Skip to content

Đất nước mình nó thế

23/11/2012

Thợ may trên vỉa hè Sài Gòn

Đất nước mình nó thế

©Mathilde Tuyet Tran, France 2012

(Trích « Từ Lũng Cú đến Đất Mũi » của Mathilde Tuyết Trần, sẽ xuất bản 2013)

Bao nhiêu lần tôi nghe câu ấy từ những người thở than những chuyện dài vô cùng tận, nhưng còn nuôi nhiều hy vọng, đất nước mình nó thế.

Tôi vừa mới giật mình khi nghe một người trẻ, trí thức thành đạt, hỏi tôi một câu rằng đời sống bên châu Âu chắc là sướng như thiên đàng cô nhỉ, các sân vận động đá banh đều đông nghẹt người xem. Người khác thì hỏi, bên ấy tha hồ mà đẻ con, có chính phủ nuôi hết. Hay, tại sao con cái không ở với bố mẹ bên ấy. Hay, sao cô không thuê người giúp việc nhà để đi chơi cho khỏe ? Hay bảo hiểm sức khỏe bên ấy tốt quá, đau ốm được trăm phần trăm. Hay, đem lương xã hội bên ấy về bên này thì sống sướng nhỉ. Hay, người dân châu Âu hưởng phúc lợi xã hội quá nhiều, đã đến lúc họ phải thay đổi phong cách sống và tiêu tiền…

Nếu tôi có nói nhiều lần rằng đời sống của tôi bên châu Âu khá vất vả, cực nhọc thì không có ai tin. Chưa biết ai giầu có hơn ai, người trong nước hay người ngoài nước, nhưng cái công thức Việt kiều = đô la Mỹ = nhiều tiền = sung sướng vẫn còn có tác dụng.

Người giầu người nghèo, người thất bại người thành công thì ở đâu cũng có. Cùng cha cùng mẹ đẻ một bầy con thì cũng có đứa ăn nên làm ra, đứa thì lận đận khó khăn…mỗi người một duyên nợ, mỗi người một hoàn cảnh, một số phận, cha mẹ sinh con trời sinh tính. Cũng như, sông có lúc, người có khúc, có người tiền vận tốt thì hậu vận xấu, có người tiền vận xấu thì lại có cái hậu tốt đẹp, có người cả đời khổ, có người cả đời sướng. Nhưng có ai đoán trước được đời mình ngày mai sẽ ra sao ? Mà con người lại thích so sánh, đứng núi này trông núi nọ. Nhất là khi bị thông tin sai lạc, thì sự so sánh tất nhiên cũng sai lạc.

Trong một lần về từ Việt Nam tôi ngồi bên cạnh một chị trạc tuổi tôi trên máy bay, chị than thở phải để dành ky cóp 3 năm mới có được 3 ngàn đô và tiền mua một vé máy bay, cho người này một ít tiền trả nợ, người kia một ít tiền sửa nhà, người nọ một ít tiền chữa bệnh…không đủ đâu vào đâu, ít ỏi, mà chị thì đi làm nhân công nhà hàng ở Marseille quanh năm suốt tháng, phải lo chồng lo con. Người khác thì vay mượn tiền, dù nợ mua nhà nợ mua xe đã lên đến tận cổ, rồi về nước tiêu xài lung tung, cho lung tung, gây ấn tượng mình là người ung dung tiêu tiền không tiếc tay.

Thực tế là tiền lương ở nước ngoài cũng là một khoản tiền cố định, lương hưu cũng cố định, tháng nào cũng chỉ có bấy nhiêu đó, phải tính đầu này đầu kia cho vừa đủ, không mang công mắc nợ thêm. Mua nhà thì trả góp từ 15 năm đến 25 năm tùy theo tuổi, mua xe thì trả góp từ 4 năm đến 7 năm. Đại gia « Việt kiều » ở châu Âu cũng chỉ là số ít. Gọi là lương xã hội như ở Đức, ở Pháp chỉ có khoảng 400€ một người. Với số tiền ấy, với mức giá sinh hoạt hiện tại thì con người sống khá chật vật, dù có thêm trợ cấp tiền thuê nhà, trợ cấp quần áo mùa đông, trợ cấp con cái….gộp chung tất cả mọi trợ cấp lại cũng không phải là sống « sướng ». Nhưng đồng tiền trợ cấp không thể lớn bằng cái mặc cảm thất nghiệp, không có chỗ đứng trong xã hội.

