Skip to content

Phan Châu Trinh & Nguyễn Ái Quốc – Những năm tháng hoạt động tại Pháp 1917-1923

27/03/2017
MTT đăng lại bài viết sau đây với lời chú thích của chính tác giả Ngô Tòng Văn, đã đăng trên tạp chí Hồn Việt:
Đúng là giữa cụ Phan Châu Trinh và Nguyễn Aí Quốc có những bất đồng trong chủ trương yêu nước.
Cụ Phan cực lực phê phán quan lại Nam Triều, chủ trương « ỷ Pháp cầu tiến bộ » (dựa vào Pháp để mong được tiến bộ), tranh đấu cho dân chủ tự do, nhưng không đả động gì tới ách thống trị của thực dân Pháp.
Ngược lại, Nguyễn Aí Quốc đặt ĐỘC LẬP trước TỰ DO : Pháp đang thống trị Việt Nam, vấn đề cấp bách hàng đầu là đấu tranh để giành lại chủ quyền dân tộc. Con người ai cũng có nhu cầu ĂN và MẶC.  Nhưng khi bụng đang đói thì phải kiếm cái ăn trước đã ! Nam Triều là bù nhìn của thực dân, có đáng gì mà chống ? Còn thực dân thì làm sao có dân chủ dân quyền ? Đông Kinh Nghĩa thục chỉ hoạt động trên lĩnh vực giáo dục, nhưng cũng bị Pháp đóng cửa, Ban giám hiệu (cụ Lương Văn Can và cụ Nguyễn Quyền) bị bắt, bị đày… Do đó Nguyễn Aí Quốc không tán thành chủ trương của cụ Phan. NTV
Phan Châu Trinh & Nguyễn Ái Quốc – Những năm tháng hoạt động tại Pháp 1917-1923
Ngô Tòng Văn

Cách nay tròn 105 năm, vào các ngày 9-4 và 5-6-1911, cụ Phan Châu Trinh và Nguyễn Tất Thành lần lượt rời Sài Gòn sang Pháp. Trong khi cụ Phan định cư tại Paris, Nguyễn Tất Thành tiếp tục bôn ba nhiều nơi. Không ở gần nhau, nhưng hai bác cháu vẫn thỉnh thoảng viết thư cho nhau. Mãi đến cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành mới sang Paris.

Giữa năm 1919, cụ Phan, luật sư Phan Văn Trường và Nguyễn Tất Thành nhân danh Nhóm những người Việt Nam yêu nước, cùng soạn 3 văn kiện (có nội dung cơ bản giống nhau): Việt Nam yêu cầu ca (chữ quốc ngữ), Việt Nam nhân dân thỉnh nguyện (chữ Hán) và Revendications du peuple Annamite (chữ Pháp) gửi cho các phái đoàn tham dự Hội nghị quốc tế Versailles.

Sau đó, từ tháng 7-1919 đến tháng 7-1921, Nguyễn Tất Thành (từ đây mang bí danh Nguyễn Ái Quốc) chuyển đến ở chung với hai cụ Phan trong căn hộ trên lầu 2 nhà số 6, Villa des Gobelins, quận 13, Paris.

Tuy ở chung nhà, song không phải lúc nào quan điểm chính trị của hai bác cháu cũng đồng nhất. Chẳng hạn, cụ Phan Châu Trinh tán thành chủ trương của Pháp bắt thanh niên Việt Nam vào lính và đưa sang mẫu quốc đánh nhau với Đức trong chiến tranh thế giới thứ I, còn Nguyễn Ái Quốc cực lực phản đối. Trong thư gửi thiếu tá Jules Roux, cụ Phan cho chủ trương đó “sẽ có lợi cho dân chúng cả hai bên”, làm cho “thanh niên của xứ này [Việt Nam] có dịp đổ máu và hy sinh thân xác họ bên xác lính Pháp ở Âu châu”, “có dịp để được thi thố tình cảm ngay thẳng của mình đến với nước Pháp trong hoàn cảnh đáng lo ngại hiện nay”(1). Ngược lại, Nguyễn Ái Quốc lên án việc đẩy thanh niên Việt Nam “đi phơi thây trên các bãi chiến trường châu Âu… để bảo vệ cho cái công lý và tự do mà chính họ không được hưởng một tí nào… để lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế của các cấp chỉ huy và lấy xương mình chạm nên những chiếc gậy của các ngài thống chế”(2).

