Skip to content

Tưởng niệm 100 năm người lính Đông Dương 1914 – 2014

19/08/2014

Tưởng niệm 100 năm người lính Đông Dương 1914 – 2014 * ©Mathilde Tuyết Trần, France 2014

http://mttuyet.fr

Năm nay 2014 nhiều nơi, nhiều người, nhất là trên đất Pháp, tưởng niệm 100 năm trận Đại chiến thứ nhất 1914-1918. Năm 2039 mới là 100 năm trận Đại chiến thứ hai 1939-1945, nhưng có lẽ khi ấy tôi đã trở về với cát bụi, nên bài viết này tôi tưởng niệm những người lính Đông Dương (Việt Nam) trong cả hai trận đại chiến thế giới trên đất Pháp. Cũng trong nỗi lo rằng, nồi lửa Trung Đông với những hiện tượng nóng bỏng đang xảy ra từ ngay sau khi Thế Vận Hội mùa đông ở Sochi vừa chấm dứt ở Ukraine và Crimée có là bước đầu của tiến trình đại chiến thế giới lần thứ ba chăng.

Hai trận đại chiến vừa qua đã được đánh giá là những cuộc xung đột vũ trang to lớn và rộng lớn để giải quyết những mâu thuẫn về chính trị, những tham vọng làm bá chủ thế giới mà mục đích kinh tế không ngoài việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên, khai thác nguồn nhân lực rẻ trong sản xuất và bành trướng thị trường tiêu thụ. Mỗi lần, bản đồ thế giới đều được vẽ lại, phân chia lại. Qua trận đại chiến thứ nhất, các vương triều vua chúa, chế độ quân chủ bị sụp đổ, hay mất quyền lực cai trị trực tiếp. Qua trận đại chiến thứ hai, các đế quốc Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha…thành lập và phát triển từ thế kỷ thứ 17, mất quyền lực thuộc địa vào giữa thế kỷ hai mươi. Có thể nói, kể từ đầu thập niên 1990 một chính sách kinh tế chính trị mới mang tên « Toàn cầu hóa » được thực hiện. Sự đối lập giữa hai chủ nghĩa chính trị « tư bản – cộng sản » không còn cần thiết phải được đưa ra là lá bài chủ nữa, mà lá bài chủ mang một tên khác: « kinh tế thị trường », hay nói khác đi, chủ nghĩa kinh tế « Tân tự do » (Néoliberalisme), mà trong đó « tiền » là yếu tố quyết định. Đó là bối cảnh chính trị, xã hội và kinh tế của thời đại chúng ta, thời đại hậu chiến sau Đại chiến thế giới thứ hai.

Cùng trong sự tưởng niệm 100 năm người lính Đông Dương tại Pháp, tôi liên tưởng đến câu hỏi, người Việt Nam, những „Việt kiều“ (hai chữ thật đáng ghét) đầu tiên, di dân ra nước ngoài từ lúc nào ? Thời vua Tự Đức cai trị thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng, một con kiến cũng không lọt, vậy người Việt Nam đầu tiên chỉ có thể „xuất ngoại“ trong giai đoạn các thương thuyền Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Đức cập bến „Faifo“ (Hội An ngày nay) kể từ thế kỷ thứ 16. Các thuyền lênh đênh trên biển lâu ngày, dãi nắng dầm mưa, sóng to bão táp, ăn uống thiếu thốn kham khổ, bệnh tật… nên việc tất yếu là một số thủy thủ tử vong trên thuyền, trên đường di chuyển. Khi cập bến, các thương thuyền đều phải thâu dụng thêm người lao động làm mọi việc cần thiết trên thuyền để trở về bến xuất phát, vì thế sự kiện người Việt Nam có thể đã xuất cảng từ Hội An trong thời điểm ấy không phải là một việc không có thật.

Đến cuối thế kỷ thứ 18, trong giai đoạn lịch sử thời chúa Nguyễn Phúc Ánh tranh chấp với anh em tam kiệt nhà Nguyễn Tây Sơn với sự trợ giúp của Đức Giám mục Bá Đa Lộc (Mgr. Pigneau de Béhaine), các giáo sĩ và chủng sinh cũng có thể đã là những người Việt đầu tiên xuất ngoại sang những nước khác vì hoàn cảnh bắt buộc, bị săn đuổi, bắt giết.