Cũng trong cái nhìn « ly nước đầy, ly nước vơi », một người bạn nói với tôi rằng, dân mình lầm than quá, phải ra đường kiếm sống, tôi lại không nghĩ như anh ấy.

Đi dọc đi ngang đất nước nhiều lần, mà khi tôi còn nhỏ cho đến bây giờ cũng thế, đặc tính làm kinh tế của dân mình là cứ bám đường mà sống, ở đâu có đường xá là dọc theo hai bên đường nhà cửa chen chúc và có đường tức là có chợ, trong một cái hẻm nhỏ xíu của một xóm nghèo cũng có chợ họp hai bên ven đường. Chồng tôi hỏi, họ có đóng thuế cho chính phủ không ? có trả tiền chỗ ngồi chỗ bầy hàng không ?

Chồng tôi thấy đời sống kinh tế tràn lan trên vỉa hè hiện nay ở Việt Nam có những điểm tích cực của nó, dù ai có muốn chỉ trích hay chê bai gì đi nữa. Và dù những chuyên gia kinh tế vĩ mô vi mô cổ vũ cho một trật tự kỹ nghệ sản xuất dây chuyền, đại trà…cho rằng kinh tế vỉa hè là kinh tế của một sự lạc hậu, chậm tiến, một hình thức tiểu thương tiểu nghiệp tự phát, vô tổ chức, vô kiểm soát. Anh ấy cho rằng, vấn đề có bằng mới được hành nghề, mới được thâu nhận làm nhân công cũng là một biện pháp « lọc lựa để ngăn cản » người dân có tự do hành nghề, và giảm bớt lực đè nặng lên thị trường lao động.

Khi một người không hành nghề vì không có bằng cấp tương xứng thì thống kê thất nghiệp giảm được đi một người thất nghiệp, dù đó là sự thật. Người ấy cũng bị sàng lọc ra khỏi một số trợ cấp xã hội, sống bên lề với sự nghèo nàn túng thiếu liên miên. Nước Pháp sau thời chiến tranh cần nhân lực thì ai có khả năng gì, biết làm gì…thì cứ bắt tay vào làm, không có bằng cấp mà có khả năng cũng được thâu nhận, giống như ý tưởng của Mỹ « learning by doing », tự thâu thập kiến thức trong khi hành nghề. Nhiều người chỉ nhờ có năng lực làm việc mà được hãng công nhận chức vị kỹ sư, dù không có bằng cấp.

Chồng tôi thấy, có vẻ ai biết làm gì thì làm, kiếm sống, và đời sống sinh hoạt kề cận nhau trên vỉa hè tạo một mối tình cảm tương thân tương trợ… Sự sinh hoạt vỉa hè tôi đã thấy và đã sống trong đó từ khi tôi lớn lên. Chị bán báo trên vỉa hè, chị bán nước đầu con ngõ thật nhỏ, thật chật hẹp, anh tài xe ôm đầu đường…đối với tôi thật thân thương, tình cảm, lần nào cũng hỏi thăm, em khỏe không ? mới về hả ? cháu nội cháu ngoại gì chưa ? dù hơn 40 năm, từ một cô nữ sinh tóc thề ốm nhom nhỏ nhắn nay đã lên chức « lão bà », họ vẫn gọi tôi bằng em ! Nói là kinh tế Việt Nam là kinh tế vỉa hè thì quá tội. Nhưng những người du khách ngoại quốc đến nước mình đều rất ấn tượng về những cảnh sinh hoạt và lao động trên vỉa hè.