Đặc biệt, từ khi Nguyễn Ái Quốc tiếp cận chủ nghĩa Mác – Lênin, gia nhập Đảng Xã hội (năm 1919) rồi vào Đảng Cộng sản Pháp (1920) thì lập trường chính trị của hai vị ngày càng xa nhau.

Từ cuối năm 1919, vì lý do sinh kế, cụ Phan xuống Pons làm nghề ảnh. Trong khi đó, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục ở lại Paris, dấn thân trên con đường đấu tranh giải phóng đất nước. Các báo cáo của Pháp cho chúng ta biết phần nào cuộc sống và hoạt động của Nguyễn Ái Quốc thời gian này:

“Bây giờ Quốc làm việc tại nhà, vẽ tranh trên quạt hoặc trên chụp đèn. Nhưng công việc này kiếm chẳng được bao nhiêu, ông ta sống một cách hết sức khốn khổ”(3).

“Đời sống vật chất của Quốc lúc này thật là khốn khổ. Tôi đã thấy tận mắt ông ta dùng bữa tối chỉ có một mẩu bánh mì (vì gạo lúc này rất đắt), vài miếng xúc xích và chút sữa”(4).

Ở một nơi lạnh lẽo như Paris, việc ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng rất cần thiết để tạo ra năng lượng duy trì sức khỏe.

Tuy nhiên, cuộc sống thiếu thốn không làm cho người thanh niên ấy suy giảm ý chí. Nguyễn Ái Quốc vẫn dành phần lớn thời gian và tâm huyết cho hoạt động yêu nước: họp Chi bộ Đảng vùng Seine, họp Ban Nghiên cứu thuộc địa (Nguyễn Ái Quốc là trưởng tiểu ban Đông Dương), họp Hội Liên hiệp thuộc địa (Nguyễn Ái Quốc là ủy viên Ban chấp hành), họp Ban biên tập báo Le Paria “diễn đàn của các dân tộc thuộc địa” (Nguyễn Ái Quốc là chủ nhiệm kiêm chủ bút), gặp gỡ trao đổi không chỉ với đồng bào mà còn với những nhà cách mạng các nước như Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Hoa, Ấn Độ, Ái Nhĩ Lan và các thuộc địa của Pháp ở châu Phi, như mật thám Désiré đã viết trong báo cáo ngày 9-4-1923: “Nơi ở của Nguyễn Ái Quốc đã trở thành nơi gặp gỡ những người hoạt động chính trị cộng sản ở các thuộc địa”(5).

Từ chỗ “chữ Pháp thì không biết nhiều” như mật thám Jean báo cáo ngày 3-11-1919(6), Nguyễn Ái Quốc tích cực tự luyện nói và viết ngôn ngữ này, nên chỉ sau một thời gian rất ngắn, đã có thể diễn thuyết trước công chúng(7) hay viết báo, soạn sách. Không chỉ viết cho Le Paria, Nguyễn Ái Quốc còn viết cho nhiều tờ báo tiến bộ khác như L’Humanité, Le Populaire, Le Libertaire, La Vie Ouvrière, La Revue Communiste, Le Journal du Peuple v.v… Tháng 3-1920, Nguyễn Ái Quốc viết xong tác phẩm Les opprimés (Những người bị áp bức). Khi một Việt kiều hỏi “lấy tiền đâu mà in sách?”, Nguyễn Ái Quốc cho biết sẽ tìm người chịu tạm ứng tiền để in sách: “Sau khi biết số tiền để in, tôi sẽ bán thân tôi cho họ như một người đầy tớ. Chả nhẽ tôi không biết đánh giày hay dọn bàn hay sao?”(8).