Gần với thời đại chúng ta nhất là giai đoạn lịch sử thời đại chiến thế giới thứ nhất 1914-1918 và đại chiến thế giới thứ hai 1939-1945 người Việt đã bị chính phủ thuộc địa Pháp trưng dụng, chuyên chở sang Pháp để phục vụ cho chiến trường như làm tải thương, hậu cần, chế tạo vũ khí, quân dụng, thu dọn chiến trường, chiến đấu trực tiếp…

Những đợt di dân của người Việt Nam sau 1945 và sau 1975 khiến cho con số người Việt Nam sinh sống và định cư ở nước ngoài lên đến ước tính khoảng 4 triệu người, mà trong đó cộng đồng người Việt Nam sinh sống tại Pháp là một cộng đồng có truyền thống lâu đời nhất, và đông đảo. Nếu chỉ tính theo thời điểm của Đại chiến thứ nhất thì cộng đồng người Việt Nam tại Pháp đã có từ 100 năm nay, và đã sản sinh ra đến đời thứ tư, thứ năm (cháu và chắt).

Đại chiến thứ nhất, bắt đầu với sự kiện ám sát vợ chồng Công tước kế vị của đế quốc Áo-Hung là François-Ferdinand tại Sarajevo vào ngày 28.06.1914, làm cho mâu thuẫn gay gắt ở khu vực nồi lửa Trung Đông trở thành vết dầu loang khắp thế giới, gây một thiệt hại về nhân mạng trên chiến trường cũng như những vết thương thời hậu chiến sau đó rất nặng nề. Không thể có được một con số chính xác hoàn toàn, lịch sử tạm thời đúc kết một sự thiệt hại lên đến 19 triệu người chết (9,7 triệu quân đội các bên và 8,8 triệu thường dân).

Đại chiến thứ hai kết thúc năm 1945 với một sự thiệt hại còn khủng khiếp hơn là có 60 triệu người chết.

Nước Đức, vua Phổ Wilhelm II. thuộc dòng họ Hohenzoller, tuyên chiến với Pháp, thời Đệ tam cộng hòa với tổng thống Raymond Poincaré, vào ngày 03.08.1914. Trong suốt 4 năm chiến tranh, nước Pháp là nước bị tàn phá và thiệt hại nặng nề nhất, trải qua 5 chiến trường khốc liệt đều thuộc về phía Đông Bắc, vùng Picardie, nơi tiến quân của quân Đức: chiến trường vùng sông Marne (1914), chiến trận vùng Verdun (1916), chiến trận vùng sông Somme (1916), chiến trận khu vực Chemin des Dames (1917) và trận chiến vùng sông Matz-Montdidier (1918).

Sự thiệt hại nhân mạng của Pháp tại các chiến trường quá lớn nên cho dù không tin tưởng và sợ bị « bắn ngược » chính phủ bảo hộ Pháp cũng phải bắt lính thuộc địa từ châu Phi và Đông Dương đem cung ứng cho chiến trường Pháp. Trong bốn năm chiến tranh nước Pháp đã đem sang 43.430 lính bộ binh Đông Dương (tirailleurs annamites et tonkinois) làm dịch vụ chiến trường và chuyên chở. Họ được trang bị với vũ khí thô sơ, một cây súng mỗi lần bắn một viên đạn xong là phải nạp đạn. Trong số này có 1.123 người bị quân địch bắn chết trên chiến trường. Thêm 48.981 lính Đông Dương nữa được cung ứng cho như cầu của chính phủ bảo hộ, họ làm việc trong những nhà máy, thay thế cho những người Pháp đã phải ra chiến trường. Vóc dáng nhỏ bé, ốm yếu của người lính Đông Dương che dấu một sự khéo léo, thông minh và dai sức, bền bỉ trong mọi dịch vụ. 10)

Theo một tư liệu của đại tá Maurice Rives với tựa đề là «Les militaires indochinois en Europe (1914-1918)» có những thông tin rõ ràng hơn, thì khi Đức tuyên chiến với Pháp mở đầu trận Đệ nhất thế chiến khốc liệt, quân đội Đông Dương với lính bản xứ gồm có 23.930 người, trong đó có 13.373 lính đánh bộ, ngoài ra thành phần lính dự bị có 29.064 người, trong đó có 23.936 lính bản xứ. Tướng Joffre cho rằng người Đông Dương không đủ thể lực để đánh trận ở châu Âu. Nhưng đến năm 1915 khi lực lượng quân đội Pháp đã bị thiệt hại nặng nề trên các chiến trường châu Âu, chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương mới cung ứng nhân sự cho đại chiến thứ nhất. Từ năm 1915 cho đến 1918, Pháp đã huy động, chiêu mộ tổng cộng 93.411 người, trong đó có 43.430 lính chiến đấu, 9.019 y tá, 5.339 người phục dịch và hành chánh, 48.981 lính thợ chuyên nghiệp như thợ máy, thợ sơn, thợ da, thợ làm thuốc súng, vũ khí, lái xe, bác sĩ, kỹ sư, tải thương… và không chuyên nghiệp. Tính theo gốc tích, thì có 24% người miền Bắc (Tonkin), 32% người miền Trung (Annam), 22% người miền Nam (Cochinchine) và 22% người Cam Bốt.