« Ở Việt Nam đời sống tràn lan trên vỉa hè » đó là sự nhận định của một cô bạn Pháp sau khi tự tổ chức đi thăm Việt Nam từ Bắc xuống Nam trong hai tuần lễ. Ở Pháp, Đức thì vỉa hè là vỉa hè, cấm bán buôn, cấm họp chợ, cấm tụ họp không xin phép, cấm ăn xin, cấm « sống » lê tha của những người không nhà không cửa trên vỉa hè, chứ đừng nói chi đến « lao động » thực sự để kiếm sống trên vỉa hè. Nhưng chó thì cứ tự do ỉa trên vỉa hè, chủ không thèm hốt, người đi đường đạp, dẫm nhây nhét thúi um. Thành phố Paris phải thuê người, lập một đội ngũ vệ sinh đặc biệt trang bị với xe mô tô có máy hút cứt chó, hút rác để giải quyết « vấn đề » chó ỉa.

Người thất nghiệp ở châu Âu thì đóng cửa nằm nhà, năm này qua năm khác. Vấn đề nằm ở chỗ xã hội và nền kinh tế nội địa không tạo ra công ăn việc làm cho họ, lại quá gay gắt trong mọi luật lệ lao động, luật lệ bảo hiểm và luật lệ thuế má, việc gì cũng phải có bằng cấp này bằng cấp nọ, lạm phát đủ mọi bằng cấp, việc gì cũng phải có đóng bảo hiểm này, bảo hiểm nọ, không cho người lao động có được một chút tự do, có sáng kiến tự lập, tự chủ.

Chúng tôi đi từ Bắc xuống Nam, những cảnh sinh hoạt vỉa hè, trong ngõ, đầu ngõ, chợ họp ven đường, chợ quê… là những tấm hình được chúng tôi ưa thích nhất và thường cho bạn bè xem.  Tuy có nhiều nơi, vỉa hè chật chội, nhỏ hẹp, hay bị người bán hàng chiếm đóng hoàn toàn vỉa hè, người đi bộ không còn chỗ đi, phải đi xuống mặt đường, nhưng phong cách sống « tiếp thị » theo kiểu « bám sát lấy đường » là một ý tưởng xuyên suốt từ Bắc chí Nam, trên hơn hai ngàn cây số quốc lộ 1, người dân Việt đều sống bám đường lập chợ. Người mua, không thèm xuống xe, dựng xe chi cho mất công, chỉ cần « xà » vào lề đường, ngồi trên xe, đòi đưa hàng cho xem, trả giá, mua, gói hàng, lấy hàng rồi lái xe đi.

Từ vùng núi sâu thẳm Hà Giang Lũng Cú, phố núi Điện Biên, phố cổ Hà Nội, xuống đến Huế, Qui Nhơn, vào Nam trong Sài Gòn, đến tận Cà Mau đâu đâu cũng có người lao động trên lề đường, từ người thợ may, thợ máy, thợ sửa xe, thợ hàn, thợ tiện, họa sĩ vẽ tranh…mọi thứ ngành nghề cho đến nghề buôn (hiện nay được vinh danh là doanh nhân), mọi phụ nữ mở hàng cơm, hàng phở, bún, chuối chiên khoai chiên thịt nướng, bán hoa, bán cá, bán thịt, bán tôm…tất cả đều tràn lan trên vỉa hè. Vỉa hè Việt Nam rất sinh động, rất sống. Cho nên khi thấy có mở thêm đường mới, xây dựng thêm cầu mới, xây chợ mới rộng rãi, sạch sẽ thì tôi mừng.