Thực dân Pháp cho nhiều mật thám theo dõi Nguyễn Ái Quốc mọi lúc mọi nơi. Khi Roland Hy hỏi: “Ông không sợ bị theo dõi, ông không sợ người ta có thể hãm hại ông?”, Nguyễn Ái Quốc trả lời: “Chẳng hề chi. Tôi làm chính trị thì tôi chẳng sợ chết, cũng chẳng sợ tù đày. Trong đời này, chúng ta sẽ chỉ chết có một lần, tại sao lại sợ?”(9). Một lần khác, phó quản Lâm trách Nguyễn Ái Quốc “có thái độ quá mạnh”, Nguyễn Ái Quốc trả lời: “Nói cho cùng, ai làm gì tôi? Lưu đày tôi ư? Hoặc chặt đầu tôi? Điều ấy có xảy đến, tôi cũng bất cần”(10).

Nguyễn Ái Quốc quả là người “uy vũ bất năng khuất, bần tiện bất năng di”.

Ngay từ năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã hình dung con đường giành độc lập cho dân tộc: “Để có cơ thắng lợi, một cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương phải có tính chất một cuộc khởi nghĩa quần chúng, chứ không phải một cuộc nổi loạn. Cuộc khởi nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng, nổ ra trong thành phố…”(11). Sau hai thập niên tích cực xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, cuộc khởi nghĩa tháng 8-1945 giành được thắng lợi, mở ra kỷ nguyên độc lập trong lịch sử Việt Nam.

Sau khi trở thành người Việt Nam cộng sản đầu tiên, Nguyễn Ái Quốc rất muốn lôi cuốn cụ Phan cùng đi trên con đường cách mạng của mình, nên rủ cụ Phan cùng tham dự một số sinh hoạt như buổi họp của chi bộ xã hội cách mạng (đã gia nhập Quốc tế thứ III) trước ngày 12-2-1921, buổi thảo luận về Bản tuyên bố của Ủy ban Nghiên cứu các vấn đề thuộc địa (thuộc Hội Liên hiệp thuộc địa) ngày 13-6-1921 v.v…

Cụ Phan không trở thành người cộng sản nhưng cụ tán thành lý tưởng của Đảng. Trong thư ngày 30-6-1922 gửi Ulysse Leriche, cán bộ của báo L’Humanité (sau Đại hội Tours, trở thành cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp), cụ Phan viết: “Mặc dầu tôi ở ngoài Đảng, nhưng tôi luôn đồng ý và tôn trọng những châm ngôn của Đảng rất là hợp lý, quảng đại và nhân đạo”(12).

Ngày 18-2-1922, cụ Phan viết thư khuyên Nguyễn Ái Quốc: “Tôi biết anh hấp thụ được cái chủ nghĩa của ông Mã Khắc Tư [Các Mác], ông Lý Ninh [Lênin]… Quả như anh tôn thờ lý thuyết của hai ông ấy thì anh nghe lời tôi và về [Việt Nam] quảng cáo cho quốc dân đồng bào ai nấy đều biết, có phải là cái phương pháp hay biết chừng nào!”(13).

Tuy nhiên, trong thực tiễn, cụ Phan vẫn giữ nguyên lập trường chính trị cố hữu của mình, trước sau như một.

Trong thư gửi luật sư Phan Văn Trường ngày 11-4-1923, cụ Phan giải thích: “Mất độc lập là một điều đau đớn, nhưng khi xét các nguyên nhân, ta phải thừa nhận là do chúng ta quá ngu si”. Như vậy, theo cụ Phan, ta mất nước chỉ vì chúng ta ngu si, lạc hậu, chứ không phải do thực dân Pháp có dã tâm xâm lược, thống trị và bóc lột nhân dân ta. “Vì vậy mà chúng ta phải chịu đựng đủ thứ, phải bỏ hết mọi ý thức hận thù [đối với thực dân Pháp], chúng ta nhờ người Âu châu làm thầy, chúng ta chấp nhận làm học trò”(14). Từ suy nghĩ đó, cụ Phan đề ra khẩu hiệu “Ỷ Pháp cầu tiến bộ” (dựa vào Pháp để cầu mong tiến bộ). Muốn dựa vào Pháp thì phải “cậy Pháp, không bài Pháp”. Cụ tuyên bố: “Chí của tôi là liên hiệp với Pháp”(15).