Ngân quỹ Đông Dương cũng đóng góp 541 triệu quan Pháp cho chi phí chiến tranh của Pháp. Thêm vào đó, 175 khẩu đại bác lên đường đi Marseille, hàng chục tấn hàng hóa các loại cũng được chuyển đi cung ứng cho chiến trường tại Pháp, thậm chí xe xích lô (pousse-pousse) cũng được gởi sang Pháp để tải thương. Nhân sự và vật liệu được chuyển qua đường châu Phi như Cameroune, Djibouti, Madagascar, Égypte…để sau đó đi tiếp về cảng Marseille. Đoạn đường di chuyển cực khổ đó đã làm cho một số người chết vì bệnh tật trước khi đặt chân lên đất Pháp. Chính phủ bảo hộ tỏ ra quan tâm đến thành phần lính Đông Dương, cấp phát quần áo mùa đông, may cho «cai quan» (cái quần) không có nút, chỉ có giây thắt, phân phát trầu, cau, ớt và thành lập một xưởng làm nước mắm trên đất Pháp.

Những người lính Đông Dương được các đồng đội «les poilus» 11) công nhận là dũng cảm, gan dạ, bình tĩnh và biết tổ chức. Nhiều người được thưởng huân chương «thập giá chiến tranh» và được xem là «anh hùng» của nước Pháp trong đại chiến thứ nhất. Đa số hy sinh trong lãng quên, xương cốt của họ còn ở Đài kỷ niệm Douaumont (L’ossuaire de Douaumont), hay ở nghĩa trang Géré và d’Udonista ở Albanie. 12)

Trong năm đầu của Đại chiến thế giới lần thứ hai (1939) bộ trưởng bộ Thuộc địa khi ấy là Georges Mandel dự tính sẽ điều động 300.000 dân thuộc địa tham chiến trên đất Pháp. Sự kiện Pháp đã nhanh chóng đầu hàng Đức Quốc Xã năm 1940 đã đình chỉ luôn dự tính này. Tuy thế cho đến tháng 4 năm 1940, bộ Thuộc địa Pháp đã đưa sang Pháp 7.000 lính đánh bộ Đông Dương và gần 20.000 người lính thợ gọi là «ouvriers non spécialisés (ONS)», được quản lý bởi cơ quan MOI (Main d’Oeuvre Indigène).

Đây là đợt «di dân» lớn thứ hai trong quá trình thành hình thành phần bây giờ gọi là «Việt kiều» tại Pháp. Những người Việt bị bắt lính này được gom trong các trại ở Hải Phòng, Vinh, Thanh Hóa, Saigon…, cạo trọc đầu để tránh chí rận, mặc đồng phục tương tự như tù nhân, và được chở bằng tầu thủy từ ba cảng Hải Phòng, Đà Nẵng (Tourane) và Sàigon sang Pháp. Đa số là thanh niên trong các gia đình nông dân nghèo, không biết đọc biết viết (les nha-quê), con trai nhà giầu thì «mua» người khác đi thay mình, hoặc chú, bác, anh trong gia đình họ hàng đi thay, hoặc con trai của những viên chức người Việt phải đi để «làm gương», nhưng thực tế là chính quyền bảo hộ cần người biết tiếng Việt và tiếng Pháp trong công việc quản lý và điều hành. Những người trai trẻ có trình độ học vấn và biết tiếng Pháp được sử dụng vào việc này.

Chuyến tầu di dân đầu tiên khởi hành ngày 12.10.1939 và chuyến cuối cùng vào ngày 04.05.1940, tổng cộng có 14 chuyến tàu chuyên chở 10.650 An nam mít (les annamites, người miền Trung), 6.900 Tông ki noa (les tonkinois, người miền Bắc) và 1.800 Cô xanh xi noa (les cochinchinois, người miền Nam). Đoạn đường di chuyển trên biển dài từ 23 đến 45 ngày, cảng đến là Marseille, địa điểm là hai trại tập trung đặt tên là «Dông Pháp» và Joffre thuộc khu vực nhà tù «prison des Baumettes de Marseille». Một số rất ít, khoảng độ 100 người Việt đã lợi dụng những lần tầu ghé các cảng trên tuyến đường đi đã đào ngũ. Số phận họ ra sao ? Không ai biết !