Bảo đó là một thứ tự do kinh tế, tự do lao động thì cũng đúng, vì, ở các nước gọi là cường quốc như Pháp như Đức, người thất nghiệp không có cái tự do ra đường kiếm cơm, họ đóng cửa nằm nhà, hàng ngày phải đi chầu chực xin việc cho đến khi nản chí nản lòng. Mới 35 tuổi đi xin việc đã bị coi là già, ai mất việc khi xấp xỉ 50 thì không còn hy vọng gì nữa, gần 60 thì đã bị chủ tìm đủ mọi cách xa thải, trong khi theo luật hưu thì phải làm việc đến năm 65 tuổi mới được hưởng lương hưu. Họ làm gì trong khoảng thời gian đó ? từ khi thất nghiệp cho đến lúc được lãnh lương hưu ?! Nếu có ai, ngồi chờ trong những phòng khám bệnh đầy ứ, nhìn những khuôn mặt đầy lo âu, mới hiểu cái « không sướng » của những người dân bình thường ở châu Âu.

Hiện nay mức lương tháng của công nhân trung bình tại Pháp là 1.583€ (thống kê Insee 2010) *), khi cộng lại tất cả các khoản chi tiêu trung bình căn bản trong một tháng như tiền nhà 700€, tiền điện 50€, tiền nước 30€, tiền sưởi 150€, tiền điện thoại bàn và di động 55€, tiền thuế ở 65€, tiền di chuyển đi làm 200€, tiền bảo hiểm sức khỏe 80€, tiền thuế xe, tiền bảo hiểm xe, tiền bảo hiểm thiệt hại, tiền bảo hiểm nhà, tiền học con, tiền quần áo giầy dép, tiền ăn, tiền thuốc men, tiền sắm sửa cho nhà ở (bóng đèn, thuốc chùi rửa, xoong nồi, chăn ga gối nệm, chổi chà…), tiền giải trí (đi xem phim, ca nhạc…), tiền đi nghỉ hè, du lịch, tiền quà cáp sinh nhật, Giáng sinh, Tết Tây…thì có đủ không ?!

Ngay ở thủ đô Hà Nội, kinh tế vỉa hè cũng là đời sống thường nhật. Những quán hàng cơm, hàng bún, hàng phở, hàng sửa xe đạp, xe gắn máy, sửa cả máy tàu thủy… trên vỉa hè có ở mọi nơi. Ở khu phố cổ thì khỏi nói, người dân buôn bán, lao động tràn lan trên vỉa hè nên chúng tôi thích đi dạo ngắm cảnh sinh hoạt đông vui của mọi đường phố « Kẻ Chợ ». Thời xưa, tôi nhâm nhi mãi cuốn tiểu thuyết « Gánh hàng hoa », thì bây giờ ở Hà Nội, thơ mộng nhất trong hình ảnh Hà Nội vẫn là những phụ nữ bán hoa, ôm cả bó trên tay, hay đèo xe đạp đầy hoa, hay bưng một thúng hoa, một mẹt hoa trên vỉa hè. Mùa Tết, mới 6 giờ sáng, bầu trời Hà Nội còn đục trắng sữa một màn sương, những cô gái bán hoa đào đã đến chợ để bán những cành đào đẹp nhất cho ngày Tết cổ truyền.

Chợ quê miền Trung cũng có nét duyên dáng dễ thương. Tôi thương nhất những cụ già, những cô gái trẻ bán hoa sen Huế. Ngày 8 tháng 3 ở Việt Nam là một ngày mang đậm nét thơ mộng, ở đâu cũng có bán hoa để những người cha, người chồng, người bạn mua đem tặng những người phụ nữ thân quý trong đời mình.

Còn trong Nam, quanh chợ Bến Thành, chúng tôi có dịp đứng xem bạn hàng dọn chợ đêm, rất ấn tượng. Chợ trong còn chưa đóng cửa hẳn, khoảng 6 giờ chiều một số người đã di chuyển từ bốn phương tám hướng, không biết ở đâu ra, đẩy những khối đồ đạc to lớn đẩy bằng tay. Đường chung quanh chợ bị cấm xe chạy bằng rào cản. Chỉ trong nháy mắt, chợ đêm Bến Thành đã dựng xong trên mặt đường, nào là quán ăn, đèn màu cháy nhấp nhánh, bếp đỏ than hồng, nào là quán quần áo, giầy dép, va li…nhiều loại mặt hàng khác nhau. Các vỉa hè của các đường phố chung quanh chợ Bến Thành cũng đầy những hàng ăn, bếp lửa, khói bay thơm phức, hàng bán trái cây…đông vui người bán, người mua, người ăn hàng.

