Skip to content

Phan Châu Trinh & Nguyễn Ái Quốc – Những năm tháng hoạt động tại Pháp 1917-1923

27/03/2017
MTT đăng lại bài viết sau đây với lời chú thích của chính tác giả Ngô Tòng Văn, đã đăng trên tạp chí Hồn Việt:
Đúng là giữa cụ Phan Châu Trinh và Nguyễn Aí Quốc có những bất đồng trong chủ trương yêu nước.
Cụ Phan cực lực phê phán quan lại Nam Triều, chủ trương « ỷ Pháp cầu tiến bộ » (dựa vào Pháp để mong được tiến bộ), tranh đấu cho dân chủ tự do, nhưng không đả động gì tới ách thống trị của thực dân Pháp.
Ngược lại, Nguyễn Aí Quốc đặt ĐỘC LẬP trước TỰ DO : Pháp đang thống trị Việt Nam, vấn đề cấp bách hàng đầu là đấu tranh để giành lại chủ quyền dân tộc. Con người ai cũng có nhu cầu ĂN và MẶC.  Nhưng khi bụng đang đói thì phải kiếm cái ăn trước đã ! Nam Triều là bù nhìn của thực dân, có đáng gì mà chống ? Còn thực dân thì làm sao có dân chủ dân quyền ? Đông Kinh Nghĩa thục chỉ hoạt động trên lĩnh vực giáo dục, nhưng cũng bị Pháp đóng cửa, Ban giám hiệu (cụ Lương Văn Can và cụ Nguyễn Quyền) bị bắt, bị đày… Do đó Nguyễn Aí Quốc không tán thành chủ trương của cụ Phan. NTV
Phan Châu Trinh & Nguyễn Ái Quốc – Những năm tháng hoạt động tại Pháp 1917-1923
Ngô Tòng Văn

Cách nay tròn 105 năm, vào các ngày 9-4 và 5-6-1911, cụ Phan Châu Trinh và Nguyễn Tất Thành lần lượt rời Sài Gòn sang Pháp. Trong khi cụ Phan định cư tại Paris, Nguyễn Tất Thành tiếp tục bôn ba nhiều nơi. Không ở gần nhau, nhưng hai bác cháu vẫn thỉnh thoảng viết thư cho nhau. Mãi đến cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành mới sang Paris.

Giữa năm 1919, cụ Phan, luật sư Phan Văn Trường và Nguyễn Tất Thành nhân danh Nhóm những người Việt Nam yêu nước, cùng soạn 3 văn kiện (có nội dung cơ bản giống nhau): Việt Nam yêu cầu ca (chữ quốc ngữ), Việt Nam nhân dân thỉnh nguyện (chữ Hán) và Revendications du peuple Annamite (chữ Pháp) gửi cho các phái đoàn tham dự Hội nghị quốc tế Versailles.

Sau đó, từ tháng 7-1919 đến tháng 7-1921, Nguyễn Tất Thành (từ đây mang bí danh Nguyễn Ái Quốc) chuyển đến ở chung với hai cụ Phan trong căn hộ trên lầu 2 nhà số 6, Villa des Gobelins, quận 13, Paris.

Tuy ở chung nhà, song không phải lúc nào quan điểm chính trị của hai bác cháu cũng đồng nhất. Chẳng hạn, cụ Phan Châu Trinh tán thành chủ trương của Pháp bắt thanh niên Việt Nam vào lính và đưa sang mẫu quốc đánh nhau với Đức trong chiến tranh thế giới thứ I, còn Nguyễn Ái Quốc cực lực phản đối. Trong thư gửi thiếu tá Jules Roux, cụ Phan cho chủ trương đó “sẽ có lợi cho dân chúng cả hai bên”, làm cho “thanh niên của xứ này [Việt Nam] có dịp đổ máu và hy sinh thân xác họ bên xác lính Pháp ở Âu châu”, “có dịp để được thi thố tình cảm ngay thẳng của mình đến với nước Pháp trong hoàn cảnh đáng lo ngại hiện nay”(1). Ngược lại, Nguyễn Ái Quốc lên án việc đẩy thanh niên Việt Nam “đi phơi thây trên các bãi chiến trường châu Âu… để bảo vệ cho cái công lý và tự do mà chính họ không được hưởng một tí nào… để lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế của các cấp chỉ huy và lấy xương mình chạm nên những chiếc gậy của các ngài thống chế”(2).

Đặc biệt, từ khi Nguyễn Ái Quốc tiếp cận chủ nghĩa Mác – Lênin, gia nhập Đảng Xã hội (năm 1919) rồi vào Đảng Cộng sản Pháp (1920) thì lập trường chính trị của hai vị ngày càng xa nhau.

Từ cuối năm 1919, vì lý do sinh kế, cụ Phan xuống Pons làm nghề ảnh. Trong khi đó, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục ở lại Paris, dấn thân trên con đường đấu tranh giải phóng đất nước. Các báo cáo của Pháp cho chúng ta biết phần nào cuộc sống và hoạt động của Nguyễn Ái Quốc thời gian này:

“Bây giờ Quốc làm việc tại nhà, vẽ tranh trên quạt hoặc trên chụp đèn. Nhưng công việc này kiếm chẳng được bao nhiêu, ông ta sống một cách hết sức khốn khổ”(3).

“Đời sống vật chất của Quốc lúc này thật là khốn khổ. Tôi đã thấy tận mắt ông ta dùng bữa tối chỉ có một mẩu bánh mì (vì gạo lúc này rất đắt), vài miếng xúc xích và chút sữa”(4).

Ở một nơi lạnh lẽo như Paris, việc ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng rất cần thiết để tạo ra năng lượng duy trì sức khỏe.

Tuy nhiên, cuộc sống thiếu thốn không làm cho người thanh niên ấy suy giảm ý chí. Nguyễn Ái Quốc vẫn dành phần lớn thời gian và tâm huyết cho hoạt động yêu nước: họp Chi bộ Đảng vùng Seine, họp Ban Nghiên cứu thuộc địa (Nguyễn Ái Quốc là trưởng tiểu ban Đông Dương), họp Hội Liên hiệp thuộc địa (Nguyễn Ái Quốc là ủy viên Ban chấp hành), họp Ban biên tập báo Le Paria “diễn đàn của các dân tộc thuộc địa” (Nguyễn Ái Quốc là chủ nhiệm kiêm chủ bút), gặp gỡ trao đổi không chỉ với đồng bào mà còn với những nhà cách mạng các nước như Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Hoa, Ấn Độ, Ái Nhĩ Lan và các thuộc địa của Pháp ở châu Phi, như mật thám Désiré đã viết trong báo cáo ngày 9-4-1923: “Nơi ở của Nguyễn Ái Quốc đã trở thành nơi gặp gỡ những người hoạt động chính trị cộng sản ở các thuộc địa”(5).

Từ chỗ “chữ Pháp thì không biết nhiều” như mật thám Jean báo cáo ngày 3-11-1919(6), Nguyễn Ái Quốc tích cực tự luyện nói và viết ngôn ngữ này, nên chỉ sau một thời gian rất ngắn, đã có thể diễn thuyết trước công chúng(7) hay viết báo, soạn sách. Không chỉ viết cho Le Paria, Nguyễn Ái Quốc còn viết cho nhiều tờ báo tiến bộ khác như L’Humanité, Le Populaire, Le Libertaire, La Vie Ouvrière, La Revue Communiste, Le Journal du Peuple v.v… Tháng 3-1920, Nguyễn Ái Quốc viết xong tác phẩm Les opprimés (Những người bị áp bức). Khi một Việt kiều hỏi “lấy tiền đâu mà in sách?”, Nguyễn Ái Quốc cho biết sẽ tìm người chịu tạm ứng tiền để in sách: “Sau khi biết số tiền để in, tôi sẽ bán thân tôi cho họ như một người đầy tớ. Chả nhẽ tôi không biết đánh giày hay dọn bàn hay sao?”(8).

Thực dân Pháp cho nhiều mật thám theo dõi Nguyễn Ái Quốc mọi lúc mọi nơi. Khi Roland Hy hỏi: “Ông không sợ bị theo dõi, ông không sợ người ta có thể hãm hại ông?”, Nguyễn Ái Quốc trả lời: “Chẳng hề chi. Tôi làm chính trị thì tôi chẳng sợ chết, cũng chẳng sợ tù đày. Trong đời này, chúng ta sẽ chỉ chết có một lần, tại sao lại sợ?”(9). Một lần khác, phó quản Lâm trách Nguyễn Ái Quốc “có thái độ quá mạnh”, Nguyễn Ái Quốc trả lời: “Nói cho cùng, ai làm gì tôi? Lưu đày tôi ư? Hoặc chặt đầu tôi? Điều ấy có xảy đến, tôi cũng bất cần”(10).

Nguyễn Ái Quốc quả là người “uy vũ bất năng khuất, bần tiện bất năng di”.

Ngay từ năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã hình dung con đường giành độc lập cho dân tộc: “Để có cơ thắng lợi, một cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương phải có tính chất một cuộc khởi nghĩa quần chúng, chứ không phải một cuộc nổi loạn. Cuộc khởi nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng, nổ ra trong thành phố…”(11). Sau hai thập niên tích cực xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, cuộc khởi nghĩa tháng 8-1945 giành được thắng lợi, mở ra kỷ nguyên độc lập trong lịch sử Việt Nam.

Sau khi trở thành người Việt Nam cộng sản đầu tiên, Nguyễn Ái Quốc rất muốn lôi cuốn cụ Phan cùng đi trên con đường cách mạng của mình, nên rủ cụ Phan cùng tham dự một số sinh hoạt như buổi họp của chi bộ xã hội cách mạng (đã gia nhập Quốc tế thứ III) trước ngày 12-2-1921, buổi thảo luận về Bản tuyên bố của Ủy ban Nghiên cứu các vấn đề thuộc địa (thuộc Hội Liên hiệp thuộc địa) ngày 13-6-1921 v.v…

Cụ Phan không trở thành người cộng sản nhưng cụ tán thành lý tưởng của Đảng. Trong thư ngày 30-6-1922 gửi Ulysse Leriche, cán bộ của báo L’Humanité (sau Đại hội Tours, trở thành cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp), cụ Phan viết: “Mặc dầu tôi ở ngoài Đảng, nhưng tôi luôn đồng ý và tôn trọng những châm ngôn của Đảng rất là hợp lý, quảng đại và nhân đạo”(12).

