Skip to content

Một kiểu mẫu lý tưởng xã hội của Godin tại Guise: Le Familistère

19/09/2017

Một kiểu mẫu lý tưởng xã hội của Godin tại Guise: Le Familistère ©Mathilde Tuyet Tran, France 2017

Vào nửa cuối thế kỷ thứ 19, Jean-Baptiste André Godin cho xây dựng một khu tập thể lao động cho công nhân của ông tại thành phố Guise, Pháp, đặt tên là Le Familistère, từ năm 1859 đến năm 1884 là thời gian xây dựng, được xem là một kiểu mẫu lý (ảo) tưởng xã hội thời bấy giờ, đối lập vởi chủ nghĩa tư bản đang phát triển song song theo cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang được khởi đầu cùng thời gian. Thế kỷ thứ 19 còn được biết đến là thời đại huy hoàng của công cuộc kỹ nghệ hóa tại châu Âu, đã bắt đầu từ nửa sau của thế kỷ thứ 18 và đã làm cho xã hội phân hóa trầm trọng, một bên là người chủ tư bản, một bên là thành phần công nhân vô sản, dốt nát, nghèo đói.

Cuộc mua bán nô lệ trong thế kỷ 19 còn chưa bị bãi bỏ. Mãi đến ngày 27.04.1848 Victor Schoelcher mới thay mặt chính phủ Pháp ký sắc lệnh bãi bỏ chế độ nô lệ.

Thời đại bắt đầu cuộc đời của Godin là năm 1817 mà nhà đại văn hào Victor Hugo (1802-1885) khi viết tiếp cuổn thứ ba của cuổn đầu tiên « Les Misésrables » (Những kẻ khốn cùng), xuất bản năm 1862, trong đó những dòng chữ đầu tiên của Victor Hugo là « 1817 là năm mà Louis XVIII, với một sự tự tin trân tráo vương giả nào đó mà không thiếu lấy một sự kiêu căng, đã cho là đánh dấu hai mươi hai năm trị vì của ông… », chứng tỏ Victor Hugo ghét vua chúa đến mức nào. Đó là năm của những nạn đói kém, mất mùa lúa mì, bệnh dịch hoành hành trong dân chúng. Trong xã hội Pháp năm ấy chỉ có dưới 90.000 người Pháp có quyền bầu cử, mà quyền ấy được dựa trên một số tiền đóng thuế tối thiểu.

Bối cảnh lịch sử

Vài dòng trở lại lịch sử nước Pháp, giai đoạn giao thời khi Cách mạng dân chủ Pháp nhiều phen cố gắng thoát khỏi chế độ quân chủ, mà tất cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đều qui về tay một người, đó là Vua, giai đoạn này đã ghi dấu ấn lên cuộc đời của Godin từ năm sinh ra 1817 cho tới năm chết 1885. Godin vẫy vùng trong phạm vi đó, con người không thể thoát ra được thời thế, nhưng Godin là người mà lời nói đi đôi với việc làm, dù là trong vòng « ảo tưởng », một cuộc « thí nghiệm », và để lại cho đời sau công cuộc thực nghiệm đó.

Trong đời của Godin, trải qua 3 triều vua, 1 triều đế và 4 vị tổng thống, đã chứng kiến nhiều xáo động của buổi giao thời giữa chế độ quân chủ và nền cộng hòa dân chủ, của sự nảy sinh ra tư bản và cộng sản và chủ nghĩa xã hội. Người cùng thời với Godin là …Karl Max, sinh năm 1818, nhỏ hơn Godin một tuổi.

Vua Louis XVIII, là em kế tiếp của vua Louis XVI, đi trốn cùng ngày với gia đình người anh, đã may mắn trốn thoát ra khỏi nước Pháp, trong khi gia đình người anh bị cách mạng Pháp 1789 bắt lại ở Varennes và Louis XVI bị chém đầu năm 1793.

Louis XVIII sau đó trốn lánh ở Đức và ở Anh trong suốt 23 năm, là người kế thừa ngai vàng Pháp, vì Louis XVII đã chết trong ngục khi còn là một đứa trẻ 11 tuổi.