Những người lính thợ này, từ những làng quê ở Việt Nam, từ khi ra đi đã nghĩ rằng sẽ không có ngày trở về quê hương nữa, sẽ bỏ xác ở chiến trường, hoặc họ hẹn với gia đình sau hai năm sẽ trở về với một tương lai sáng lạn hơn, bị bắt buộc phải làm quen với phong cách làm việc kỹ nghệ dây chuyền, làm theo ca « ba lần tám» (trois huit), mỗi ca là 8 tiếng lao động, lúc ban đầu lương công nhân hạng một và hạng hai chỉ có 1 quan đến 1,25 quan một ngày. Lương của những người Việt có nhiệm vụ quản lý và thông dịch từ 3,5 quan đến 20 quan ngày.

Từ năm 1939 cho đến tháng 6.1940 con số lính thợ được chia ra lao động trong 26 phân xưởng nằm ở phía Tây, Trung tâm và miền Nam nước Pháp (Bourges, Angoulême, Bergerac, Oissel, Rennes…) chuyên sản xuất các sản phẩm kỹ nghệ phục vụ chiến tranh như chế tạo thuốc súng, đạn dược, bom, chất hóa học…những công việc nguy hiểm nên họ thường bị cháy mặt, cháy hai bàn tay, và cháy trên thân người. Họ làm quen với một môi trường sống hoàn toàn khác lạ, khí hậu khác lạ, làm quen với một khung cảnh sống về hành chánh và chính trị của một «mẫu quốc» mà họ chưa bao giờ thấy. Họ trải qua những cơn đói, cơn lạnh, nhớ nhà nhớ quê, chịu đựng những sự kỳ thị chủng tộc, hắt hủi của người dân sở tại, chịu đựng đời sống kham khổ, cực nhọc và họ cảm thấy họ là những người bị bóc lột hơn là được bảo hộ, tuy là chính quyền hành chánh Pháp đều khen họ, những người «An nam mít» là những người thích nghi nhanh, thông minh, cần cù, làm việc có kết quả và tiến bộ nhanh trong tay nghề. Nhưng sự ý thức chính trị của tầng lớp «Việt kiều» này nhanh chóng đứng về bên những người «cùng khổ» không còn là một điều đáng ngạc nhiên, sau này họ đứng trong hàng ngũ CGT và đảng Cộng Sản Pháp đấu tranh để đòi cải thiện điều kiện sống và ủng hộ Việt Minh, Hồ Chí Minh, đòi lại chủ quyền, độc lập.

Năm 1940 khi quân đội Đức Quốc Xã tiếp quản nước Pháp, một số lớn lính thợ ở trong vùng «tự do» phía Nam, chung quanh những thành phố Agde, Bergerac, Sorgues và Marseille, nên từ tháng 1 đến tháng 7 năm 1941 có 13 chuyến tàu chuyên chở được 4.434 lính thợ, ưu tiên cho những người đến Pháp trước nhất và những người đau ốm, trở về Hải Phòng theo đường ngang qua eo biển Gibraltar và mũi Cap.

Chuyến cuối cùng chở lính thợ Đông Dương trở về là tháng 9 năm 1941. Phần còn lại, gọi là GMICR (Groupements de Militaires Indigènes Coloniaux Rapatriables), phải tiếp tục ở lại Pháp, trong nhiều trại (camp) tập trung (Sorgue, Bergerac, Toulouse, Saint-Medard en Jalle, Venissieux, Bias, Creysse…), sống trong những điều kiện rất cực khổ, ngủ trên phản gỗ, không được sưởi ấm, thiếu quần áo, giầy dép, thiếu ăn trầm trọng, nhất là trong suốt những tháng lạnh dài lê thê của mùa đông, họ phải tự may quần áo từ chăn mền cũ, đẽo guốc gỗ để đi, có khi đói quá phải đi ăn trộm gà, vịt, cừu…rồi bị bắt, bị tù đày. Một số lớn lính thợ (khoảng 900 người) chết vì lao phổi, sưng phổi…vì điều kiện sống cực khổ như thế (tính đến 01.01.1946). Kể từ mùa hè 1942 họ được phân chia làm việc trong các lãnh vực «hậu cần» cho chính phủ Pháp, dưới sự chiếm đóng của Pháp, 32% đốn củi rừng, làm than rừng, 15% làm ruộng, trồng lúa nước, làm muối, 9% làm trong kỹ nghệ, 26% quản lý, dịch vụ trong các trại, và 300 người làm trong nhà máy dệt ở Lyon.