Ngày 18-2-1922, cụ Phan viết thư khuyên Nguyễn Ái Quốc: “Tôi biết anh hấp thụ được cái chủ nghĩa của ông Mã Khắc Tư [Các Mác], ông Lý Ninh [Lênin]… Quả như anh tôn thờ lý thuyết của hai ông ấy thì anh nghe lời tôi và về [Việt Nam] quảng cáo cho quốc dân đồng bào ai nấy đều biết, có phải là cái phương pháp hay biết chừng nào!”(13).

Tuy nhiên, trong thực tiễn, cụ Phan vẫn giữ nguyên lập trường chính trị cố hữu của mình, trước sau như một.

Trong thư gửi luật sư Phan Văn Trường ngày 11-4-1923, cụ Phan giải thích: “Mất độc lập là một điều đau đớn, nhưng khi xét các nguyên nhân, ta phải thừa nhận là do chúng ta quá ngu si”. Như vậy, theo cụ Phan, ta mất nước chỉ vì chúng ta ngu si, lạc hậu, chứ không phải do thực dân Pháp có dã tâm xâm lược, thống trị và bóc lột nhân dân ta. “Vì vậy mà chúng ta phải chịu đựng đủ thứ, phải bỏ hết mọi ý thức hận thù [đối với thực dân Pháp], chúng ta nhờ người Âu châu làm thầy, chúng ta chấp nhận làm học trò”(14). Từ suy nghĩ đó, cụ Phan đề ra khẩu hiệu “Ỷ Pháp cầu tiến bộ” (dựa vào Pháp để cầu mong tiến bộ). Muốn dựa vào Pháp thì phải “cậy Pháp, không bài Pháp”. Cụ tuyên bố: “Chí của tôi là liên hiệp với Pháp”(15).

Do đó, trong các tác phẩm cũng như trong những lời phát biểu, cụ không bao giờ đề cập tới chuyện đánh đuổi thực dân Pháp để khôi phục nền độc lập(16). Cụ chỉ chống vua quan nhà Nguyễn, xin bỏ hẳn triều đình Huế. Trong cuộc tranh luận tối 19-12-1919 tại số 6, Villa des Gobelins, cụ Phan “yêu cầu nhà cầm quyền Pháp, yêu cầu chính phủ bảo hộ giúp chúng ta cải tiến càng nhanh càng tốt cách thức cai trị trên toàn cõi An Nam. Tại sao người ta lại không thể làm cho Trung kỳ và Bắc kỳ [hai xứ bảo hộ] những gì họ đã làm cho Nam kỳ [thuộc địa do Pháp trực tiếp cai trị]?… Không phải là áp dụng chế độ trực trị vào Trung kỳ và Bắc kỳ(17) mà là những cải cách đề ra sẽ không thay đổi hiện tình gì hết, nếu như các chức năng cai trị và tư pháp vẫn tiếp tục để cho người An Nam đảm nhận. Trong mỗi tỉnh hoặc nhiều tỉnh hợp lại, người ta thích có môt quan chức người Pháp đứng đầu bộ máy cai trị với tư cách là người thanh tra cố vấn, có nhiệm vụ dìu dắt quan chức An Nam trong việc quản lý công việc của mình”(18).

Ngoài việc cải tiến cách thức cai trị, cụ Phan xin Chính phủ Pháp thực hiện một số cải cách dân sinh, dân chủ. Chẳng hạn, tháng 8-1920, cụ xin Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Albert Sarraut:

“Xin ông cho người An Nam được tự do buôn bán, nghĩa là làm thương mại thẳng với người ngoại quốc…

Xin ông cho nâng cao trình độ học vấn hơn đối với dân An Nam…

Xin ông cho ân xá tất cả những chính trị phạm…”(19).

Một lần khác, cụ lại xin Albert Sarraut:

“Xin bỏ hẳn triều đình Huế…

Xin nhập cả 3 kỳ lại, lập ra một hoặc hai sở nghị viện và một nội các có trách nhiệm…

Xin cho người An Nam có quyền chánh trị, được bàn nói và hội họp tự do… Chữ tự do đây không phải là xin được rộng rãi bằng [người] Tây bên này [bên Pháp]…”(20).

Sarraut chỉ trả lời một cách ậm ừ cho qua chuyện, rồi chẳng làm gì hết. Giá như thực dân Pháp thực hiện một số cải cách theo yêu cầu của cụ Phan thì – theo cụ – “dân được yên nghiệp làm ăn, sĩ [sĩ phu] thì vui lòng giúp việc cho chính phủ, chỉ sợ người Pháp bỏ nước mà đi, còn ai toan mưu việc chống cự [người Pháp] nữa?”(21)

Cụ chủ trương hoạt động công khai, hợp pháp, như “tụ tập dân chúng đường đường chính chính, diễn thuyết, họp chí sĩ, khảo cứu chính trị thời thế, ăn to nói lớn, người và việc ai nấy đều thấy, cho nên xét nó rất dễ”(22). Cụ phản đối bạo động, vì theo cụ, “bạo động ắt thất bại và ắt chết”(23).

Trong thư gửi Nguyễn Ái Quốc ngày 18-2-1922, cụ nhận định các cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Pháp của nhân dân ta: “Khốn nỗi ở nước An Nam ta, từ ngày quan quân nước Pháp đem binh thuyền đến mà chinh phục mãi tới ngày nay, sĩ khí dân tình khởi sự chống lại chính phủ bảo hộ tiếp diễn liên miên, hết cuộc này đến cuộc khác, rốt cuộc đâu hoàn đó, chẳng nhúc nhích được chút nào”(24). Cụ tiếp tục giữ thái độ bi quan đó trong thư đề ngày 24-1-1925 gửi một học sinh tên Đông ở Bordeaux: “Các ông cách mạng ở Tàu, ở Nhật (…) chỉ có chủ nghĩa báo thù [đối với Pháp] mà thôi, có mấy anh thông minh, can đảm đâm đầu vào lửa, chết vô ích như lũ phù du, còn dân thì có lợi ích gì?”(25). Trong cuộc tranh luận tối 19-12-1919, cụ Phan hỏi Nguyễn Ái Quốc: “Anh muốn hai mươi triệu đồng bào ta phải làm gì khi trong tay không có vũ khí để chống lại những vũ khí khủng khiếp của người Âu? Tại sao chúng ta lại tự sát vô ích để chẳng đi đến một kết quả nào cả?… [Nếu] dân chúng Đông Dương, nhất là dân An Nam ở Bắc kỳ và Trung kỳ… sẽ phải dùng bạo lực… [thì] máu sẽ chảy, dân An Nam sẽ chết… Tôi không hề mong ước có sự cố khốn khổ đó”(26). Cụ kết luận: “Phải chăng tốt hơn là chúng ta đòi hỏi một cách mềm mỏng nhưng rất kiên quyết và với lòng kiên nhẫn, nhất là những quyền mà phẩm cách con người cho phép chúng ta đòi hỏi”(27).

Nguyễn Ái Quốc không chia sẻ sự tin tưởng đó của cụ Phan: “Dân An Nam đã chờ đợi những thay đổi từ 60 năm nay. Chính phủ [Pháp] không làm được gì đáng kể cho họ thỏa mãn. Nếu trong dân chúng có kẻ nào lên tiếng bày tỏ với nhà đương cục cao cấp những yêu cầu và nỗi thống khổ của họ và để kêu xin những phương thuốc chống đỡ nỗi khổ đau họ phải gánh chịu, thì người ta trả lời họ bằng nhà tù, bằng lưu đày và tử hình. Nếu Bác luôn tin cậy vào sự quan tâm của Chính phủ [Pháp] để cải tiến mọi tình trạng hiện nay thì Bác sẽ phải đợi đến muôn đời”(28).

Trong thư đề ngày 18-2-1922 gửi Nguyễn Ái Quốc, cụ Phan thừa nhận sự bất đồng trong nhận thức chính trị giữa hai bác cháu. Cụ viết: “Mãi đến bây giờ, anh cũng không ưa cái phương pháp “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” của tôi… Anh đã nói với anh Phan [Văn Trường] là tôi là hạng người hủ nho thủ cựu”. Cụ tự biết những hạn chế của mình: “Tôi đọc chữ Pháp bập bẹ nên không am tường hết sách vở ở cái đất văn minh này. Cái đó tôi đã thua anh xa lắm… Tôi tự ví tôi ngày nay như con ngựa đã hết nước tế… Bây giờ, thân tôi tợ chim lồng cá chậu. Vả lại, cây già thì gió dễ lay, người già thì trí lẫn, cảnh tôi như hoa sắp tàn”. Đồng thời cụ chơn thành khen ngợi người thanh niên yêu nước: “Thực tình, từ trước tới nay, tôi chẳng khinh thị anh mà tôi còn phục anh nữa là khác. Tôi thực tình có sao nói vậy, không ton hót anh tí nào… Anh như cây đương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hỏi, lý thuyết tinh thông”. Cụ khuyên Nguyễn Ái Quốc về nước hoạt động: “Theo ý tôi thì mình [chỉ Nguyễn Ái Quốc] mà học hỏi lý thuyết hay, phương pháp tốt, tóm thâu được chủ nghĩa, có chí mưu cầu quyền lợi cho quốc dân đồng bào thì… phải trở về [Việt Nam], ẩn náu trong thôn dã, hô hào quốc dân đồng bào, đồng tâm hiệp lực đánh đổ cường quyền áp chế, ắt là thành công”(29).

Sau khi Nguyễn Ái Quốc rời nước Pháp, trong thư viết cho một Việt kiều đề ngày 13-8-1923, cụ Phan nhận xét về Nguyễn Ái Quốc: “Lòng nó thì thực thương nòi thương nước… đã bỏ cha mẹ anh em bà con đi khắp cả Âu Mỹ, làm thuê làm mướn để ăn học, cam chịu khổ sở trăm đàng… Cái lòng nhiệt thành của nó, người An Nam ai ai cũng kính yêu, rất đỗi đến người Tây thuộc địa giận ghét nó… nhưng tôi chắc trong bụng họ cũng kính nể nó, chứ chẳng không”(30).

Đáp lại tấm lòng của cụ Phan, tuy không tán thành quan điểm chính trị của cụ, Nguyễn Ái Quốc vẫn giữ niềm quý mến đối với cụ.