Ngủ ở ven đường

Từ trung tâm thành phố cho đến vùng ven có nhiều chợ đêm, bạn hàng bán thâu đêm suốt sáng. Lượn xe hai bánh đi xem chợ đêm là một cái thú vui đáng nhớ. Trời Sài Gòn như không kịp đen, đêm Sài Gòn như không kịp ngủ, dưới ánh sáng trắng neon hay đèn dầu vàng heo hắt, hay có khi chỉ là những ngọn nến bập bùng soi sáng hàng hóa…người bán vẫn bán, người mua vẫn mua. Họ nằm ngủ « dormir à la belle étoile » bên cạnh gian hàng dưới trời đầy sao, mát rượi. Các bến xe, bến phà, bến sông cũng là những nơi buôn bán tràn lan. Ngó chỗ nào cũng thấy ai bán ai mua một thứ gì đó.

Tình cờ, tôi « sử dụng » một dịch vụ mà không biết, đó là dịch vụ « đi chợ ». Tôi cần vài món lặt vặt, trời nắng, làm biếng ra đường, nhờ một cô bạn đi chợ dùm, mua bột lá dứa, hạt điều…sau mới biết là có những cô em không chạy xe ôm, nhưng « đi chợ » cho khách, chỉ cần gọi điện thoại, dặn mua thứ gì, ở đâu…là các cô lái xe đi tìm, đi mua rồi mang đến tận nhà, vừa dễ thương vừa tiện lợi.

Một cô em trong vòng thân thuộc của tôi, có chồng là công an, nhưng vẫn lao động thêm để kiếm sống. Cô em bán « đồ ăn sáng », tức là bán cà phê, trà, nước ngọt và bữa thì bánh canh, bữa thì cháo lòng, bún bò…thay đổi tùy hứng. Buổi sáng, cô em thức dậy từ 3 giờ, vừa bắt đầu nấu một nồi thật to, vừa dọn hàng, có nghĩa là di chuyển bàn ghế, chén đũa, ly tách, sô chậu, thực phẩm, nước uống…từ trong nhà ra ngoài đầu ngõ, sát đường, rồi bày biện các thứ ở đó. Khoảng 6 giờ sáng, đã có khách ghé ăn uống trước khi đi làm. Họ ngồi trên những cái ghế đẩu nhựa thật thấp, quanh một cái bàn thấp, nồi bánh canh bốc khói ghi ngút…húp xì xà xì xụp…Trời còn mát, ở xứ nóng ăn nóng vẫn tốt bụng hơn là ăn lạnh. Đến 9 giờ sáng thì cái nồi to đã cạn nước lèo, cô em dọn dẹp hàng từ đầu ngõ vào lại nhà trong hẻm, rửa ráy tất cả các dụng cụ bếp núc sạch sẽ rồi đi ngủ tiếp, cơm trưa thì đã có con cháu lo nấu. Khoảng 4 giờ chiều bớt nóng bớt nắng, cô em đi chợ, ngồi xích lô chở các thứ đã mua về nhà, để nấu bán ngày mai. Em bảo tôi, em đâu thấy nặng nhọc gì, mà em cũng đâu cần tiền của ổng, gia đình sống vậy cũng đủ ăn đủ tiêu. Em lại còn nuôi nhiều năm bà mẹ già, bị liệt nửa người vì tai biến mạch máu não, em bảo, úi chị ơi, đứa nào cho thêm gì thì cho, má cứ nằm đây, chẳng sao hết. Tôi phục em tôi thật, dễ dàng, nhàn hạ hơn cả thân phận tôi ở châu Âu.

