Skip to content

Du lịch làng nghề khá chậm chân

20/01/2014

Du lịch làng nghề khá chậm chân

© Mathilde Tuyết Trần, France 2014

Từ Bắc xuống Nam, chúng tôi đã đi thăm nhiều làng nghề đúc đồng, chạm bạc, làng hoa kiểng, gốm sứ, tơ lụa, làng thêu, đồ gỗ, khảm xà cừ, làm nón lá, sơn mài, làm tranh, làm giấy…nên có thể „mạo hiểm“ mà nói rằng, du lịch làng nghề chưa đáp ứng được mọi nỗ lực quảng cáo và còn là những thất vọng cho du khách.
Người làng nghề không hình dung ra được, quãng đường khách đã lặn lội đi qua, mọi chi phí tốn kém, để đến tận làng mình, cơ sở nghề của mình để thăm viếng, trò chuyện, mua hàng và đặt hàng, nên từ phong cách tiếp đón cho đến việc nhận hàng giao hàng đều gây lên nhiều sự thất vọng.
Du khách đi theo tua, có chương trình di chuyển và thăm viếng nhất định thì không đến làng nghề. Chỉ có những du khách như chúng tôi, đi thăm, đi tham khảo dài ngày, bị giới du lịch chuyên môn gọi là „khách lẻ“, thì mới lặn lội đi tìm làng nghề. Tìm, vì không tìm thì không biết đâu mà thuê xe đi đến. Muốn đi đến đâu chúng tôi đều phải tìm thông tin địa lý, hỏi thăm người này người nọ về địa điểm làng nghề trước. Có lẽ khái niệm „làng nghề“ không quen thuộc với dân chúng địa phương, vì gọi là „làng“ chứ thật ra đó là những gia đình, những cơ sở lẻ tẻ gần nhau, cùng sản xuất một món hàng giống nhau, nằm chen lẫn với nhà dân, với những ngành nghề khác. Những địa danh giới thiệu làng nghề trên các bài báo trên mạng đều chung chung, mơ hồ, thậm chí, nhiều khi đã đến tận nơi, hỏi trực tiếp dân địa phương cũng không ai biết. Thí dụ như tôi đi tìm làng đúc đồng Bằng Châu ở Bình Định. Khi đã mò đến tận Đập Đá, thị xã An Nhơn, hỏi làng đúc đồng Bằng Châu ở đâu thì không ai biết, phải vào một tiệm bán đồ đồng, họ chỉ đến một xưởng đúc gần đó, vào xưởng đúc hỏi thì mới biết đường một cách mơ hồ đến làng Bằng Châu.
Những người làng nghề bây giờ đã xây dựng nên nhiều cửa hàng trưng bày, giới thiệu sản phẩm để bán hàng. Họ bán những sản phẩm đã được sản xuất có tính cách ít nhiều „công nghiệp“, cố định, đại trà như một loạt đồ thờ cúng bằng đồng, tượng Phật ngồi, Phật đứng, một mẫu thêu với nhiều mầu sắc khác nhau, các bộ ấm chén, bình hoa giống nhau…Đó là một điều tích cực. Điểm làm cho du khách thất vọng là người làng nghề không còn chịu khó nhận hàng đặt với một số lượng ít, họ chỉ muốn làm nhiều lời nhiều, khiến cho khách nhanh chóng cảm thấy, mình lặn lội về đây mất công, người cung không cần người cầu. Người làng nghề chỉ muốn một món lợi to trước mắt, mà không thấy một „chiến lược“ phát triển lâu dài cho ngành nghề của mình, thiếu một cái nhìn xa và rộng. Cho nên, sự cố gắng của chính quyền địa phương và các công ty du lịch đưa khách về làng nghề bị chính người làng nghề vô tình phá vỡ.
Chưa khi nào tôi cảm thấy thất vọng như năm nay, sau nhiều năm, nhiều lần đi tìm thăm làng nghề trên khắp đất nước. Đến nỗi, chúng tôi phải có nhận xét là, làng nghề hoạt động tích cực nhất, gần với du khách nhất, chính là các con phố cổ Hà Nội, 36 phố phường Hà Nội với những nghề nghiệp khác nhau.