Chẳng hạn, ngày 17-12-1919, mật thám Jean báo cáo: Nguyễn Ái Quốc “đã đến gặp tòa soạn báo L’Humanité và báo Le Populaire để tìm cho Phan Châu Trinh một chỗ làm thợ ảnh ở Paris”(31).

Khi cụ Phan qua đời, Nguyễn Ái Quốc còn ở Quảng Châu (Trung Quốc), nhưng theo dõi rất kỹ tang lễ của cụ. Trên tạp chí Inprekorr số 91, ngày 14-8-1926, Nguyễn Ái Quốc viết: “30.000 người An Nam ở khắp xứ Nam kỳ đã làm lễ an táng theo quốc lễ và khắp nước đã tổ chức lễ truy điệu nhà chí sĩ… Tất cả học sinh, sinh viên đều để tang cụ”(32). Trong một văn kiện khác, Nguyễn Ái Quốc viết: “Nam nữ học sinh ở nhiều trường, đặc biệt là ở Sài Gòn là nơi tổ chức đám tang, đã tuyên bố bãi khóa. 20.000 người đi theo linh cữu, mang biểu ngữ viết những khẩu hiệu có tính chất quốc gia chủ nghĩa. Người An Nam chưa hề được chứng kiến một việc to lớn như vậy bao giờ trong lịch sử”(33).

Trong cuốn Chiến thuật du kích viết trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Ái Quốc gợi ý lấy tên các nhà yêu nước đặt cho các đơn vị du kích. Nhà lãnh đạo Mặt trận Việt Minh không quên cụ Phan khi đề nghị cái tên “Đội du kích Phan Châu Trinh”(34).

Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945, giữa bộn bề công việc vì phải cùng lúc đối phó với thù trong giặc ngoài, nhưng vị Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn nhớ đến ngày giỗ của cụ Phan. Sách Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử chép: “[Năm 1946], tháng 3, ngày 22, [lúc] 8 giờ, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh báo cáo (…) về việc tổ chức kỷ niệm ngày mất của Phan Châu Trinh (ngày 24 tháng 3)”(35).

Đây là ngày giỗ lần thứ 20 của cụ Phan, nhưng là lần đầu tiên được tổ chức trong bối cảnh nước nhà vừa được giải phóng. Hẳn cụ Phan ngậm cười nơi chín suối, vì đối với một người đã hy sinh trọn đời cho Dân cho Nước như cụ thì không có gì mãn nguyện bằng thấy Đất nước giành được độc lập tự do. NTV

 

_____

 

(1) Phan Châu Trinh – Toàn tập, NXB Đà Nẵng, 2005, tập II, tr.343.

(2) Hồ Chí Minh – Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tập II, tr.23.

(3) Thu Trang, Nguyễn Ái Quốc tại Paris, NXB Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1989, tr.50.

(4) Thu Trang, Nguyễn Ái Quốc tại Paris, sđd, tr.108.

(5) Lê Thị Kinh, Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, NXB Đà Nẵng, 2003, tập II, tr.398.

(6) Thu Trang, Nguyễn Ái Quốc tại Paris, sđd, tr.70.

(7) Chẳng hạn, vào tối 14-1-1920, Nguyễn Ái Quốc thuyết trình bằng tiếng Pháp trước thanh niên tại số 3 đường Château (Thu Trang, Nguyễn Ái Quốc tại Paris, sđd, tr.95).

(8) Thu Trang, Nguyễn Ái Quốc tại Paris, sđd, tr.98.

(9) Thu Trang, Nguyễn Ái Quốc tại Paris, sđd, tr.146.

(10) Thu Trang, Nguyễn Ái Quốc tại Paris, sđd, tr.95.

(11) Hồ Chí Minh – Toàn tập, sđd, tập I, tr.69.

(12) Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925, NXB Văn Nghệ TP.Hồ Chí Minh, 2000, tr.202.

(13) Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925, sđd, tr.178.

(14) Phan Châu Trinh – Toàn tập, sđd, tập III, tr.192.

(15) Nguyễn Văn Dưỡng (biên soạn), Tuyển tập Phan Châu Trinh, NXB Đà Nẵng, 1995, tr.535.

(16) Trong thư đề ngày 13-5-1925 gửi hạ nghị sĩ Marius Moutet, cụ Phan viết: “Trước khi về [Việt Nam], tôi khẳng định với Ngài một lần nữa là vấn đề chủ quyền của nước Pháp ở Đông Dương là một vấn đề được toàn thể đồng bào tôi chấp nhận” (Lê Thị Kinh, Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, NXB Đà Nẵng, 2003, tập II, tr.506). Về lại Sài Gòn, cụ trả lời phỏng vấn của nhà báo Dejean de la Bâtie: “Cứ cho chúng ta được hưởng luật lệ như dân Pháp thì chúng ta sẽ không đòi hỏi gì hơn là sống dưới quyền của nước Pháp (…) Chúng ta đang ở dưới quyền của người Pháp. Đó là số phận do vũ khí đã định đoạt và chúng ta không làm gì được. Chống một sự đã rồi thì chẳng có ích gì” (Lê Thị Kinh, sđd, tập II, tr.537, 538).

(17) Trao đổi với phóng viên báo Écho Annamite ở Sài Gòn, cụ Phan nói hơi khác một tí: “Tôi đồng ý xóa bỏ nó [triều đình Huế] đi một cách hoàn toàn và đơn giản, và thay thế bằng sự cai trị trực tiếp của chính quyền bảo hộ Pháp” (báo Écho Annamite,17-7-1925, dẫn trong Lê Thị Kinh, Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, sđd, tập II, tr.541).

(18) Nguyễn Phan Quang, Thêm một số tư liệu về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc thời gian ở Pháp 1917-1923, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1988, tr.178, 179.

(19) Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925, sđd, tr.156.

(20) Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925, sđd, tr.161, 162.

(21) Nguyễn Văn Dưỡng (biên soạn), Tuyển tập Phan Châu Trinh, sđd, tr.355.

(22) Nguyễn Văn Dưỡng (biên soạn), Tuyển tập Phan Châu Trinh, sđd, tr.545.

(23) Nguyễn Văn Dưỡng (biên soạn), Tuyển tập Phan Châu Trinh, sđd, tr.544.

(24) Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925, sđd, tr.176.

(25) Phan Châu Trinh – Toàn tập, sđd, tập III, tr.213.

(26) Nguyễn Phan Quang, Thêm một số tư liệu về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc thời gian ở Pháp 1917-1923, sđd, tr.177, 180.

(27) Nguyễn Phan Quang, Thêm một số tư liệu về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc thời gian ở Pháp 1917-1923, sđd, tr.177.

(28) Nguyễn Phan Quang, Thêm một số tư liệu về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc thời gian ở Pháp 1917-1923, sđd, tr.180, 181.

(29) Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925, sđd, tr.177, 178.

(30) Lê Thị Kinh, Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, sđd, tập II, tr.408.

(31) Nguyễn Phan Quang, Thêm một số tư liệu về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc thời gian ở Pháp 1917-1923, sđd, tr.190.

(32) Hồ Chí Minh – Toàn tập, sđd, tập II, tr.231.

(33) Hồ Chí Minh – Toàn tập, sđd, tập III, tr.35.

(34) Hồ Chí Minh – Toàn tập, sđd, tập III, tr.471.

(35) Viện Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử, NXB Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1993, tập III, tr.169.

 

Cầu Mống Sài Gòn – Mathilde Tuyết Trần, France 2017

26/03/2017

Đầu đường Pasteur một chiều, bên cạnh là Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam – Photo MTT

Cầu Mống Sài Gòn – Mathilde Tuyết Trần, France 2017

Con đường Pasteur chạy dài từ chân cầu Mống một chiều thẳng tắp cho đến đường Trần Quốc Toản, thế mà tôi « không biết » ! Kỷ niệm thuở nhỏ của tôi chỉ làm cho tôi nhớ có một khúc đường Pasteur, từ đại lộ Lê Lợi lên thẳng đến ngang Hồ con rùa, chỗ có trường Trần Quý Cáp cũ, đi ngang qua vườn hoa Dinh Độc Lập. Từ đường Hàm Nghi xe chạy lên cầu Khánh Hội, để qua bên quận 7 Phú Mỹ Hưng,  đoạn đường này thay đổi nhiều quá khiến cho tôi bỡ ngỡ không nhận ra, cũng như ngạc nhiên thấy phía tay phải có một cái cầu mầu xanh như ngọc mà không nhớ nó tên gì. Chồng tôi giục đi đến chỗ ấy xem hàng ngày, ngày nọ qua ngày kia đến sốt cả ruột, Một hôm ăn sáng xong, nghĩ là sáng sớm trời mát, tôi « dắt » ông ấy đi xem cái cầu mầu xanh. Mà tôi lại quên đường ! Đi nhầm đường, vì anh taxi trẻ quá cũng không biết cách chạy. Đến lúc xuống xe đi bộ một quãng thì tôi mới hiểu là phải bảo anh tài chạy đến Ngân hàng quốc gia cũ, từ đường Hàm Nghi rẽ sát tay phải vào là đúng chóc, tội vạ gì đi lòng vòng cho mất công tốn tiền. Đến cái cầu mang tên là cầu Mống, ngày xưa đây có một cái chợ gọi là chợ cầu Mống tấp nập đông vui, và ai được mang tên là dân anh chị chợ cầu Mống thì chẳng có thua kém gì dân anh chị chợ cầu Ông Lãnh, bắt đầu con đường Pasteur mà tôi lại quên ! Phải nói, lúc nhỏ, tôi đâu có được đi chợ, đó là công việc của chị Cúc, rồi đến bà Tư lùn, chạy ra chợ cho mau rồi chạy về, không cà kê dê ngỗng, hễ đi chợ lâu là má tôi sốt ruột, đi ra đi vào má tôi lẩm bẩm, quái, sao nó đi đâu lâu thế, rồi về nhà thế nào cũng bị mắng cho một trận. Thời ấy, dân anh chị « chơi » nhau bằng dao, đâm người như nghóe, thế nên má tôi chỉ lo « mình » vô tội nhỡ bị vạ lây.