Chúng tôi yêu mến những tấm hình người thợ may, đặt một cái bàn máy may trên vỉa hè, che một cái dù, câu điện, vui vẻ, vừa sửa quần sửa áo, vừa ngó ông đi qua bà đi lại. Hay những tấm hình những người lái xe ôm nằm ngủ trưa trên xe của mình. Thế nằm rất đặc biệt và ai cũng nằm giống nhau khiến chồng tôi thán phục và vui thích, họ nằm ngược trên băng xe, hai chân để lên tay lái xe. Người lái xe ba gác thì sướng hơn một chút, họ ngủ trong lòng xe ba gác. Chúng tôi cũng thương người thợ sửa đồng hồ trên một vỉa hè thật nhỏ hẹp ở một góc phố, tấm hình ghi lại kỷ niệm chúng tôi đã ngồi đấy hơn hai tiếng đồng hồ để xem anh sửa mấy cái đồng hồ cũ của chồng tôi, mà từ Pháp sang Việt Nam, đã có nhiều nơi « chê » không thèm nhận sửa…Anh thợ, vừa làm vừa kể chuyện, nghề sửa đồng hồ cần mắt phải tinh, phải sáng, mắt yếu là phải bỏ nghề, như ba anh, anh kế thừa chỗ ngồi trên vỉa hè, cái xe èo ọt đựng đủ mọi thứ dụng cụ, đồng hồ cũ, làm tiếp tục công việc đã học của ba. Đơn giản thế thôi.

Mỗi khi trở về thăm quê hương, vợ chồng tôi không bao giờ quên những con người chăm chỉ, chân thật, bình dị làm kinh tế vỉa hè. Họ rất đáng được kính trọng và tôn trọng, vì họ không những chỉ nuôi thân, mà chỉ với một chút thịt nướng, một chút chuối chiên, một chút cháo…họ nuôi nổi cả gia đình, chắt chiu dành dụm cho con đi học đến trường, làm quay guồng máy xã hội, kinh tế, nhất là có cái tự trọng không sống ăn bám vào xã hội, vào ai hết. Những quang cảnh sang trọng giầu có quá đáng chỉ làm cho chúng tôi thêm ngần ngại, vì chúng tôi cũng chỉ là dân thường như bao người khác. Cũng có lẽ tôi không « ham » những hình thức bóc lột sức lao động nhân công qua những biện pháp « corporate identity » đồng hóa người làm việc, nô lệ mới của thế kỷ thứ 21, với nhà máy, với máy móc, với sản phẩm, trong khi lợi nhuận vẫn chảy về tay chủ, về thị trường chứng khoán. Má tôi thường dạy tôi rằng: « Con ơi, ngó lên mình chẳng bằng ai, chi bằng ngó xuống chẳng ai bằng mình. »

Cả đời, vợ chồng tôi, con cái tôi chưa có ai đi xem một trận đá banh ở sân vận động. Giá vé rất cao, 200, 300€ một vé cũng có. Những người đi xem trực tiếp là những người « hy sinh » cả nửa tháng lương để di chuyển đi xem một trận đấu. Họ cần một chỗ « xả xú bắp », gào thét, la ó, hát hò, chửi rủa chung trên sân vận động, thậm chí đánh nhau, giết nhau vì cá độ, vì thất vọng gà nhà không thắng.

Con tôi đẻ thì tôi phải nuôi từ nhỏ đến lớn, lo cho chúng ăn học, có nghề nghiệp chứ có chính phủ nào nuôi ! Ngược lại, luật dân sự tại Pháp bắt buộc cha mẹ luôn luôn phải cấp dưỡng cho con cái khi chúng thiếu thốn, nhất là quãng thời gian cho đến năm 26 tuổi để chúng đi học. Nếu cha mẹ có khả năng mà không cấp dưỡng hay ít ỏi thì con cái thưa cha mẹ ra tòa để đòi đúng mức cấp dưỡng hàng tháng. Ngay như bà Segolene Royal cũng đã kiện cha ra tòa để đòi được ăn học. Ngược lại một lần nữa, khi cha mẹ già, cô đơn, bị bỏ rơi trong viện dưỡng lão một mình, thì có con cái bỏ trốn, dọn nhà không để lại địa chỉ để khỏi phải góp phần trả tiền phòng viện dưỡng lão.