Do đó, trong các tác phẩm cũng như trong những lời phát biểu, cụ không bao giờ đề cập tới chuyện đánh đuổi thực dân Pháp để khôi phục nền độc lập(16). Cụ chỉ chống vua quan nhà Nguyễn, xin bỏ hẳn triều đình Huế. Trong cuộc tranh luận tối 19-12-1919 tại số 6, Villa des Gobelins, cụ Phan “yêu cầu nhà cầm quyền Pháp, yêu cầu chính phủ bảo hộ giúp chúng ta cải tiến càng nhanh càng tốt cách thức cai trị trên toàn cõi An Nam. Tại sao người ta lại không thể làm cho Trung kỳ và Bắc kỳ [hai xứ bảo hộ] những gì họ đã làm cho Nam kỳ [thuộc địa do Pháp trực tiếp cai trị]?… Không phải là áp dụng chế độ trực trị vào Trung kỳ và Bắc kỳ(17) mà là những cải cách đề ra sẽ không thay đổi hiện tình gì hết, nếu như các chức năng cai trị và tư pháp vẫn tiếp tục để cho người An Nam đảm nhận. Trong mỗi tỉnh hoặc nhiều tỉnh hợp lại, người ta thích có môt quan chức người Pháp đứng đầu bộ máy cai trị với tư cách là người thanh tra cố vấn, có nhiệm vụ dìu dắt quan chức An Nam trong việc quản lý công việc của mình”(18).

Ngoài việc cải tiến cách thức cai trị, cụ Phan xin Chính phủ Pháp thực hiện một số cải cách dân sinh, dân chủ. Chẳng hạn, tháng 8-1920, cụ xin Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Albert Sarraut:

“Xin ông cho người An Nam được tự do buôn bán, nghĩa là làm thương mại thẳng với người ngoại quốc…

Xin ông cho nâng cao trình độ học vấn hơn đối với dân An Nam…

Xin ông cho ân xá tất cả những chính trị phạm…”(19).

Một lần khác, cụ lại xin Albert Sarraut:

“Xin bỏ hẳn triều đình Huế…

Xin nhập cả 3 kỳ lại, lập ra một hoặc hai sở nghị viện và một nội các có trách nhiệm…

Xin cho người An Nam có quyền chánh trị, được bàn nói và hội họp tự do… Chữ tự do đây không phải là xin được rộng rãi bằng [người] Tây bên này [bên Pháp]…”(20).

Sarraut chỉ trả lời một cách ậm ừ cho qua chuyện, rồi chẳng làm gì hết. Giá như thực dân Pháp thực hiện một số cải cách theo yêu cầu của cụ Phan thì – theo cụ – “dân được yên nghiệp làm ăn, sĩ [sĩ phu] thì vui lòng giúp việc cho chính phủ, chỉ sợ người Pháp bỏ nước mà đi, còn ai toan mưu việc chống cự [người Pháp] nữa?”(21)

Cụ chủ trương hoạt động công khai, hợp pháp, như “tụ tập dân chúng đường đường chính chính, diễn thuyết, họp chí sĩ, khảo cứu chính trị thời thế, ăn to nói lớn, người và việc ai nấy đều thấy, cho nên xét nó rất dễ”(22). Cụ phản đối bạo động, vì theo cụ, “bạo động ắt thất bại và ắt chết”(23).