Đứng ở chân cầu Mống, tôi ngạc nhiên vì sự đổi thay của nó. Cây cầu Mống hiện ra rất đẹp, được bảo quản rất tốt, sơn mầu xanh ngọc bích như mới. Câu cầu được đặt trên hai bệ bê tông ở hai đầu, xây theo hình cầu thang cách điệu lên cao.  Bệ chân cầu được sơn mới, nhưng những con người ngu xuẩn đã vẽ bậy lên tường những hình ảnh vô nghĩa phản cảm. Cả những đám rác còn lại trên cầu chứng tỏ nơi đây là chỗ chiếm ngự của người buôn bán hàng rong, chỗ ăn vặt của người trẻ, ăn chỗ nào xả rác chỗ đó, vì cây cầu hiện nay chỉ được dùng cho người đi bộ, không có xe hơi chạy qua cũng chẳng có xe hai bánh. Bao giờ thì người Việt Nam mới ý thức được việc mình xả rác ra để cho người khác hốt !

Ba cây cầu cổ lịch sử bằng sắt hiện nay còn sót lại ở Saigon, Huế, Hà Nội đều do kiến trúc sư Gustav Eiffel thiết kế, cùng thời với việc xây dựng tháp Eiifel ở thủ đô Paris 1887-1889, mà hiện nay tháp Eiffel đã trở thành một biểu tượng của nước Pháp. Cầu Mống, lớn tuổi nhất, được người Pháp xây dựng năm 1893-1894, sau đó tới cầu Trường Tiền (Huế) xây dựng trong hai năm 1897-1899, rồi cuổi cùng đến cầu Long Biên (Hà Nội) 1898-1902. Cầu Mống bắc ngang qua con kênh đào tên là Bến Nghé, thông với sông Sài Gòn, bây giờ nối liền quận 1 với quận 4, dài 128 mét, rộng 5,2 mét, hoàn toàn bằng sắt, thiết kế rất mỹ thuật của thế kỷ thứ 19, do công ty vận chuyển hàng hải Messageries Maritimes xây dựng. Người Nam nói trại ra thành « Cầu móng », hiện nay biển để viết tên « Cầu móng ». Thực ra, vì cây cầu Mống có kích thước nhỏ, chỉ bắc ngang qua một con kênh, nên chỉ có một mống, trong khi cầu Trường Tiền Huế dài hơn, 401,10 mét, gồm 6 nhịp dầm thép hình bán nguyệt, gọi là sáu mống cầu. Nhưng ai hơi đâu tranh cãi Móng hay Mống cho mất công !

May thay, trong giai đoạn làm đường đại lộ Đông-Tây và đường hầm sông Thủ Thiêm, người ta đã tháo gỡ chiếc cầu, không bỏ đi bán sắt vụn, mà lại lắp ráp lại theo nguyên bản, sơn mới mầu xanh ngọc bích. Sài Gòn phải cảm ơn người nào đó đã giữ lại chiếc cầu cổ nhất nước cho những đời sau.

Chồng tôi hỉ hả xem được chiếc cầu cổ của Pháp, tuy vẫn hậm hực về rác rưởi trên cầu và những sự bôi bác dơ bẩn. Lúc chúng tôi đến thăm cầu thì người ta đang làm một hệ thống thoát nước thải cho thành phố bớt ngập lụt ngay bên cạnh cây cầu Mống. Một đôi vợ chồng trẻ mới cưới cũng đang chụp ảnh trên cầu làm kỷ niệm. Hóa ra còn có người biết giá trị của chiếc cầu, một bảo vật. MTT

Cầu Mống sơn mầu xanh ngọc bích – Photo MTT

Chụp ảnh cưới trên cầu Mống giữa rác rưởi và vẽ bậy…..Photo MTT

Dưới chân cầu Mống – Photo MTT

Cầu Mống được làm hoàn toàn bằng sắt như cầu Long Biên, cầu Trường Tiền – Photo MTT

Hôn nhau tình tứ trên cầu – Photo MTT

Nỗi đau thế hệ

31/12/2016

Nỗi đau thế hệ – ©Mathilde Tuyet Tran, France 2016

„Con hơn cha là nhà có phúc“, tiền nhân của chúng ta đã có những nhận định xác đáng về sự tiến triển của xã hội. Xã hội phải phát triển, tạo dựng môi trường cho cá nhân phát triển, cá nhân phát triển cuốn theo cơn lốc làm cho xã hội phát triển. Trong cái chung có cái riêng, nhiều cái riêng gộp lại thành cái chung. Trong một xã hội kìm hãm mọi sự phát triển của cá nhân thì xã hội đó không thể phát triển được, có khuynh hướng lụn bại. Điều này, chẳng cần những người gọi là chuyên gia xã hội học phân tích, mà „mắt thường“ cũng nhìn thấy và đánh giá được.
Có gì đâu mà khó hiểu, khi thế hệ con mình, nói chung, lại sống trong một hoàn cảnh, một môi trường xã hội tệ hại hơn thế hệ của mình. Thất nghiệp ở châu Âu, một tình trạng chung cho cả những xã hội châu Âu, là nguyên do của nhiều nỗi đau thế hệ.
Từ tình trạng thất nghiệp đẻ ra nhiều vấn đề mà những bậc cha mẹ, thiếu đoàn kết xã hội, riêng lẻ, không có một phương cách nào để cứu vãn tình thế, chỉ biết nhìn đám trẻ lụn bại dần. Từ thất nghiệp, sinh ra bệnh hoạn, phá hủy sức khỏe, thay đổi tính tình, thay đổi nhân cách: cáu gắt, bực tức, nóng giận hay u buồn, trầm cảm, dễ chịu biến thành khó chịu, hiền lành biến thành hung dữ… Từ thất nghiệp sinh ra tị nạnh, ghen ghét những người „hơn“ mình, thậm chí ghen ghét với đấng sinh thành ra mình.
Từ thất nghiệp, sinh ra nhiều mặc cảm vì người có việc, „được chọn“, người không có việc, „không được chọn“ vào làm việc. Từ thất nghiệp, mất tự tin trong đời sống tình cảm cá nhân, không lấy vợ được, không lấy chồng được, không đẻ con, đẻ con ra lấy gì nuôi ? Từ thất nghiệp, không có một đời sống an bình, bấp bênh, thậm chí không có nhà ở, không có „tiêu thụ“. Mỗi vấn đề cá nhân gộp lại thành những vấn đề xã hội về lao động, sức khỏe, dân số, tiêu thụ…cả đến bất an, lay chuyển hòa bình xã hội.
Trước kia, chỉ có những công việc rất đơn giản được tự động hóa. Dần dà, máy móc tự động ngày càng phát triển để thay thế sức người trong dây chuyền sản xuất. Tự động hóa càng cao, „có máy làm hết mà“, thì con người càng mất công ăn việc làm. Tầng lớp công nhân bị thu nhỏ lại. Những việc đơn giản như quét đường cũng không còn bằng sức người, có máy thổi lá, máy hốt lá, máy nghiền lá ! Trong các siêu thị châu Âu, những người thiếu ý thức, cho rằng mình „tiến bộ“ hơn người đi mua sắm khác, họ dùng máy của siêu thị cung cấp để tự „tính tiền“ lấy cho mỗi một món hàng họ mua, mà rồi còn bị kiểm soát lại một lần nữa xem họ có „ăn gian“ hay không, hay trả tiền qua các két tự động: khách hàng làm hết phần việc của người nhân viên thu ngân, thế mà họ không nhận ra là tự họ „tiêu diệt“ công việc cho người khác.
Trong các xã hội châu Âu, tiếng nói của các đảng cực hữu đánh vào tầng lớp này như một con dao hai lưỡi: phải đuổi những người nước ngoài ra vì họ đến để „ăn cắp“ công ăn việc làm của người sở tại, và, người thất nghiệp là người lười biếng, ăn bám trợ cấp xã hội 400 euros/tháng mà không chịu đi làm. Như thể, họ có thể tạo ra một xã hội thuần chủng là có ngay công ăn việc làm cho tất cả mọi người, thật là một điều hoang tưởng, nhưng những luận điệu như thế dễ câu những người suy nghĩ đơn giản.
Trong khi đó, các thế lực chóp bu xã hội dùng mọi cách để đánh lạc hướng suy nghĩ của người dân. Họ mở những mặt trận bên lề, thí dụ như giảm mức trợ cấp sức khỏe để « cứu » ngân sách chi của chính phủ trong lãnh vực y tế, hay tung hỏa mù với hàng ngàn vấn đề phụ thuộc khác, thí dụ như đi học mặc đồng phục cho trẻ con nhà giầu có, thuận hay chống. Đánh xuống, đánh người yếu kém sống nhờ vào trợ cấp xã hội dễ hơn nhiều lần đánh lên chóp bu, vì họ thiếu điều kiện chống đỡ. Vừa cho một ít tiền sống qua ngày, vừa đánh phủ đầu bằng mọi hình thức kiểm soát, gây mặc cảm, đám chóp bu giữ vững „an bình xã hội“, không thì nổi loạn, „chúng nó“ làm cách mạng, đánh lên ! Người nghèo bao giờ cũng chiếm số đông, và khoảng cách giầu nghèo không ai là không thấy. Bằng một cách nào đó, người đã nghèo lại còn nghiện một thứ gì, thuốc lá, rượu, ma túy…nghiện để quên đi thực tế !
Thêm vào đó, trên bình diện triết lý song song với hiện tượng kinh tế toàn cầu hóa, xã hội châu Âu lý tưởng hóa phong trào „Cá Nhân“ với hiện tượng „68“ làm cho mỗi người cắt dần những mối quan hệ xã hội cần thiết cho sự sống còn, làm cho tàn phá thêm, chia rẽ thêm một cách „vô hình“, không nhận ra. Mỗi người, trở thành một „ốc đảo“ trong suy nghĩ, trong phong cách sống. „Cái Tôi“ được đề cao, phủ nhận vai trò hướng dẫn, chăm sóc con cái, chăm sóc gia đình của các bậc cha mẹ, phủ nhận sự kế thừa kinh nghiệm của thế hệ đi trước, phủ nhận truyền thống gia đình, quê hương. Thế hệ „68“ lớn lên không cần cha mẹ dẫn dắt, các vấn đề tình dục được đề cao, như tự do tình dục, đồng tính luyến ái trong những cái „vỏ bọc“ mị dân mang vẻ tích cực, như tự do kết hôn, tự do quyết định giới tính, mà họ không nhận ra rằng đó là những cạm bẫy.
Rồi với những phát minh mới trong kỹ nghệ thông tin/truyền tin multimedia: Internet, điện thoại di động, máy tính cá nhân…những người trẻ tuổi lại càng bị kỹ nghệ thông tin chi phối, đắm chìm vào trò chơi, tình dục, phim ảnh mà không biết đường ra, đường thoát, vì có „ai“ khuyên bảo thì cũng chỉ là nước đổ đầu vịt. Bây giờ, trẻ con hai ba tuổi, mới vừa học nói bập bẹ, đã học chơi „games“ !
Đế ý sự biến chuyển của xã hội châu Âu người ta còn nhận ra những đề tài liên quan như vấn đề như Euthanasie (an tử chủ động). Thế hệ người già, nay khoảng 70 tuổi trở lên, sau khi đã cống hiến hết đời mình lao động xây dựng xã hội sau thế chiến thứ hai, thì bị các thế hệ đời sau cho là „sống lâu quá, làm tiêu hao tiền của xã hội“ phải được „an tử chủ động“ cho chết bớt đi. Nhưng người ta che dấu một đề tài khác cũng liên quan đến cái chết của thế hệ đi trước, đó là việc lãnh và chia gia tài, thừa kế. Thế hệ sau, phải đạt được thừa kế, trong đó có phần „lấy lại“ của „xã hội“ qua sự việc đánh thuế thừa kế rất cao. Sự „moi tiền“ của người già còn được hỗ trợ thêm bởi các biện pháp „cho trước“ khi chết !
Các chính trị, chính sách không nhằm mục đích tạo ra được công ăn việc làm cho dân là tiên quyết, thì chỉ là mị dân, không giải quyết thực chất vấn đề sống còn của xã hội, mà lại còn làm sinh sản thêm những khó khăn, tệ nạn. Giải quyết được gì, khi các chính khách mở ra những « mặt trận giả tạo » chỉ nhắm vào giảm thiểu phí tổn sức khỏe ? giảm thiểu trợ cấp lao động ? giảm thiểu ngân sách công nhân ? tăng tuổi về hưu, dù biết rằng chỉ có một thiểu số mới thực hiện được việc này, giảm thiểu các phí tổn lao động bằng cách « cực đoan » hơn là tiêu diệt luôn lao động ? Trong khi lợi nhuận kinh tế tư nhân, thị trường chứng khoán « vắt chẩy nước » ra vẫn ở mức lãi từ 10%-25% ?
Bởi thế, nói là sự đắc cử của Donald Trump lên làm tổng thống Mỹ là một sự „thay đổi thời đại“ còn quá sớm, nhưng người Mỹ thì mong rằng ông sẽ đem lại cho người Mỹ công ăn việc làm, ổn định quốc gia và ổn định thế giới. MTT