Chúng tôi đã chịu khó lặn lội đi thăm nhiều nơi đúc đồng trên quê hương, từ làng Đại Bái Bắc Ninh, làng Đồng Xâm Thái Bình, cho đến làng đúc đồng ở Bình Dương miền Nam, năm nay về thăm Phường Đúc ở Huế lần thứ hai. Nắng lên rất đẹp ở Huế năm nay trên phường Đúc, một không khí Huế khác hẳn những ngày mưa gió dầm dề lạnh lẽo lần trước. Cây cầu trước nhà ga Huế, năm trước còn là một công trường ngổn ngang gạch đá, năm nay đã được xây xong, to, rộng, đẹp khiến cho đường vào nhà ga Huế thêm hoành tráng, sang trọng. Từ nhà ga Huế đi vào đường Bùi Thị Xuân là vào một phần của Phường Đúc, nằm dọc theo suốt con đường, song song với dòng sông Hương, đến gần nhà máy xi măng Long Thọ, bên này bờ sông là Phường Đúc (bờ Nam), bên kia bờ sông là Kim Long (bờ Bắc), đứng trên đường Bùi Thị Xuân nhìn thấy tầu bè chạy trên sông Hương đang mùa nước xanh. Một phần khác của Phường Đúc hiện nay là khu vực chung quanh ga Huế, chùa Bảo Quốc cho đến gần chùa Từ Đàm. Phường Phường Đúc có một diện tích khá rộng lớn, 160 ha, nằm ở phía Tây Nam thành phố Huế, dân cư đông đúc với 11.218 nhân khẩu (thống kê năm 2012), nhiều cơ sở ngành nghề khác nhau, có chợ, có trường học. Không phải nhà nào ở Phường Đúc cũng là nhà đúc đồng, nên muốn đi tìm cơ sở đúc đồng phải nhìn cho kỹ từng nhà một, hay có khi phải đi vào „kiệt“ (ngõ, xóm) qua một lối đi chỉ rộng hơn 1 mét để vào các nhà phía bên trong. Các cửa hàng bày bán đồ đồng thường „dấu“ nghề, không chỉ cho khách biết nơi sản xuất, mua thì mua không mua thì thôi. Ở Huế, cũng như ở nhiều nơi khác, nhà sản xuất không thích nhận làm những sản phẩm thủ công với số lượng ít, họ chỉ muốn bán nhanh những sản phẩm đang có sẵn.
Các sản phẩm, hầu như của mọi ngành nghề thủ công ở Việt Nam hiện nay, có nhiều mức độ hoàn thiện khác nhau, và không đạt được mức tinh xảo 90%, sản phẩm nào cũng có một chút gì đó „làm chưa xong“, nhưng cũng giao cho khách, cũng bán. Đó là yếu điểm lớn nhất cần phải khắc phục để sản xuất và bán sản phẩm Việt Nam trên thị trường thế giới. Thí dụ như trong một khách sạn, những cánh cửa phòng bằng gỗ cao cấp của Việt Nam được đánh dấu bằng số, ba con số to tướng viết cẩu thả trên mặt cánh cửa phía trước, thế mà người thợ làm cửa không chùi sạch đi trước khi quét nước sơn bóng lên. Một cánh cửa như thế thì không thể được nhận bởi bất cứ người mua nào ở châu Âu, huống chi là tất cả cánh cửa của một khách sạn. Hay, các sản phẩm sành sứ như bình, lọ, chậu, voi…đều đứng khập khiễng, quần áo may không thẳng đường chỉ, méo mó vẹo vọ, khung tranh dán giấy trang trí chắp nối thế nào cũng xong, mẫu thêu của hai mảnh màn thì cái thiếu nụ, cái thiếu hoa, không đồng đều giống nhau… Yếu điểm thứ hai cũng gây thất vọng rất lớn cho khách đặ hàng là không bao giờ đúng hẹn thời gian giao hàng, hẹn một tuần, rồi hẹn lại một tháng, rồi hẹn thêm vài ngày nữa…, cuối cùng là chưa làm gì cả !
Trong cuốn „Une campagne au Tonkin“ (Một chiến dịch ở Tonkin) của bác sĩ quân y Charles-Édouard Hocquard, viết trong khoảng từ năm 1884 cho đến 1886,  1) ở trang 83, người bác sĩ này đã có một giải thích cho sự kiện không hoàn hảo nói trên khi ông nhận xét về một „công xưởng nhà nước“ của triều đình Huế (Cục bách tác), nơi có quyền bắt và trưng dụng nhân công:
„Ở Tonkin, ngược lại, người thợ nào đã thực hiện trong ngành nghề của mình một công việc đáng ghi nhận, sẽ bị người chủ cai trực tiếp báo cáo ngay với viên quan địa phương, viên quan này tức thời sẽ tâu báo lại với vua. Một ngày đẹp trời, theo sắc lệnh từ Huế ban xuống, người thợ khéo léo ấy bị bắt rời khỏi gia đình một cách tàn nhẫn và bị áp giải về kinh đô. Người ấy bị giam giữ trong một trong nhiều cung điện của vua, suốt cuộc đời còn lại phải làm việc cho triều đình, tiền trả công ít ỏi, lại còn được thưởng thêm bằng những ngọn roi. Người ta hiểu tại sao, với một phong cách đãi đằng như thế, những nghệ nhân miền Tonkin tìm mọi cách khéo léo để che dấu tài năng của mình…“