Trong thư gửi Nguyễn Ái Quốc ngày 18-2-1922, cụ nhận định các cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Pháp của nhân dân ta: “Khốn nỗi ở nước An Nam ta, từ ngày quan quân nước Pháp đem binh thuyền đến mà chinh phục mãi tới ngày nay, sĩ khí dân tình khởi sự chống lại chính phủ bảo hộ tiếp diễn liên miên, hết cuộc này đến cuộc khác, rốt cuộc đâu hoàn đó, chẳng nhúc nhích được chút nào”(24). Cụ tiếp tục giữ thái độ bi quan đó trong thư đề ngày 24-1-1925 gửi một học sinh tên Đông ở Bordeaux: “Các ông cách mạng ở Tàu, ở Nhật (…) chỉ có chủ nghĩa báo thù [đối với Pháp] mà thôi, có mấy anh thông minh, can đảm đâm đầu vào lửa, chết vô ích như lũ phù du, còn dân thì có lợi ích gì?”(25). Trong cuộc tranh luận tối 19-12-1919, cụ Phan hỏi Nguyễn Ái Quốc: “Anh muốn hai mươi triệu đồng bào ta phải làm gì khi trong tay không có vũ khí để chống lại những vũ khí khủng khiếp của người Âu? Tại sao chúng ta lại tự sát vô ích để chẳng đi đến một kết quả nào cả?… [Nếu] dân chúng Đông Dương, nhất là dân An Nam ở Bắc kỳ và Trung kỳ… sẽ phải dùng bạo lực… [thì] máu sẽ chảy, dân An Nam sẽ chết… Tôi không hề mong ước có sự cố khốn khổ đó”(26). Cụ kết luận: “Phải chăng tốt hơn là chúng ta đòi hỏi một cách mềm mỏng nhưng rất kiên quyết và với lòng kiên nhẫn, nhất là những quyền mà phẩm cách con người cho phép chúng ta đòi hỏi”(27).

Nguyễn Ái Quốc không chia sẻ sự tin tưởng đó của cụ Phan: “Dân An Nam đã chờ đợi những thay đổi từ 60 năm nay. Chính phủ [Pháp] không làm được gì đáng kể cho họ thỏa mãn. Nếu trong dân chúng có kẻ nào lên tiếng bày tỏ với nhà đương cục cao cấp những yêu cầu và nỗi thống khổ của họ và để kêu xin những phương thuốc chống đỡ nỗi khổ đau họ phải gánh chịu, thì người ta trả lời họ bằng nhà tù, bằng lưu đày và tử hình. Nếu Bác luôn tin cậy vào sự quan tâm của Chính phủ [Pháp] để cải tiến mọi tình trạng hiện nay thì Bác sẽ phải đợi đến muôn đời”(28).

Trong thư đề ngày 18-2-1922 gửi Nguyễn Ái Quốc, cụ Phan thừa nhận sự bất đồng trong nhận thức chính trị giữa hai bác cháu. Cụ viết: “Mãi đến bây giờ, anh cũng không ưa cái phương pháp “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” của tôi… Anh đã nói với anh Phan [Văn Trường] là tôi là hạng người hủ nho thủ cựu”. Cụ tự biết những hạn chế của mình: “Tôi đọc chữ Pháp bập bẹ nên không am tường hết sách vở ở cái đất văn minh này. Cái đó tôi đã thua anh xa lắm… Tôi tự ví tôi ngày nay như con ngựa đã hết nước tế… Bây giờ, thân tôi tợ chim lồng cá chậu. Vả lại, cây già thì gió dễ lay, người già thì trí lẫn, cảnh tôi như hoa sắp tàn”. Đồng thời cụ chơn thành khen ngợi người thanh niên yêu nước: “Thực tình, từ trước tới nay, tôi chẳng khinh thị anh mà tôi còn phục anh nữa là khác. Tôi thực tình có sao nói vậy, không ton hót anh tí nào… Anh như cây đương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hỏi, lý thuyết tinh thông”. Cụ khuyên Nguyễn Ái Quốc về nước hoạt động: “Theo ý tôi thì mình [chỉ Nguyễn Ái Quốc] mà học hỏi lý thuyết hay, phương pháp tốt, tóm thâu được chủ nghĩa, có chí mưu cầu quyền lợi cho quốc dân đồng bào thì… phải trở về [Việt Nam], ẩn náu trong thôn dã, hô hào quốc dân đồng bào, đồng tâm hiệp lực đánh đổ cường quyền áp chế, ắt là thành công”(29).