Đám cưới của Bayer và Monsanto

31/12/2016

Đám cưới của Bayer và Monsanto ©Mathide Tuyet Tran, France 2016.

Bài viết này được tổng hợp bởi một số bài báo từ tháng năm 2016 đến giờ, tháng mười 2016, trên các tờ báo Pháp và Đức (chủ yếu Le Figaro, Der Spiegel và manager-magazin) nhân dịp Bayer tại thành phố Leverkusen (Đức) mua lại Monsanto (Mỹ) với giá là 59 tỷ euros (66 tỷ đô la Mỹ). Giới báo chí e ngại rằng là đám cưới của hai công ty hóa chất lớn nhất nhì hành tinh này hợp thành một công ty duy nhất đứng hàng đầu thế giới trong mảng thị trường hạt giống và chất khai quang, tiêu diệt côn trùng sẽ đem lại nhiều hậu quả khôn lường.

Sau khi hai công ty hóa học Dow Chemical và DuPont quyết định sát nhập với nhau để trở thành Dow DuPont, thì công ty hóa học trung quốc ChemChine cũng muốn « thanh toán » Syngenta, công ty hóa học thụy sĩ, lại làm một.

Đây là một « đám cưới lớn nhất » cho tới giờ của kỹ nghệ Đức. Dự tính Bayer-Monsanto sẽ trở thành một người khổng lồ trong kỹ nghệ hóa học với doanh thu là 23 tỷ euros một năm và kiểm soát 140.000 người công nhân.

Một số tiền 129 đô la Mỹ cho mỗi một chứng khoán đã được Bayer đề nghị. Ngày 14.09.2016 tổng giám đốc Bayer ông Werner Baumann đã ký kết với tổng giám đốc Monsanto ông Hugh Grant hợp đồng thỏa thuận mua bán, với một văn bản gồm 80 trang giấy. Vì vậy, hầu hết các vụ án khởi tố Monsanto có thể bị tiêu hủy vì trên nguyên tắc công ty này đã bị bán đi, không còn danh nghĩa tồn tại nữa. (* Vụ án bà Trần Tố Nga khởi tố Monsanto về Chất độc da cam Agent Orange, Dioxine).

Công ty Monsanto, ở St. Louis, Missouri, được thành lập năm 1901 bởi John Francis Queeny, ông lấy họ của vợ ông làm tên công ty.

Trong thời điểm mua bán này, Monsanto có 22.500 nhân công trên 66 nước trên thế giới và có một doanh thu 15 tỷ đô la Mỹ, lợi nhuận 2,3 tỷ đô la Mỹ một năm và chiếm lĩnh 30% thị trường thế giới về sinh (thực) vật biến đổi gen (OGM, Organisme génétiquement modifié, tiếng Anh viết là GMO, Genetically modified organism). Ông Hugh Grant, tổng giám đốc của Monsanto có mức lương 12 triệu đô la Mỹ một năm (2015).

Những thương hiệu nổi tiếng nhất của Monsanto là Dekalb, Asgrow, Deltapine, Round up.

Monsanto đã tham gia vào việc sản xuất chất độc khai quang Agent Orange (Chất độc da cam) rải xuống miền Nam Việt Nam trong những năm 1960, thời chiến tranh chống Mỹ.

Ngoài việc sản xuất chất hóa học được sử dụng là vũ khí chiến tranh, Monsanto là nhà sản xuất chủ yếu các hạt giống OGM trong nông nghiệp, vì thế phong trào chống Monsanto là « multinationales de l’empoisonnement » (công ty toàn thế giới về đầu độc) lan mạnh với những cuộc biểu tình hàng năm « marche mondiale contre Monsanto ». Lần cuối cùng biểu tình được tổ chức vào tháng năm 2016 trên 400 tỉnh thành toàn thế giới, trong đó có khoảng 30 tỉnh thành ở Pháp. Tháng mười năm nay một tòa án quốc tế, được gọi là « Tribunal Monsanto », thành lập bởi một cộng đồng luật gia, luật sư và các tổ chức ONG tại La Haye, sẽ được triệu tập và sẽ xử vụ án « diệt chủng môi trường » (ecocide) của Monsanto. Tuy nhiên, tòa án này không được công nhận chính thức.

Chịu áp lực của sự phản kháng này, những thế lực chính trị và kinh tế khủng khiếp đã chịu sự chi phối của thế lực « lợi ích nhóm » tại Bruxelles, bỏ phiếu gia hạn chỉ có 18 tháng cho chất Glyphosate, một chất độc hóa học gây ung thư có trong sản phẩm khai quang Roundup của Monsanto.

Không kể đến những sự phản kháng của nhà nông châu Âu, về cây bắp và cây đậu nành làm thí dụ, những người nông dân châu Phi cũng lên tiếng phản đối: tại sao họ phải trả cho Monsanto lệ phí cao trong khi người châu Âu không hề ăn những loại hạt đó ? Và ngay cả trên đất Mỹ, chuỗi nhà hàng ăn Chipotle cũng từ chối sử dụng thực phẩm từ gen biến đổi, loại « Frankenfood » (thực phẩm của ma quỷ) như người ta đã đặt tên cho nó.

Quả thật vậy, ông Werner Baumann đã phải tuyên bố ngay lập tức, theo báo Le Figaro ngày 11.10.2016, rằng: « Đó là một điều rõ ràng. Chúng tôi không muốn mua Monsanto để áp đặt những loại thực vật bị biến đổi gen lên châu Âu. Có những người cho rằng, với uy tín mà chúng tôi đang thừa hưởng trên châu Âu, điều này sẽ dề dàng hơn là đối với Monsanto. Nhưng sẽ không có vấn đề đó. Nếu chính trị và xã hội không muốn những hạt giống có gen biến đổi, thì chúng tôi sẽ chấp nhận điều ấy.  »

Ông nói, như có vẻ không phải là sự việc « thuận mua vừa bán », mà sự việc dân chúng phải ăn thực phẩm gen biến đổi và những tai họa kéo theo sau đó là một « án lịnh » từ « trên » (chính trị) đưa xuống đầu dân !

Và theo ông Werner Baumann, nếu trước đây 20 năm người ta có thể còn « nghi ngại » vể thực vật biến đổi gen thì ngày hôm nay không có một tang chứng nào chứng tỏ sự « không chắc chắn » hay là « nguy hiểm cho môi trường » của nó. Ông Werner Baumann, tổng giám đốc mởi nhậm chức sau ông Marijin Dekkers được vài tuần lễ, muốn chứng minh bản lĩnh của mình.

Công ty Bayer-Leverkusen có tham vọng trở thành một công ty toàn cầu « Khoa học cho sự sống » (Life-Science) với ba cột trụ: thuốc chữa bệnh (Pharma), sức khỏe cho người tiêu thụ (Consumer Health- các loại thuốc không cần có toa bác sĩ) và Crop Science (mọi sản phẩm dùng cho nông nghiệp). Ngoài ra còn có một nhánh Animal Health được thành lập, quy tụ những sản phẩm diệt trùng.

Công ty Bayer Aktiengesellschaft (Bayer AG) gồm có 307 công ty con và 116.800 công nhân, được thành lập bởi Friedrich Bayer và Johann Friedrich Weskott vào ngày 01.08.1863, cách đây đã 153 năm.

Tại Bayer, các chất Diacetylmorphins, Acetylsalicylsäure und Sulfonamide được sáng chế và thương mại hóa dưới các tên như Heroin, Aspirin và Prontosil thành công. Năm 1939 Gerhard Domagk đoạt giải Nobelpreis ngành Y khoa với sáng chế Prontosil (Sulfonamide), là một chất trị liệu Chemotherapie, được dùng làm chất kháng sinh.

Trong lịch sử, công ty Bayer đã tham gia vào việc sản xuất các loại chất gas hóa học như Chlorgas, Phosgen, Chlorpikrin và Senfgas (còn gọi là Lost) dùng làm vũ khí trong Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất. Các chất gas này đã làm mù mắt và gây trọng thương cho quân lính Pháp một cách thê thảm.