Có phải vì thế mà ông tổ phường đúc của Huế, ngài Nguyễn Văn Lương, là một nghệ nhân đúc đồng quê ở làng Đồng Xá, Siêu Loại (tỉnh Bắc Ninh ngày nay) bị áp giải về kinh đô Huế và truyền nghề lại nơi đây ? Rồi dâu, rể, con, cháu, chắt… của ông đã tỏa ra những nhánh rộng thành một làng nghề trải qua nhiều thế hệ.
Phường Đúc trong quá khứ hẳn phải là một nơi sản xuất quan trọng tất cả những gì bằng đồng cho triều đình nhà Nguyễn: đồ lễ nghi thờ cúng như chân đèn, lư đồng…, vật dụng sinh hoạt như tráp, hộp bút, khóa cửa, bản lề…vật dụng bếp núc như nồi, xoong, chảo, thau…, chuông đồng, chiêng đồng, vạc đồng, đỉnh đồng, tượng Phật, tượng người, binh khí như các khẩu thần công… Các tác phẩm bằng đồng như vạc đồng ở Đại Nội (1659-1684), chuông chùa Thiên Mụ (1710), 9 cửu đỉnh với 162 hình khắc chạm nổi đặt trước Thế Miếu (1835-1804), Cửu Vị Thần Công đặt trước Ngọ Môn (1803-1804), chuông chùa Diệu Đế (1846) là những di sản nghệ thuật văn hóa kiệt tác, độc đáo của dân tộc.
Tuy một số gia đình đúc đồng đã giải nghệ, theo nhiều nguồn tin hiện nay vẫn còn khoảng 50 – 60 cơ sở đúc đồng đang tích cực hoạt động trong 5 xóm đúc là Trường Đồng, Kinh Nhơn, Bổn Bộ, Giang Dinh, Giang Tiền, (còn được gọi là năm dãy thợ đúc), riêng hai xóm Kinh Nhơn và Bổn Bộ là hai làng nghề đúc đồng lớn và danh tiếng nhất hiện nay ở Huế.
Nếu không có người chỉ và thúc dục đi vào thì chắc tôi không dám „mạo hiểm“ đi vào một cái ngõ hẹp nằm giữa hai ngôi nhà, dắt vào cơ sở của ông Nguyễn Văn Tuệ phía bên trong. Sáng sớm trời còn mát, nhưng vào đến cơ sở thì „ấm“ hẳn, vì mọi người đang làm việc. Khác với ở châu Âu, ở đây, người thợ ngồi chồm hổm làm việc trên mặt đất, không có bàn, không có ghế, không có cửa, bốn phía lộng gió, nhà ở xây phía sau nơi dùng làm xưởng chế tạo, hướng ra bờ sông Hương. Trong bộ phận xưởng, người thì làm khuôn, người thì đang tạo hoa văn, khắc đồng trên tượng đã đúc, người thì đốt lửa xấy khuôn mẫu cho mau khô…, ồn ào, sinh động.
Ở một cơ sở đúc đồng tại Đập Đá, An Nhơn cũng thế, xưởng đúc bề bộn vật liệu, sản phẩm trải trên khắp nền nhà, ngoài việc đứng máy thì mọi khâu chế tạo sản phẩm đều được thực hiện trên mặt đất.
Ngành đúc đồng hiện nay chủ yếu là sản xuất đồ thờ cúng, tượng thờ, chuông chùa, chiêng, và một số rất ít sản phẩm mỹ nghệ như tranh đồng tứ quý, bình hoa, mặt đồng hồ, khung cửa sổ, bản lề…để bán cho người tiêu thụ trong nước, hoặc họ chỉ nhận những đơn đặt hàng rất đặc biệt như đúc tượng Trần Hưng Đạo cao 10,2m, nặng 21,6 tấn đặt tại công viên Vị Hoàng (Thành phố Nam Định), tượng Như Lai cao 4,3m đặt tại chùa Kim Thành – Plây Cu (Gia Lai), chuông Đại Hồng Chung cao 5,5m, đường kính 3,7m, nặng hơn 30 tấn…
Tuy đã gặp được vài nghệ nhân cần cù, chịu khó nhận làm những sản phẩm „lẻ“ theo nhu cầu của khách, nhưng tôi vẫn tiếc là phong cách tích cực đó còn quá ít ỏi trên bình diện cả nước. Mặc dù có người than rằng khủng hoảng kinh tế thế giới có ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam, nhưng mùa Tết này tôi vẫn thấy có một sự « sung túc » trong nước, như  có những tiệm may quần áo, tiệm bán hàng thêu, tiệm bán hàng kim chỉ ở Hà Nội, Quy Nhơn đuổi khách đi, không nhận hàng đặt , cũng không buồn bán, khách đi đường xa, đem tiền đến tận nhà cho họ, mà họ vẫn không cần, chảnh chẹ, thế mới hay. Ai dám bảo là ở Việt Nam sống khổ ?!
Đi thăm làng nghề có cái yên tâm là nhiều nghề chuyên môn, tuy đang phát triển đi xuống, nhưng vẫn còn được truyền lại qua nhiều thế hệ, chưa bị mai một, và có cái không yên tâm, là người làng nghề chưa nghĩ đến việc phát triển đi lên, còn tự giới hạn trên nhiều phương diện. MTT.

Les commentaires sont fermés.