche tại cửa sông mang tên Baie de Somme, giữa hai thị trấn Le Crotoy và Saint-Valery-sur-Somme.MTT

Mathilde Tuyet Tran, Septembre 2007

Ghi chú:

  • Astérix le Gaulois và Obélix là hai nhân vật trong bộ truyện bằng hình vẽ của tác giả René Goscinny và minh họa bởi Albert Uderzo , một bộ truyện gồm có 32 cuốn truyện khác nhau, rất nổi tiếng và được yêu thích rộng rãi, được dịch ra trên 80 thứ tiếng. Cái tên Asterix có gốc Hy Lạp và có nghĩa là một ngôi sao nhỏ. Các truyện được viết trong bối cảnh của một ngôi làng chài lưới nằm ở ven biển trên đất Gaule, nay là vùng Bretagne, và trong thời đại 50 năm trước T.C. Dân làng “Village des fous“ này, bị bao vây bởi bốn cứ điểm của quân La Mã có tên là Petitbonum, Babaorum, Aquarium và Laudanum, nhưng họ kiên trì chống lại sự xâm lăng của Julius Caesar, và quân La Mã không thể chiếm đóng được ngôi làng nhỏ này. Các nhân vật khác như Abraracourcix, Miraculix, Assurancetourix, Acidenitrix, Alambix và con chó Idéfix…. làm cho ngôi làng càng thêm sống động…Các tên cũng mang ý nghĩa chính trị thâm thúy, vần –ix – lấy trong tên của Vercingétorix , theo ngôn ngữ celtique có nghĩa là „Vua“, được dành cho dân gốc Gaule, vần –ax dành cho dân Anh, vần – af dành cho dân gốc Bắc Âu, vần –ik dành cho dân gốc Goth, vần –is dành cho dân Ai Cập, vần –us dành cho dân La Mã và vần –os dành cho dân Hy Lạp.
  • Lịch chúng ta sử dụng ngày nay là lịch Grégorien, đặt tên theo Giáo Hoàng Grégoire XIII bắt đầu áp dụng vào năm 1582, để thay thế lịch julien của Jules César được sử dụng từ năm -46 trước Thiên Chúa.
  • Có tác giả Việt Nam viết là trước Công Nguyên. Các sách Pháp thì dùng cách viết „avant Jesu-Christ“ (av.J.-C.)
  • Nếu ai còn nhớ phim Spartacus, thì Spartacus nổi loạn từ năm -73 cho đến -72 trước T.C. Cléopâtre, vị nữ hoàng tương lai của Ai Cập ra đời năm -69 trước T.C. tại Ai Cập. Julius Caesar sinh năm -100 (hay -102, không ai biết chính xác) trước T.C. tại Rome và chết ngày 15 tháng ba năm -44 trước T.C. tại Rome.
  • Khi đến Lyon bạn sẽ có dịp thăm Amphithéâtre des Trois Gaules (khán đài ngoài trời xây trên nhiều bậc theo hình cung, sân khấu nằm trong tâm của vòng cung) , xây năm 19 sau T.C. có sức chứa hơn 3.000 khán giả. Vào thế kỷ thứ hai sau T.C. Amphithéâtre des Trois Gaules được xây rộng thêm, dài 143,3 m, rộng 117,4 m, và có sức chứa hơn 26.000 khán giả.
  • Có bản dịch ra tiếng Việt Celte là „xen tơ“ và Gaule là „gôn“, nhưng tôi không muốn dùng cách dịch này, mà để nguyên theo tiếng Pháp.
  • Coluche, một diễn viên trào phúng rất nổi tiếng của Pháp, người sáng lập ra „Resto du Coeur“ để phát các bữa ăn miễn phí cho dân nghèo, đã có diễu về con gà gaulois.
  • Giáo sư Christian Goudineau, Collège de France, tác giả của nhiều cuốn sách viết về đất Gaule và Vercingétorix đã làm cho tôi mỉm cười khi ông so sánh tình hình của trận Alesia với trận Điện Biên Phủ, hai trận đánh cách nhau mấy ngàn năm.
  • Có nghĩa là  „Thành bùn“ hay „Đồi sáng“ tùy theo các nhà sử học.

Tài liệu tham khảo:

  • Il était une fois la France – Vingt siècles d‘histoire, Sélection du Reader‘s Digest, 1989
  • Vercingétorix – Le roi des guerriers – Le Héros national – Le dernier Gaulois, film de Jerôme Prieur, Quark Productions, 2005
  • Bộ truyện bằng tranh „ Astérix le Gaulois“, Goscinny và Uderzo
  • Bộ tự điển Larousse, và các bộ bách khoa tự điển khác
  • Các trang trên mạng

Les commentaires sont fermés.