Trong Đại chiến thể giới lần thứ hai, Hans Kühne làm giám đốc các phân xưởng kể từ năm 1935, Bayer phục vụ chiến tranh vởi việc sản xuất dầu máy, cao su và các loại gas.

Đến năm 1944 có đến 4.460 người của các nước khác như Ba Lan, Pháp, Bỉ, Hòa Lan…bị cưỡng bách lao động, chịu tù đày khi vi phạm luật lệ và phải chịu nhiều thiệt hại sức khỏe cho hãng Bayer. Trong hồ sơ về Bayer, người ta tìm thấy có sự kiện Bayer dùng người làm thí nghiệm: 150 người phụ nữ bị mua với giá « 170 Đức mã một cái », sau khi làm thí nghiệm tất cả mọi người đều chết, Bayer cần mua thêm người nữa, trong khoảng thời gian đó.

Công ty Bayer cũng tham dự cùng với công ty Degussa sản xuất chất hóa học Zyklon B, vốn là một chất diệt trùng, dùng để tiêu diệt người Do Thái ở các trại tập trung trong Đại chiến thế giới lần thứ hai. Lãnh nhiệm vụ thực hiện là công ty Degesch (Deutsche Gesellschaft für Schädlingsbekämpfung mbh), nắm giữ văn bằng phát minh chất Zyklon B, mà trong đó, năm 1936, thì 42,5 % cổ phần thuộc về Bayer (mang tên khi ấy là I.G. Farben), 42,5% cổ phần thuộc về công ty Degussa, sản xuất vàng và bạc miếng, và 15% cổ phần thuộc về Th. Goldschmidt. Còn nhiệm vụ sản xuất thì được giao phó cho công ty Dessauer Zuckerraffinerie GmbH, thuộc địa phận Sachsen-Anhalt. Từ năm 1922 việc sản xuất Zyklon B đã được Degesch giao cho Dessauer Werk làm thử, đến năm 1924 thì được cấp giấy phép sản xuất chính thức. Cho nhu cầu chiến tranh, sau này việc sản xuất Zyklon B được mở rộng thêm ra ở những công ty khác.

Năm 1954 Bayer sáng lập vởi Monsanto một công ty chung mang tên là MOBAY (hai chữ đầu của Monsanto và Bayer) ở Pittsburgh, sản xuất chất độc da cam Agent Orange dùng trong chiến tranh Việt Nam, cho đến năm 1967 thì MOBAY là công ty có 100% vốn của Bayer.

Hiện tại, Bayer và Syngenta đang đối đầu với tố cáo của những người bảo vệ môi trường về vấn đề chất diệt bệnh và côn trùng clothiandin và imidacloprid thuộc dòng néonicotinoïdes của họ sản xuất cũng tiêu diệt luôn loài ong. Đài truyền hình Europe 1 đưa tin vào ngày 29.04.2016 có một triệu người trên thế giới đã ký bản kiến nghị yêu cầu ngừng bán những chất này.

Nhà nông Việt Nam, nếu phải mua lúa giống để gieo trồng của Monsanto (hay những thương hiệu bán lại của Monsanto) thì lúa giống chỉ nảy mầm một lần, không ủ lúa giống được, khi mất mùa thì mất hết cả, và phải mua lại lần nữa, cứ mỗi lần gieo là một lần phải mua hạt giống. Công thức biến đổi gen này đã được Monsanto hợp thức hóa trên thế giới bằng văn bản « bằng cấp » phát minh, nên muốn tránh nó, thí dụ như dùng lúa nầy mầm thiên nhiên thì phải dùng lúa giống không có trong danh sách « bằng cấp » của Monsanto. Sử dụng lúa giống của Monsanto thì cái hại trước mắt cho nhà nông là phá sản mỗi khi mất mùa và đồng thời gây ra nạn đói cho dân chúng vì cứ phải mua hạt giống mỗi lần trồng. Ở châu Âu hiện tượng này đã xảy ra với nhiều loại rau củ quả, như quả cà chua, bắp, đậu nành, hoa hướng dương, chẳng hạn, thậm chí đến khoai lang tây, một số củ khoai giống không nẩy mầm được nữa.

Đám cưới Bayer và Monsanto được giới báo chí Pháp và Đức bày tỏ lo ngại, mà theo một số nhà nông nghiệp và những người bảo vệ môi trường cho là « đám cưới địa ngục ». MTT

Giấc mơ Mỹ với Trump

10/11/2016

Giấc mơ Mỹ với TRUMP – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2016

Thiên đường Mỹ quốc mộng mơ của người Việt là làm thế nào để (phải) có một cái nhà, và ít nhất một cái xe mới tinh trong đời, và thêm vào đó là những cái thẻ credit cho phép mượn mỗi thẻ 100.000 đô la mỹ để lấy le với bà con thiên hạ.

Nhưng những món nợ đó đều phải được trả lại bằng sức lao động của chính mình và „giấc mơ Mỹ“ đó không phải chỉ là của người Việt gốc Mỹ, mà có công ăn việc làm, có thu nhập thường xuyên, là giấc mơ của mỗi người dân Mỹ.
Chồng tôi có một bà dì ruột sống ở California, cuộc đời bà có nhiều điều bất hạnh xảy ra, chồng chết vì tai nạn lao động, con trai và con gái bà với một đứa cháu, đến giờ là đứa cháu duy nhất, đều chết vì overdose, đứa con trai còn lại cuối cùng thì thất nghiệp, bà bỏ phiếu bầu phiếu bầu cho Trump với hy vọng có một thay đổi thật sự, „change“ là một từ khóa quyết định, phải có „thay đổi“.
Trong cuộc bầu cử này, người ta cứ tưởng là Donald Trump sẽ bị đánh bại bởi bà Hillary Clinton vì phong cách ăn nói trợn trạo của ông. Nào ngờ đâu, sự kiện đó lại được dân chúng đánh giá ngược lại, dám ăn, dám nói, dám kêu đích danh con mèo là con mèo (từ ngữ Pháp: appeler un chat un chat) tất là dám làm. Ông không nói những lời hoa mỹ, văn vẻ chỉ có „thượng tầng“ xã hội Mỹ mới hiểu. Gần 40% cử tri nữ bỏ phiếu cho ông, và cả một thành phần những người da màu, và người ta đang chờ những con số chính xác để phân tích và bình luận.
Cũng thế, có người cho rằng, bầu cử , tức là một hình thức trưng cầu dân ý, từ chị Ba ngoài chợ cho đến anh Tư làm đồng đều đi bỏ phiếu là „nguy hiểm“, vì họ ngu dốt, dễ bị lầm kế mị dân, dẫn đến bầu sai người, dân chủ kiểu đó thì cứ bốn năm, năm năm lại „sửa sai“ một lần. Lập luận này dẫn đến sự kiện thường được nêu ra, cho rằng „dân“ phải có người „bảo hộ“ (tutelle), đại diện cho dân, để bầu đúng, hiểu đúng, chính trị mới „Đúng“.
Nhưng, nói „đúng“, „sai“ như thế nào, trong khi hàng triệu người chỉ băn khoăn mỗi một chuyện là làm sao có được công ăn việc làm, có thu nhập đều đặn để đám bảo đời sống của chính mình, những nạn nhân thực sự của kinh tế „toàn cầu hóa“ đã kéo dài từ gần 60 năm nay, cả một thế hệ bị đụng chạm ?
Người dân kiên nhẫn đã nhiều năm, thậm chí một số người « ngu dốt » đến độ „luật là luật“ mà không nghĩ xa hơn cái mũi của mình rằng, „luật“ do ai đặt ra và „luật“ áp dụng cho ai ?
Áp dụng „luật“ để ngăn cản người ta có thể « lạm dụng » phúc lợi xã hội với một số tiền nhỏ nhoi 500 euro một tháng, đe dọa cắt tiền trợ cấp để gây áp lực, trong khi xã hội không cung cấp công ăn việc làm cho người ta ? tức là coi thường, khinh rẻ sự tự trọng của con người. Hay áp dụng „luật“ để ngăn cản tầng lớp ông to bà lớn chuyến tài sản ra nước ngoài bằng nhiều „lỗ hổng“ cho người nhà giầu, làm giầu bằng những luật lệ „chính đáng“ ?
Có nhà báo Pháp đánh giá rằng, đây là một „cuộc nổi dậy“ của tầng lớp trung lưu nước Mỹ, muốn nói lên sự „căm phẫn“ trước một tình trạng xuống dốc thê thảm của xã hội tiêu thụ nước Mỹ, không phải vì họ muốn bầu lên một người „cực hữu“.
Tổng thống Trump hứa hẹn sẽ giảm thuế cho dân, để có sức tiêu thụ, làm đòn bẩy cho việc phát triển kinh tế, đồng thời với những biện pháp khác để bảo vệ thị trường nội địa. Nói một cách khác, để tạo ra công việc cho đa số dân chúng trong xã hội Mỹ, ông sẽ phải gìm cản tiến độ của „toàn cầu hóa“ kinh tế thế giới, bằng bất cứ một phương cách nào.
Cho đến giờ, phương thức sản xuất hàng rẻ ở nơi có nhân công rẻ, nguyên liệu rẻ đã gây ra tình trạng trước mắt là các hãng xưởng di dời ra khỏi các quốc gia, dân chúng mất công ăn việc làm, mất thu nhập, „ăn“ trợ cấp thất nghiệp rồi phải „ăn“ trợ cấp xã hội, chịu mọi sự kiểm soát vì mấy trăm oi rô ít ỏi, lấy đâu ra mà „tiêu thụ“ ?!