Thế lực bảo hoàng còn rất mạnh sau cách mạng Pháp 1789 và tìm mọi cách tái lập lại chế độ quân chủ như cũ, đó là khoảng thời gian được sử sách gọi là La Restauration (Phục hoàng của dòng Bourbon), tức là hai thời kỳ 1814 đến 1815, rồi bị gián đoạn bởi Napoléon1er trong « Đế triều 100 ngày » đến khi Napoléon1er thua trận Waterloo ngày 18.06.1815 rồi bị đày đi đảo Saint Hélène, và tiếp nối từ 1815 đến 1830.

Trong hai thời kỳ ấy, dòng Bourbon dành lại ngai vàng đã mất từ Cách mạng 1789, lập lên ngôi hai vua, vua Louis XVIII và vua Charles X, lên ngôi vua 1824-1830, là vị vua cuối cùng của nước Pháp « Roi de France et de Navarre ».

Có lại uy quyền như trước, thế lực phục hoàng trả thù bằng cuộc « khủng bố trắng » (Terreur blanche, lá cờ mầu trắng là biểu tượng cho vua chúa Pháp, chế độ quân chủ), sa thải, truy lùng và giết những người Cộng hòa (Répulicains), những người đã biểu quyết chém đầu vua Louis XVI và hoàng hậu Marie-Antoinette và ra lệnh cho thợ hồ và thợ sơn có nhiệm vụ chính thức phải xóa bỏ ba giá trị nêu lên bởi nền Cộng hòa : Liberté, Egalité và Fraternité trong tất cả các làng mạc.

Kể từ năm 1820 những người Cộng hòa tìm cách nổi dậy, nhưng nhiều cuộc sửa soạn nổi dậy bị lộ, một số người bị chém đầu công khai trước dân chúng, nhưng từ đó phát sinh ra một đường lối chính trị mới, đường lối chính trị xã hội (le socialisme).

Sau đó, cuộc « Cách mạng tháng 7 » diễn ra trong ba ngày 27,28,29.07.1830 chỉ tại Paris (vì thế còn có tên là « Ba ngày vinh quang », les Trois Glorieuses ) với sự hỗ trợ của hầu tước de la Fayette và dưới lá cờ ba mầu xanh, trắng, đỏ của nền cộng hòa, lật đổ Charles X, nhưng không lật đổ chế độ quân chủ, đưa Louis-Philippe lên ngôi vua, ông tuyên bố là vua của người Pháp « Roi des Français ».

Bên cạnh những biến động chính trị đó, chuyển đổi từ chế độ quân chủ tuyệt đối sang chế độ cộng hòa, xuất hiện hình thành một tầng lớp trưởng giả, tư bản trong công cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, cũng để chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ, thủ công sang sản xuất kỹ nghệ với số lượng lớn, tiêu thụ lớn.

Năm 1847-1848 cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra trên khắp châu Âu, con số thất nghiệp tăng cao, lương bị giảm, nhiều nạn đói xẩy ra, dân chúng bất mãn cùng cực, xã hội phân chia xa cách giầu nghèo khiến cho dân chúng nổi loạn, tràn cả vào cung điện Tuileries cướp bóc ngày 23.02.1848. Trước sự kiện ấy, vua Louis-Philippe thoái vị ngày 24.02.1848, nhường ngôi lại cho cháu nội của mình Louis-Philippe II, rồi trốn cùng với gia đình sang tỵ nạn ở Anh quốc.

Tiếp theo vua Louis-Philippe là triều đại của Napoléon III kéo dài từ 10.12.1848 đến 04.09.1870, được lịch sử nước Pháp xem là giai đoạn của Đệ nhị Cộng hòa với gián đoạn.

Sau nhiều lần cố gắng chiếm lại uy quyền mà không thành, hoàng tử Louis-Napoléon Bonaparte (1808-1873) cuối cùng thành công trong việc đoạt được quyền hành với sự ủng hộ của phe bảo hoàng và phe nhà thờ, ông đắc cử tổng thống dưới chế độ cộng hòa dân chủ ngày 10.12.1848, được mệnh danh là « Prince Président » (Hoàng tử tổng thống). Đó là giai đoạn được xem là Đệ nhị Cộng hòa Pháp.