Nếu ngày nay nước Pháp tự hào về gạo ngon của vùng Camargue, thì họ ít khi nói ra, nhắc nhở đến, đó là công lao của binh đoàn thứ 25 lính thợ Đông Dương (Việt Nam) đã thành công trong việc xây dựng ruộng lúa nước cho nước Pháp. Năm 1942 chính phủ Pháp dành 250 hectares đất cho việc làm ruộng lúa nước, mỗi năm lính thợ người Việt thu hoạch được 10 tấn gạo trên một hectare và cho đến năm 1945 sản lượng đã đạt được 12.500 tấn gạo trên một hectare. Gần khu vực Camargue, ở Salin-de-Giraud lính thợ người Việt làm muối, đó là những người khổ nhất, vì trong điều kiện làm việc vất vả thiếu thốn, thiếu thốn giầy ủng, có khi họ đi chân trần làm muối nên rất đau đớn vì muối ăn da ăn thịt, lòi cả xương.

Từ năm 1946 cho đến 1952, khoảng 14 ngàn lính thợ còn lại được trở về Việt Nam, theo sự nhận định của Bộ Thuộc địa Paris vào tháng 11.1944, là họ trở về với một tinh thần chống Pháp, theo Cộng sản và đòi độc lập, kèm theo một sự hãnh diện là họ đã có những trải nghiệm và kinh nghiệm nghề nghiệp mới mẻ trên chính đất Pháp. Trong số này có khoảng 1 ngàn người lính thợ ở lại nơi họ đang sinh sống, đa số ở lại miền Nam nước Pháp. 13) 14)

Nhìn lại số phận và hoàn cảnh sinh sống khó khăn cực khổ của những người bị gọi là « Việt kiều » ngày xưa và bây giờ, tôi không thể chấp nhận cái nhìn mỉa mai và khinh miệt của một số người khi sử dụng hai chữ «Việt kiều», bị đóng con dấu ấn «tha phương cầu thực, mất gốc», một cái nhìn thật bội ơn bạc bẽo, trong khi những người Việt Nam ở xa quê hương lại thương nhớ quê hương hơn nhiều người khác! *) MTT

https://i1.wp.com/mttuyet.fr/wp-content/uploads/2014/03/Haiphong-Gare-.jpg

 Chú thích:

* Trích chương « Xã hội tiêu thụ và di dân » trong cuốn sách « Xã hội tiêu thụ trong Toàn cầu hóa » của Mathilde Tuyết Trần, sẽ ra mắt vào cuối năm 2014.

10) Theo Les Annamites dans la Grande Guerre – L’Histoire par l’Image 1643-1945

11) “Les poilus” (Những người lông lá) ý chỉ quân lính trong thời đại chiến thứ nhất ngày đêm ăn ngủ chiến đấu trong các dãy địa đạo, chiến hào, không thể có điều kiện vệ sinh, nên râu tóc mọc bù xù, hôi hám, dơ bẩn.

12) Xin mời xem bài viết „Đỗ Hữu Vị trên đất Picardie“ của Mathilde Tuyết Trần, trang trên mạng www.mttuyet.fr

13) Viết theo luận án thạc sĩ sử học của Liêm-Khê TRAN-NU (Lugern) „Les travailleurs Indochinois en France de 1939 à 1948“, Université Paris X – Nanterre, 1987-88

14) Xin mời xem chương „Bác Minh và ngôi làng bỏ quên C.A.F.I. Tại Ste. Livrade sur Lot“ trong Dấu Xưa – Tản mạn lịch sử nhà Nguyễn của Mathilde Tuyết Trần, xuất bản năm 2010 tại Pháp, ISBN 978-2-9536096-0-8, và của nhà Xuất bản Trẻ, xuất bản tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2011, tái bản lần thứ nhất năm 2012, ISBN 978-604-1-00169-5.

Một bài viết về điều kiện sống của những người lính thợ Đông Dương trong Đại chiến thế giới thứ hai ở vùng Camargue: « Le bagne des Indochinois en Camargue... » đăng ngày 12.01.2010. Các hình ảnh trong bài là trại sinh sống (camp) của lính thợ Đông Dương ở khu ruộng muối Salins de Giraud, hiện nay đã bị bỏ hoang.

Les commentaires sont fermés.