Chỉ có những triệu phú ở châu Âu mới có khả năng thuê người giúp việc nhà. Như tôi thì từ chợ búa, nấu cơm, lau chùi quét dọn nhà cửa, giặt giũ, ủi quần áo, lau chùi cửa kính, cửa sổ, quét lá, quét tuyết, quét băng ngoài vỉa hè…cho đến con đau con ốm, chồng cằn nhằn than thở…một tay tôi làm hết. Ngay cả những khi tôi đau ốm, ngày nào cũng phải vào bếp nấu cơm. Có ai đâu làm thay tất cả những việc ấy cho mình ?!

Kinh tế xuống dốc thì ngân quỹ quốc gia cũng bị thất thu, các chính quyền châu Âu đã liên tục cắt giảm rất nhiều các chương trình trợ cấp xã hội, đồng thời dùng mọi biện pháp hành chính để từ chối đơn xin trợ cấp của dân. Trong phạm vi bảo hiểm sức khỏe cũng có nhiều biện pháp để giảm chi phí của chính phủ, như mỗi lần mua thuốc bị đóng thêm 1€, một số thuốc bị loại ra danh sách chi phí, tức là người bệnh phải trả 100% tiền thuốc, thời gian nằm viện sau khi mổ bị giảm tối đa xuống còn 24 tiếng đồng hồ tùy theo trường hợp nặng nhẹ, nhiều bệnh viện tỉnh nhỏ bị cắt giảm ngân sách hoạt động thoi thóp, trở thành những « nhà chờ chết » cho bệnh nhân. Chỉ được trợ cấp 100% là những căn bệnh chờ chết như ung thư, liệt nửa người…, bởi thế nên ai biết mình được trợ cấp bảo hiểm sức khỏe 100% thì có vui gì ?

Xã hội châu Âu đã mất đi nhiều quan hệ đùm bọc tương trợ gia đình, các thế hệ cha mẹ, con cái, cháu chắt sống riêng rẽ, ai có thân thì người ấy lo, không như ở Việt Nam, mối liên hệ gia đình, bạn bè đùm bọc lẫn nhau còn chặt chẽ, vững vàng, có sự tôn trọng ngôi thứ gia đình, có tình thương yêu thật sự. Năm nay, tôi nhận thấy có một sự thoái hóa rõ rệt về văn hóa đời sống ở Sài Gòn. Trên các sản phẩm quảng cáo xuất hiện nhiều lỗi chính tả. Biết rằng, hành chính thì hành là chính, vào đến cửa quan quyền thì phải biết nhịn nhục, dù mỗi thủ tục hành chính đều có thu lệ phí, nhưng người làm quan nhỏ, quan to thì « có quyền » nạt nộ, la lối trấn áp người dân đến làm một thứ giấy tờ nào đó, luôn cả việc « anh đừng có quên cái mặt tui nhen » để nhắc nhở chuyện « bôi trơn », tăng thêm phí. Người dân Việt nhịn nhục, chịu khổ cũng quen. Nhưng lo hơn cả, là trình độ văn hóa chung của các cô gái trẻ đẹp xuống dốc rõ ràng, và sự hỗn hào của các cô gái cũng rõ ràng, không còn biết chào ai, không còn biết nói cám ơn. Tôi chào họ trước, cám ơn trước, họ đều làm thinh, lạnh lùng, lườm nguýt, xấc xược. Có phải vì đời sống trong Sài Gòn quay cuồng quá nhanh hay không ? Có phải những xa hoa cực kỳ ở Sài Gòn hiện nay đang gây bất mãn cho những người không vói tới được những cái xa hoa ấy không ?