Nhưng ngày 02.12.1851, ba năm sau, với sự ủng hộ của một số tướng lãnh quân đội và công việc sửa soạn của Charles Auguste de Morny, anh em cùng mẹ khác cha, Louis-Napoléon đã làm một cuộc đảo chánh ngoạn mục, bắt giam những người chống đối, kể cả dân biểu quốc hội và cho họ đi đày ở những đảo châu Phi.

Đệ nhị Cộng hòa bị chết, đế chế thứ hai Napoléon (Second Empire) ra đời, Louis-Napoléon xưng đế lấy danh hiệu là Napoléon III, Hoàng đế của dân Pháp (Empereur des Français), tái lập lại thể chế quân chủ trong vòng hơn 18 năm.

Nếu Napoléon III không thua trận, sau khi chính mình đã tuyên chiến với Phổ (Đức), bị vua Phổ và thủ tướng Đức Otto von Bismarck bắt sống trong trận đánh Sedan ngày 02.09.1870 và cho sang Anh quốc sống lưu vong suốt cuộc đời còn lại, thì đế chế Second Empire của Napoleon III còn tồn tại đến bao giờ !

Cũng dưới triều đại Napoléon III, hải quân Pháp dưới quyền chỉ huy của đô đốc Charles Rigault de Genouilly đã nổ súng tấn công cảng Touranne (Đà Nẵng) ngày 30.7.1857, mở đầu cho tham vọng bành trướng lãnh thổ bằng việc chiếm hữu các nước yếu thế hơn, kém phát triển hơn làm thuộc địa.

Mặc dù thế lực bảo hoàng muốn cứu vãn tình thế bằng cách đồng ý sửa đổi Hiến pháp của Đệ nhị đế chế, nhưng ngày 04.09.1870 Gambetta tuyên bố sự tái sinh của nền Cộng hòa, trước mắt là bảo vệ độc lập cho nước Pháp, mở đầu cho nền Đệ tam Cộng hòa Pháp.

Vị tổng thống đầu tiên của Đệ tam Cộng hòa là Adolphe Thiers, nhưng ông từ chức sau hai năm (1871-1873), kế tiếp là Patrice de Mac Mahon (1873-1879), Jules Grevy (1879-1887).

Thân thế

Jean-Baptiste André Godin sanh ngày 26-01-1817 tại Esquehéries, thuộc địa phận Vervins, con của một người thợ làm khóa tên là Jean-Baptiste André Godin (cùng tên), quê quán ở làng Boué và bà Marie Josephe Florentine Degon. Godin qua đời ngày 15-01-1888, bốn năm sau khi xây dựng xong Le Familistère.

Godin được đi học cho đến năm 11 tuổi. Cha ông truyền nghề và lòng yêu nghề làm thợ kim loại lại cho ông.

Godin kết hôn lần thứ nhất với bà Sophie Esther Lemaire ngày 19.02.1840 tại làng Esquehéries, hai vợ chồng có một người con trai đặt tên là Emile Caïus Godin. Bà Lemaire qua đời năm 1881 ở Flavigny Le Petit, hưởng thọ được 61 tuổi. Người con trai duy nhất này của ông qua đời vào ngày 02.01.1888, chỉ sau khi Godin qua đời được đúng 15 ngày cùng năm, hưởng thọ được 47 tuổi.

Hai năm trước khi qua đời, Godin kết hôn lần thứ hai với Marie-Adèle Moret ngày 14-07-1886 tại Guise. Bà Moret sinh năm 1840, nhỏ hơn Godin 23 tuổi, đã làm việc trong Le Familistère gần 25 năm khi kết hôn, quản lý công việc nuôi dậy trẻ, chăm sóc trẻ, giáo dục và bảo hiểm sức khỏe cho công nhân. Sau khi Godin chết, bà Marie-Adele tận tụy lo lắng xuất bản tác phẩm của Godin, cũng như tạm thời quản lý công việc thay chồng cho Le Familistère.