Tầng lớp trung lưu là tầng lớp tích cực của xã hội vì còn có công ăn việc làm, bị „bóc lột“ bởi thuế, không tránh đi đâu được. Xã hội Pháp hiện tại, với mức thâu thuế tăng liên tục từ 2012 là một thí dụ cho mức độ giảm tiêu thụ của dân chúng. Nhất là vào cuối năm phải đóng tất cả mọi loại thuế cho ngân sách quốc gia, nếu trễ nãi là bị phạt 10%, cùng với sự nghiêm ngặt tối đa của những « luật lệ » áp dụng trong ngân hàng, thì dân chúng tiêu thụ kiểu nào ?
Hai cuộc trưng cầu dân ý đã qua của dân Pháp và dân Anh là hai thí dụ: Cái „Không“ của dân Pháp trong cuộc trưng cầu dân ý năm 2005, và cái „Không“ của dân Anh trong cuộc trưng cầu dân ý trong năm 2016, vì dân Pháp và dân Anh quá „ngu“ chăng, mà quốc hội phải chỉnh sửa lại ?
Hứa hẹn là một việc, mà thực hiện lại là một việc khác. Chính sách kinh tế của Mỹ, cường quốc mạnh nhất thế giới, khi nước Mỹ bị cảm là cả thế giới nhức đầu, có ảnh hưởng trực tiếp đến những nước khác. Tổng thống Trump có sức có lực để làm xoay chuyển „toàn cầu hóa“ hay không đang là một câu hỏi. Wait and see. MTT

Ký hiệu FR8VX của Vua Duy Tân

06/11/2016

Ký hiệu FR8VX của Vua Duy Tân – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2016

Tháng 11 tại Pháp thời tiết thất thường, vào cuối thu. Cây cối đã trút lá theo những cơn gió mạnh, để dần dần lộ cành trơ. Buổi sáng mặt trời thức muộn, có khi đến trưa chưa buồn ló ra khỏi màn sương trắng đục. Nhiệt độ khoảng 3° sáng sớm, sương mù dày dặt. Trong cái màn trời âm u đó, năm nay là năm tưởng niệm 100 năm (1916-2016) ngày vua Duy Tân bị thực dân Pháp với sự đồng lõa của Tôn Nhơn Phủ và Cơ Mật Viện giáng xuống làm Prince d´Annam và đi đày biệt xứ sang đảo Ile de la Réunion.
Phải nói, chưa có một cuốn sách nào viết đầy đủ về cuộc đời và đóng góp lịch sử vua Duy Tân. Mọi cố gắng từ những bài viết, sách đã xuất bản chỉ là những mảnh lịch sử góp nhặt, chưa xứng đáng với tầm vóc của nhân vật. Vua Duy Tân tử nạn máy bay ngày 26.12.1945 trên bầu trời Trung Phi, tính đến nay đã 71 năm, một đời người, nhưng còn quá sớm đối với thời gian của lịch sử để có thể kết luận một điều gì.
Một lá thư cuối cùng của vua Duy Tân viết cho con gái vào cuối tháng 11, ba tuần trước khi tử nạn nói lên tấm thảm kịch của vua Duy Tân, vừa là bằng chứng cho sự trong sạch của vua, không bị mua chuộc bằng đồng tiền, cho đến phút cuối cùng của cuộc đời. Tư liệu này tôi sẽ công bố một ngày gần đây.
Khác với vua Hàm Nghi, cũng bị Pháp đày đi Alger (Algérie), nhưng vua Hàm Nghi được xã hội Pháp ở Algerie trọng vọng. Vua Hàm Nghi sống trong nhung lụa, lâu đài, có kẻ hầu người hạ, không có lo lắng về vật chất, thảnh thơi dành thì giờ cho nghệ thuật như vẽ tranh, tạc tượng. Trong khi đó, vua Duy Tân bị Pháp ngược đãi trên đảo, sống cuộc đời thiếu thốn, hạn chế, nếu không muốn nói là „nghèo“, và mặc dù vậy, vua vẫn khẳng khái từ chối mọi „ơn huệ“ của nước Pháp. Không có một chút tài sản cá nhân, nhà vua vẫn ở nhà thuê như dân nghèo của đảo. Khi chết, vua Duy Tân không có của cải vật chất để lại cho các con, nhưng một tài sản tinh thần quý giá của một vì vua xứng đáng nhất nhà Nguyễn.
Sau đây, gởi đến bạn đọc một trích đoạn „Ký hiệu FR8VX“ của cuốn „Dấu xưa, Tản mạn lịch sử nhà Nguyễn“ đã được xuất bản tại Pháp và Việt Nam:

fr8vx

Danh thiếp truyền tin vô tuyến của Vua Duy Tân vởi ký hiệu FR8VX

Sự tìm hiểu về tấm thiếp FR8VX đem lại cho tôi một sự hồi hộp vui thích như đang hành nghề „thám tử tư“, sau những giờ đọc sách và viết lách mệt mỏi.
Trong cuốn „Hồ sơ Duy Tân“, tác giả Hoàng Trọng Thược đã nhầm lẫn rất tai hại và sai lầm cơ bản khi chú thích dưới hình tấm thiếp rằng, tấm thiếp này là „Giấy phép hoạt động của đài phát thanh F3LG cấp cho vua Duy Tân“.
Cùng tìm hiểu với tôi, chồng tôi, Pierre, cũng đi từ khám phá này sang khám phá khác, và anh giải thích cho tôi biết từng chi tiết một trên tấm thiếp như sau:
Tấm thiếp này của Hoàng tử Vĩnh San (vua Duy Tân) gởi cho người phát thanh mang trên trạm F3LG, xác nhận cuộc điện đàm (viết tắt là QSO) vào ngày 10.03.1938 lúc 21.45 giờ đêm trên làn sóng điện tần số 14 megacycles.
Mỗi người phát và truyền thanh nghiệp dư đều được cấp một ký hiệu để liên lạc vô tuyến, và mỗi người đều tự sáng tạo cho mình một tấm thiếp để xác nhận tông tích, địa chỉ và liên lạc với nhau, gởi qua bưu điện thông thường.
Ký hiệu vô tuyến của vua Duy Tân là „FR8VX“.
Hiện nay có nhiều cá nhân, hội đoàn sưu tập các tấm thiếp rất quí giá này và đưa vào bảo tàng viện của những người truyền và phát thanh nghiệp dư.
Tấm thiếp do Hoàng tử Bảo Ngọc (Georges Vinh San) cung cấp, trong tư liệu của gia đình, là do chính tay vua Duy Tân sáng tạo ra, mang chữ viết, nét vẽ, tên họ, địa chỉ và chữ ký của nhà vua, thật một kỷ vật rất quí giá.
Georges Vinh San:
„ Cha tôi có cả một thùng cạc tông đầy nhóc những tấm thiếp này, để gởi đi khắp nơi…“
Ngoài hình chân dung của Hoàng tử Vĩnh San, một hình ngọn núi, một hình bãi biển, một hình một người đang múa trong dáng điệu chim xòa cánh bay, trên tấm thiếp còn có vẽ bằng tay một bản đồ đơn sơ với những tọa điểm địa lý của các trạm truyền sóng điện (radio) mang tên tắt FR8, V18, FB8, CR7, ZE1, ZS, ZT, ZU.
Ký hiệu truyền tin FR8VX mang số 8, con số chỉ trinh độ chuyên viên vô tuyến của người phát (thấp nhất là cấp 1, cao nhất là cấp 9), VX có thể là tên tắt của Vĩnh San (vì một lý do nào đó không thể chọn VS được).
Còn người nhận mang ký hiệu F3LG là ai ? Tôi tìm ra một tấm thiếp của F3LG gởi cho một người thâu và phát thanh khác. F3LG là ký hiệu của một người Pháp tên Ch. Guilbert, địa chỉ 35, rue Jean Mermoz, Deauville, vùng Calvados Pháp.
Trên tấm thiếp của mình, vua Duy Tân xác nhận cho ông Guilbert biết chất lượng cuộc điện đàm như sau:
RST 337
Có nghĩa là: hiểu được với khó khăn, sóng yếu, nhưng âm thanh khá rõ ràng dù bị tạp sóng. (RST, viết tắt của 3 tính chất truyền tin: readability, strength, tone)
QRM: très
Có nghĩa là có nhiều sóng nhiễu
QRN: aussi
Có nghĩa là ảnh hưởng thời tiết cũng xấu
Người gởi (viết tắt là QRA) là Prince VINH-SAN, 67 rue Ste Anne, St. Denis, Ile de la Réunion.
Các thông tin khác trên tấm thiếp cho biết hệ thống thông tin của vua Duy Tân gồm có máy mang tên hiệu Super Skyrider SX-9 (SX9), thâu thanh, và máy 6L6 pa 6L6 ´s phát thanh. Chồng tôi nói là máy phát thanh do chính vua Duy Tân tự lắp ráp.
Máy Super Skyrider SX-9 (SX9) được sản xuất tại Hoa Kỳ vào năm 1936, bán với giá nguyên thủy là chín mươi đô la thời ấy, đặt trong một thùng bằng kim loại hỉnh chữ nhật nằm ngang. Máy hoạt động trên các tần số ngắn và tần số trung bình, có hai loa phóng thanh với công sức 3,5 Watt,
Cột truyền tin (antenne) của Hoàng tử Vĩnh San mang hiệu ZEPP hai làn sóng có hai công suất khác biệt, công suất truyền tín hiệu là 30 Watts, công suất truyền tiếng nói là 20 Watts.
Nằm trong vòng tròn bên dưới của con số 8 là ba ký hiệu: fone, WAC, cw
fone có nghĩa là truyền thanh bằng tiếng nói.
WAC có nghĩa là Work all continents, có khả năng liên lục địa
Cw có nghĩa là truyền thanh bằng tín hiệu Morse
Bên cạnh sơ đồ vẽ hòn đảo Réunion, vua Duy Tân viết bốn chữ tắt A.R.R.L. tức là „American Radio Relay League“, bên cạnh chữ F nhà vua viết thêm ba chữ tắt REF, tức là R.E.F. Réseau des Emetteurs Francais (Hội những người truyền tin Pháp, thành viên của Liên hội quốc tế truyền tin nghiệp dư (Section Francaise de l‘Union Internationale des Radio Amateurs), tức là nhà vua là hội viên của hai tổ chức này, có thẻ hội viên, cũng như có bằng cấp vô tuyến điện.
Điều này có gì lạ chăng ? Ngoài khả năng nói và viết tiếng Pháp rất lưu loát, vua Duy Tân còn biết thông thạo tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha, tức là vua Duy Tân có trao đổi với các trạm thông tin Anh, Mỹ, Pháp…
Nếu ngày nào, nhà vua cũng mê mải với các máy phát thanh đến hai, ba giờ sáng chưa muốn đi ngủ, như Hoàng tử Bảo Ngọc kể lại, thì hẳn là vua Duy Tân đã có nhiều cuộc điện đàm quan trọng mỗi ngày với nhiều trạm phát thanh trên thế giới.
Trên một tấm hình tôi thấy vua Duy Tân một tay cầm điếu thuốc lá, còn tay kia đánh tín hiệu Morse.
Georges Vinh San:
„Cha tôi hút thuốc nhiều. Ngài nói một cách ý nhị tự châm biếm: Người ta có thể mua tôi bằng những điếu thuốc lá !“
Duy Tân có tiếng là một người rất thông minh, ham học hỏi, nhất là tự học. Cần phải nhớ rằng, phương tiện truyền tin đem lại cho nhà vua một sự tự do đáng kể, vì thời ấy, các trạm truyền tin đều chịu sự kiểm soát của Bộ Bưu Điện, Điện Tín và Điện Thoại (Ministère des Postes, Télégraphes et Téléphones, PTT), cơ quan này cấp giấy phép và ký hiệu hoạt động cho từng trạm, và Bộ Nội Vụ – Cơ quan Cảnh sát Truyền Tin Vô Tuyến Điện theo dõi các hoạt động phát thanh. Nhất là trong suốt thời gian Đại chiến thứ hai, nhiều trạm phát thanh bị cảnh sát mật vụ nghi ngờ, theo dõi và thẩm vấn, cấm đoán.
Vua Duy Tân là một chuyên viên kỹ thuật thực tiễn, vì nhà vua biết tháo ráp, sửa chữa, thiết lập hệ thống truyền tin, truyền thanh, phát thanh. Vua có đến ba máy thâu và phát thanh khá mạnh, so với mức độ thiết bị thời ấy. Nhà vua cũng đã  nói với người bạn đường, bà Antier, rằng trong một thời gian sắp đến, bà có thể ngồi đây xem những hình ảnh của thủ đô Paris chẳng hạn, tức là vua Duy Tân đã nói đến sự thực hiện và phát triển hệ thống truyền hình (télévision) cho vợ nghe (theo lời kể của Hoàng tử Bảo Ngọc).
Là một chuyên viên vô tuyến điện, có liên lạc tin tức hàng ngày trên sóng truyền thanh khắp thế giới, chính ra vua Duy Tân có một phương tiện thông tin rất hữu hiệu, vừa để thông hiểu tình hình, vừa để thoát khỏi đảo, như ngày nay chúng ta sử dụng thơ thông tin điện tử (email) qua mạng truyền tin Internet.
Chồng tôi nói, nếu anh là vua Duy Tân trong hoàn cảnh ấy thì anh đã trốn khỏi đảo từ lâu. Nhưng vua Duy Tân không muốn đi trốn lén lút, mà muốn trở về Việt Nam đường hoàng chính chính, trên một con đường danh dự, vì nhà vua không bao giờ thoái vị.
Pháp đưa vua đi thì Pháp phải đưa vua về. Điều này là động lực chính cho mọi hoạt động của nhà vua trong suốt thời gian đi đày trên đảo. MTT