Ở phố cổ Hà Nội, tôi cũng ghi nhận hình ảnh rất tương phản, một cô gái trẻ, vừa gọi điện thoại di động, vừa lái một tay chiếc xe Mercedes to đùng trong khi những phụ nữ khác buôn gánh bán bưng phải dạt sát vào lề đường tránh lối cho cô gái ấy lái xe qua.

Nhưng ở Hà Nội cũng như ở miền Trung, con người còn biết giữ gìn một văn hóa căn bản, còn biết chào hỏi theo ngôi thứ, còn biết nói cám ơn. Bình thường, họ gọi tôi một cách lễ phép bằng cô xưng cháu, đúng theo tuổi tác. Đặc biệt ở miền Bắc nề nếp văn hóa trong phong cách cư xử xã hội còn rất đậm nét, không chỉ riêng trong gia đình. Những người trẻ nhỏ tuổi đều biết chào hỏi rất lễ phép, cháu chào cô, cháu chào bác, em chào chị, biết cám ơn, cháu xin cô, cháu cảm ơn bác. Trong Nam thì ai cũng là « chị », xưng tui.

Tuy thế, cũng có những hiện tượng lạ. Trên một chuyến bay từ Hà Nội về Pháp của VietnamAirlines, một nữ tiếp viên hàng không đã hỗn xược với tôi. Khi ấy, một nữ tiếp viên khác đang đưa cho tôi một ly nước và tôi đứng uống nước tại chỗ, trong khoang « bếp » của máy bay, trước hai phòng vệ sinh hai bên. Thì trời xui đất khiến ở đâu ra xuất hiện một nữ tiếp viên, tóc uốn quăn chấm gáy buông xõa, không búi tóc như những cô khác, cũng không đeo bảng tên, nói giọng Bắc, giáng cho tôi một câu lên đầu: « Lần sau « chị » đừng có lên đây! Đây là khu riêng biệt ! » Tại sao cô ấy không nạt đuổi những hành khách khác (người nước ngoài) cũng đi lên đi xuống cho đỡ chồn chân, « xin » nước uống, và nhất là để tìm một phòng vệ sinh còn trống, và không « xâm nhập » vào khu hạng nhất ? Sau đấy thì có hai cô tiếp viên khác đến xin lỗi tôi. Đi vào cũng mất thêm tiền, đi ra cũng mất thêm tiền, nhưng người ở vị trí thực hiện dịch vụ cho những người đã trả tiền dịch vụ quá đầy đủ lại tự phong cho mình cái quyền hoạch họe xấc xược.

Xã hội mình hiện tại chứa đựng nhiều mâu thuẫn, mà con người kêu khổ nhiều nhất là mỗi khi lâm bệnh hay bị tai nạn, các nhà thương quá tải, nằm hai người một giường, bệnh nhân chờ đợi rất lâu, hay chết oan vì cứu không kịp. Tôi có một đứa cháu gái mới quá 30 tuổi, chết dọc đường chở đến nhà thương vì một cơn xuyễn mà không có thuốc. Mỗi ngày báo chí đều đưa lên những trường hợp bệnh nặng, bệnh kỳ lạ và cảnh khổ cảnh nghèo đặc biệt, gia đình không có tiền thuốc thang chạy chữa, cùng những danh sách cho tiền của những người từ thiện, nêu danh hay ẩn danh. Cái tình đồng bào ấy của nước mình, tôi chưa thấy có báo nào ở châu Âu có cái mục ấy. Đất nước mình nó thế. MTT.

* Mức lương nhân viên trung bình là 2.082€/tháng, mức lương nhân viên cao cấp là 3.950€/tháng theo thống kê Insee năm 2010. Nhưng giá sinh hoạt tại những thành phố lớn cao hơn giá sinh hoạt tại các tỉnh nhỏ, thị trấn, vùng sâu vùng xa.   

Les commentaires sont fermés.