Mô hình xã hội của Godin

Bởi tình hình chính trị thời ấy là như thế, nên mô hình xã hội kiểu mẫu của Godin sáng lập ra trong khung cảnh ấy cũng bị người đương thời phê phán theo hai chiều hướng khen và chê. Người đồng thời chê lý tưởng của Godin là ảo tưởng xã hội, là chế độ độc tài toàn trị, chê Le Familistère là một quần thể giam hãm, bóc lột và là vật chứng cho một xã hội ảo tưởng. Những người khen Godin thường là những kẻ nghèo khó, không biết chữ, không được đi học, không biết gì đến bình đẳng nam nữ, bám lấy cơ hội để mà tiến lên trên nấc thang xã hội.

Godin7

Palais Social, Le Familistére ở Guise và tượng Godin. Photo: MTT2017

Ngày nay, địa chỉ của khu tập thể Le Familistère vẫn là La rue des Prés, thành phố Guise thuộc địa phận vùng Aisne, phía Bắc nước Pháp, về phía biên giới nước Bỉ, trở thành bảo tàng và khu dân cư.

Tôi đã có dịp đến Guise nhiều lần, lần sau cùng ráng mua một cái nồi gang nhỏ Godin làm kỷ niệm, dù là nồi gang rất đắt tiền vì dùng cả đời không hư hỏng.

Godin bắt đầu làm việc từ năm 17 tuổi. Từ năm 1835 đến năm 1837 Godin đi học nghề ở Bordeaux và nhiều nơi trên nước Pháp, ông có dịp chứng kiến sự phát triển của tư bàn, bất công, sự đói nghèo và đời sống cực khổ của công nhân, thợ thuyền. Cho đến năm 1848 nước Pháp ở trong tình trạng đói nghèo, dơ bẩn, chỗ ăn ở rất thiếu thốn, ngày làm việc rất dài, lương thấp, trẻ con phải đi làm lúc chưa được 8 tuổi, đói ăn, bệnh tật không thuốc men.

Năm 23 tuổi (1840) Godin thành lập một xưởng chế tạo lò sưởi làm bằng đồng ở Esquehéries, thay vì bằng tôn. Sự thành công về sản phẩm của mình, vừa dùng làm lò sưởi vừa dùng làm bếp với nhiệt liệu là than, và nhu cầu tăng cao khiến cho Godin phải chuyển từ sản xuất nhỏ, thủ công sang sản xuất lớn, kỹ nghệ. Godin cho dời phân xưởng sản xuất và công ty về thành phố Guise năm 1846. Lúc này, Godin đã có 36 người thợ. Được bạn bè thúc đẩy, Godin đứng vào hàng ngũ những người « phalantériens » (những người cổ võ xây dựng các khu vực tập thể, cải thiện đời sống cho công nhân) tranh cử thành lập quốc hội năm 1848 thời Prince Président Louis Napoléon. Cuộc Khủng bố trắng của thế lực phục hoàng ba năm sau đó làm cho nhiều nhà lãnh đạo cộng hòa bị chém đầu hay bị đi đày, khiến Godin phải chạy sang Forest-les-Bruxelles, Bỉ.

Godin2

Bếp lò Godin của thế kỷ thứ 19. Photo: MTT2017

Mãi đến giờ, khi tôi viết những dòng chữ này năm 2017, nhiều gia đình ở vùng quê miền Bắc nước Pháp còn dùng loại bếp này. Bếp có hình chữ nhật, to như một cái bàn nhỏ có độ cao trung bình, đốt bằng than, kết nối với một ống khói để dẫn khói lên trời. Hình ảnh khói trắng bay lên cuồn cuộn toát ra từ cải ống khói trên mái nhà đã từ lâu đời là tượng trưng cho sự ấm cúng của một gia đình, sự sống trong thiên nhiên. Nơi nào có khói trắng bay lên, nơi ấy có con người sinh sống.

Thật vậy, cái bếp than được đốt cháy từ sáng tinh sương đến suốt ngày tỏa hơi ấm cho cả nhà, có ngăn để nướng, bên trên phân chia làm khu vực từ nóng rực cho đến nóng ít dành cho việc nấu ăn, ban đêm chỉ giữ lửa bằng một thanh củi để hạ nhiệt độ trong nhà, để ngủ và tiết kiệm than củi. Bếp làm bằng gang, tỏa nhiệt rất tốt và nóng rất lâu.