Sau khi Nguyễn Ái Quốc rời nước Pháp, trong thư viết cho một Việt kiều đề ngày 13-8-1923, cụ Phan nhận xét về Nguyễn Ái Quốc: “Lòng nó thì thực thương nòi thương nước… đã bỏ cha mẹ anh em bà con đi khắp cả Âu Mỹ, làm thuê làm mướn để ăn học, cam chịu khổ sở trăm đàng… Cái lòng nhiệt thành của nó, người An Nam ai ai cũng kính yêu, rất đỗi đến người Tây thuộc địa giận ghét nó… nhưng tôi chắc trong bụng họ cũng kính nể nó, chứ chẳng không”(30).

Đáp lại tấm lòng của cụ Phan, tuy không tán thành quan điểm chính trị của cụ, Nguyễn Ái Quốc vẫn giữ niềm quý mến đối với cụ.

Chẳng hạn, ngày 17-12-1919, mật thám Jean báo cáo: Nguyễn Ái Quốc “đã đến gặp tòa soạn báo L’Humanité và báo Le Populaire để tìm cho Phan Châu Trinh một chỗ làm thợ ảnh ở Paris”(31).

Khi cụ Phan qua đời, Nguyễn Ái Quốc còn ở Quảng Châu (Trung Quốc), nhưng theo dõi rất kỹ tang lễ của cụ. Trên tạp chí Inprekorr số 91, ngày 14-8-1926, Nguyễn Ái Quốc viết: “30.000 người An Nam ở khắp xứ Nam kỳ đã làm lễ an táng theo quốc lễ và khắp nước đã tổ chức lễ truy điệu nhà chí sĩ… Tất cả học sinh, sinh viên đều để tang cụ”(32). Trong một văn kiện khác, Nguyễn Ái Quốc viết: “Nam nữ học sinh ở nhiều trường, đặc biệt là ở Sài Gòn là nơi tổ chức đám tang, đã tuyên bố bãi khóa. 20.000 người đi theo linh cữu, mang biểu ngữ viết những khẩu hiệu có tính chất quốc gia chủ nghĩa. Người An Nam chưa hề được chứng kiến một việc to lớn như vậy bao giờ trong lịch sử”(33).

Trong cuốn Chiến thuật du kích viết trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Ái Quốc gợi ý lấy tên các nhà yêu nước đặt cho các đơn vị du kích. Nhà lãnh đạo Mặt trận Việt Minh không quên cụ Phan khi đề nghị cái tên “Đội du kích Phan Châu Trinh”(34).

Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945, giữa bộn bề công việc vì phải cùng lúc đối phó với thù trong giặc ngoài, nhưng vị Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn nhớ đến ngày giỗ của cụ Phan. Sách Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử chép: “[Năm 1946], tháng 3, ngày 22, [lúc] 8 giờ, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh báo cáo (…) về việc tổ chức kỷ niệm ngày mất của Phan Châu Trinh (ngày 24 tháng 3)”(35).

Đây là ngày giỗ lần thứ 20 của cụ Phan, nhưng là lần đầu tiên được tổ chức trong bối cảnh nước nhà vừa được giải phóng. Hẳn cụ Phan ngậm cười nơi chín suối, vì đối với một người đã hy sinh trọn đời cho Dân cho Nước như cụ thì không có gì mãn nguyện bằng thấy Đất nước giành được độc lập tự do. NTV

 

_____

 

(1) Phan Châu Trinh – Toàn tập, NXB Đà Nẵng, 2005, tập II, tr.343.

(2) Hồ Chí Minh – Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tập II, tr.23.

(3) Thu Trang, Nguyễn Ái Quốc tại Paris, NXB Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1989, tr.50.

(4) Thu Trang, Nguyễn Ái Quốc tại Paris, sđd, tr.108.

(5) Lê Thị Kinh, Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, NXB Đà Nẵng, 2003, tập II, tr.398.

(6) Thu Trang, Nguyễn Ái Quốc tại Paris, sđd, tr.70.

(7) Chẳng hạn, vào tối 14-1-1920, Nguyễn Ái Quốc thuyết trình bằng tiếng Pháp trước thanh niên tại số 3 đường Château (Thu Trang, Nguyễn Ái Quốc tại Paris, sđd, tr.95).