mtt_f3lg

Quét lá trong Dinh Độc Lập

28/10/2016

Quét lá trong Dinh Độc Lập – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2016 – http//:mttuyet.fr

MTT_D19

Ở Sài gòn có một cái dinh mà tôi quen gọi là Dinh Độc Lập dù nó đã bị đổi tên thành Hội trường Thống Nhất sau 1975. Ngày 30.04.1975, cách đây 41 năm, chiếc xe tăng T54 do Vũ Đăng Toàn chỉ huy đă húc sụp cổng chính tiến vào dinh, chấm dứt 20 năm chiến tranh 1954-1975 trên toàn lãnh thổ.
Lịch sử Dinh Độc Lập bắt nguồn từ thời kỳ Pháp thuộc. Sau khi chiếm đóng lục tỉnh Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) vào năm 1858, Pháp thiết lập nền móng cai trị trên mảnh đất gọi là Cochinchine. Nam Kỳ trở thành lãnh thổ của Pháp theo hai hòa ước Nhâm Tuất năm 1862 giữa Phan Thanh Giản làm chánh sứ với thiếu tướng Bonard, và hòa ước Giáp Thân 1884 (còn gọi là hòa ước Patenôtre) giữa Phạm Thận Duật, Tôn Thất Phan, Nguyễn văn Tường và Jules Patenôtre), triều đình nhà Nguyễn đã mất sáu tỉnh miền Nam cho Pháp kế từ thời gian đó.
Ngày 23.02.1868 thống đốc Nam Kỳ Lagrandière đặt viên đá đầu tiên cho xây dựng Dinh Thống đốc Nam Kỳ, do kiến trúc sư Achille Antoine L´Hermite thực hiện.
Công trình được xây dựng trong vòng bốn năm mới xong (1868-1871), rộng 12 ha, chung quanh trồng cây xanh. Dinh được đặt tên là dinh Norodom, tên của quốc vương Campuchia, và được sử dụng liên tiếp làm nơi ở và làm việc cho các Thống đốc Nam Kỳ và Toàn Quyền Đông Dương từ 1871 cho đến 1954, suốt 83 năm.
Ngày 07.09.1954 dinh được bàn giao cho thủ tướng Ngô Đình Diệm. Năm 1955 Ngô Đình Diệm truất phế Bảo Đại, lên làm tổng thống, đổi tên dinh thành Dinh Độc Lập.
Năm 1962, lấy lý do Dinh Độc Lập bị hư hại nặng do hai phi công của quân lực Việt Nam Cộng Hòa là Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử ném bom làm sập dinh cánh trái, Ngô Đình Diệm cho san bằng kiến trúc cổ của Pháp để xây dựng lại theo mô hình tân tiến Âu Mỹ. Gia đình họ Ngô về tạm trú ở Dinh Gia Long trong thời gian xây dựng. Nhưng Ngô Đình Diệm không sống sót đến năm khánh thành dinh 1966. Người chủ mới là Nguyễn văn Thiệu chiếm giữ dinh từ năm 1967 đến 1975.
Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ là người thiết kế dinh mới, ý định của ông là trang trí mặt tiền dinh bằng hình ảnh những lóng trúc, bụi trúc là biểu tượng của Ngô Đình Diệm, nhưng người ta lại thấy sau khi xây xong thì nó lại giống những lóng xương, thót vào ở giữa, không giống những lóng trúc, báo điềm bất lành. Đứng về mặt phong thổ thì dinh được xây trên đầu con rồng, những tấm biển trang trí cửa sổ được chạm trỗ hình đầu rồng, nên còn được gọi là Phủ đầu rồng.
Hiện nay, dinh Độc Lập trở thành Hội trường Thống Nhất, mở cửa cho du khách tham quan và cho các công ty tư nhân thuê phòng ốc, quan liêu, để tổ chức các sự kiện. Tiếc rằng phần tư thất của tổng thống và các phòng tầng 3 được trang trí quá sơ sài không đáp ứng được sự chờ đợi của khách tham quan. Phòng ngủ, phòng ăn của tổng thống VNCH được trưng bày sơ sài, khu vực này được xây dựng giống như kiến trúc Patio của miền Nam châu Âu, các phòng đều được nối liền với nhau bằng một hành lang rộng có mái che, chung quanh tâm điểm chính là một hòn non bộ lộ thiên, rất mát và sáng sủa.
Từ tầng ba, du khách được ngắm chiếc máy bay trực thăng túc trực sẵn sàng.
Bên cạnh đó, ít ai chú ý đến vườn cây trong dinh, trên một diện tích rộng 12 ha, như một ốc đảo xanh, khá yên tĩnh giữa lòng thành phố đầy bụi bặm và tiếng động xe cộ. Vườn cây này là cả một công trình gìn giữ, mỗi cây đều được đánh số thứ tự, mang tên, giống, quê quán và công dụng.
Các loại cây trồng trên diện tích 12 ha của dinh là những cây dầu con rái, sao đen, ngọc lan, dáng hưong, xoài rừng, xoài, lý, viết, xi xanh, me rừng, trúc, tre, bằng lăng trắng, bằng lăng nước, bồ đề, nhãn, sứ hồng, sứ trắng, cau vua, gỗ mật, gỗ đỏ, sộp, phượng vĩ, nhãn, tếch, lim xẹt, mạt võng… tượng trưng một phần nhỏ của sự giầu có thiên nhiên của rừng Việt Nam.
Những người nhân viên cây xanh chăm sóc cho cây không có một cành khô cành chết, thảm cỏ luôn xanh, kiên nhẫn quét từng chiếc lá rơi mỗi ngày…Điều này khiến tôi bật cười nhớ đến ông hàng xóm của tôi, ông ta không thể chịu đựng được một chiếc lá rơi trên thảm cỏ xanh của ông, chắt chiu cắt xén mỗi ngày. Nhất là mùa thu lá bay đầy trời, lá rụng như mưa làm cho ông như điên như cuồng hối hả hốt lá, thu gom từng đống lá úa ướt chèm nhẹp, rồi đốt lá, làn khói trắng loang nhẹ trong trời lạnh mùa thu.
Ở đây, những người công nhân bình thản quét lá như thể „quét chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em“…, như thiền. Họ sống vì quét lá, lá rụng mỗi ngày, mới quét lá lại rụng xuống như mưa. Họ nhổ cả mảng cỏ xanh lên để thay cỏ mới, họ trồng thêm cây non, chiết thêm cây kiểng…Trời tháng tám, cận rằm tháng bẩy, thì hay có mưa rào, ngày nào cũng mưa. Tuần vừa qua, do ảnh hưởng của cơn bão số hai đổ vào miền bắc, trong nam cũng mưa bão sấm sét đùng đùng mỗi ngày, vườn cây xanh cũng được tưới nước của trời. Nắng vừa lên, mưa vừa hết thì người ta đã hối hả đặt vòi tự động tưới cỏ tưới cây. Các nhánh cây kiểng xanh mọc nhú lên sau cơn mưa và cơn nắng chưa kịp tươi cừoi lâu với gió thì đã bị một bàn tay công nhân chăm chỉ cắt đầu, cho bằng thiên hạ. Trong vườn có nhiều con sóc, chim mào trắng, chim bồ câu đưa thư… tự do bay nhảy. Những con ve sầu hát đều đều một nhạc điệu quen thuộc, inh ỏi, át cả tiếng nhạc của một quán cà phê dành riêng cho du khách ở gần đấy.
Nhìn những cây xanh cao cả 20 thước, cây khỏe, tán khỏe xòe rộng trên cao, tỏa bóng mát xuống thảm cỏ lúc nào cũng xanh mươn mướt, thật không khỏi nghĩ đến công lao chăm sóc của những người làm vườn. MTT

MTT_D1MTT_D2