(8) Thu Trang, Nguyễn Ái Quốc tại Paris, sđd, tr.98.

(9) Thu Trang, Nguyễn Ái Quốc tại Paris, sđd, tr.146.

(10) Thu Trang, Nguyễn Ái Quốc tại Paris, sđd, tr.95.

(11) Hồ Chí Minh – Toàn tập, sđd, tập I, tr.69.

(12) Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925, NXB Văn Nghệ TP.Hồ Chí Minh, 2000, tr.202.

(13) Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925, sđd, tr.178.

(14) Phan Châu Trinh – Toàn tập, sđd, tập III, tr.192.

(15) Nguyễn Văn Dưỡng (biên soạn), Tuyển tập Phan Châu Trinh, NXB Đà Nẵng, 1995, tr.535.

(16) Trong thư đề ngày 13-5-1925 gửi hạ nghị sĩ Marius Moutet, cụ Phan viết: “Trước khi về [Việt Nam], tôi khẳng định với Ngài một lần nữa là vấn đề chủ quyền của nước Pháp ở Đông Dương là một vấn đề được toàn thể đồng bào tôi chấp nhận” (Lê Thị Kinh, Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, NXB Đà Nẵng, 2003, tập II, tr.506). Về lại Sài Gòn, cụ trả lời phỏng vấn của nhà báo Dejean de la Bâtie: “Cứ cho chúng ta được hưởng luật lệ như dân Pháp thì chúng ta sẽ không đòi hỏi gì hơn là sống dưới quyền của nước Pháp (…) Chúng ta đang ở dưới quyền của người Pháp. Đó là số phận do vũ khí đã định đoạt và chúng ta không làm gì được. Chống một sự đã rồi thì chẳng có ích gì” (Lê Thị Kinh, sđd, tập II, tr.537, 538).

(17) Trao đổi với phóng viên báo Écho Annamite ở Sài Gòn, cụ Phan nói hơi khác một tí: “Tôi đồng ý xóa bỏ nó [triều đình Huế] đi một cách hoàn toàn và đơn giản, và thay thế bằng sự cai trị trực tiếp của chính quyền bảo hộ Pháp” (báo Écho Annamite,17-7-1925, dẫn trong Lê Thị Kinh, Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, sđd, tập II, tr.541).

(18) Nguyễn Phan Quang, Thêm một số tư liệu về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc thời gian ở Pháp 1917-1923, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1988, tr.178, 179.

(19) Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925, sđd, tr.156.

(20) Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925, sđd, tr.161, 162.

(21) Nguyễn Văn Dưỡng (biên soạn), Tuyển tập Phan Châu Trinh, sđd, tr.355.

(22) Nguyễn Văn Dưỡng (biên soạn), Tuyển tập Phan Châu Trinh, sđd, tr.545.

(23) Nguyễn Văn Dưỡng (biên soạn), Tuyển tập Phan Châu Trinh, sđd, tr.544.

(24) Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925, sđd, tr.176.

(25) Phan Châu Trinh – Toàn tập, sđd, tập III, tr.213.

(26) Nguyễn Phan Quang, Thêm một số tư liệu về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc thời gian ở Pháp 1917-1923, sđd, tr.177, 180.

(27) Nguyễn Phan Quang, Thêm một số tư liệu về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc thời gian ở Pháp 1917-1923, sđd, tr.177.

(28) Nguyễn Phan Quang, Thêm một số tư liệu về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc thời gian ở Pháp 1917-1923, sđd, tr.180, 181.

(29) Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925, sđd, tr.177, 178.

(30) Lê Thị Kinh, Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, sđd, tập II, tr.408.

(31) Nguyễn Phan Quang, Thêm một số tư liệu về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc thời gian ở Pháp 1917-1923, sđd, tr.190.

(32) Hồ Chí Minh – Toàn tập, sđd, tập II, tr.231.

(33) Hồ Chí Minh – Toàn tập, sđd, tập III, tr.35.

(34) Hồ Chí Minh – Toàn tập, sđd, tập III, tr.471.

(35) Viện Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử, NXB Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1993, tập III, tr.169.

 

Publicités

Commentaires fermés