Mùi khói, mùi lửa và mùi than làm cho trong nhà có một mùi rất đặc biệt. Đến giờ nấu ăn, mùi thức ăn chín dần thơm nức cả nhà, cả quần áo mặc trên người. Cái nóng lại nóng khô, gần bếp thì ấm ơi là ấm, xa bếp thì cảm thấy lạnh. Bên ngoài trời lạnh giá, bước vào nhà, hưởng cải ấm trong nhà, thấy sướng làm sao. Gia đình chồng tôi thuộc hàng phú nông, nhưng tán gia bại sản vì Đệ nhị thế chiến, đến nỗi trong phòng anh ngủ, cho đến những năm 1960, không có lò sưởi, ngay cả trong suốt những mùa đông lạnh băng giá.

Lần tôi về Hà Giang, rồi đi khắp nơi trên miền cực Bắc nước mình từ Đông sang Tây, thấy trong những cái lán, nhà sàn bằng tre nứa của đồng bào dân tộc có một vuông bếp lửa đặt trong một góc nhà, trống trơn, cả gia đình ngồi quây quần chung quanh sưởi ấm, tôi thầm nghĩ ước gì mình có được những cái bếp sưởi của Godin, đem về đây !

Tôi làm quen với loại bếp này từ khi trở về sống trong gia đình ở Pháp, nên khá thông thạo cách nấu nướng, xử dụng mặt bếp. Bếp này dùng để hầm thức ăn là tiện nhất, vì thế cách nấu « ragout » là món ăn phổ biến ở trong những gia đình làng quê bên Pháp. Cứ cho tất cả vào một cái nồi gang, đặt vào một góc bếp buổi sáng, nóng âm ỉ, đến trưa là chín nhừ, trong thời gian đó bà nội trợ rảnh tay làm việc khác.

Cách sưởi than cũng không lạ với tôi gì lắm. Năm tôi đậu tú tài, má tôi bắt lên Đà Lạt học ở Viện Đại học Đà Lạt vì không muốn cho tôi xuất ngoại du học. Nghe lời má, tôi khăn gói lên Đà Lạt và xin được một phòng trọ trong tu viện ở Đà Lạt. Mỗi chiều, lúc bốn giờ, một người công nhân đem củi đốt lò sưởi phát cho các phòng trọ và châm lửa hộ. Mùi củi thông cháy rực tỏa ra thơm phức, phòng trở nên ấm áp, tôi ngủ say mê.

Godin4

Lò sưởi Godin, thế kỷ thứ 19. Photo. MTT2017

Gia đình nhà quê bình thường bên Pháp thì dùng bếp sưởi than, củi. Nước Pháp có nhiều rừng, nhất là khu vực miền Bắc nên củi để sưởi giá rẻ. Nhà giầu có hơn thì xài bếp điện, bếp gaz, và sưởi bằng dầu, bằng gaz lỏng hay gaz của thành phố. Tuy vậy, nhiều nhà hiện nay vẫn giữ phong cách lò sưởi than củi, ấm cúng, và họ cho là sang trọng, quý phái. Lửa cháy bập bùng trong lò sưởi, tiếng than củi nổ kêu lách tách, mùi thơm của gỗ tỏa ra, hơi ấm tràn lan, vợ chồng con cái xum vầy quanh lò sưởi…mặc bên ngoài mưa gió lạnh hay tuyết rơi !

Chừng ấy để diễn tả rằng tại sao Godin đã thành công vì đã cho ra đời một sản phẩm cần thiết, có ích cho mọi người với thời đại của ông, của thế kỷ 19, và cho cả đời sau nữa.

Ở Guise, Godin, xuất thân là một người thợ cha truyền con nối, có một đời sống công nhân lao động bình dị đơn giản, sống bằng sức của mình, trở thành chủ nhân điều khiển khoảng 1.500 người công nhân, trong một phương thức kỹ nghệ mới mẻ.

Đồng hành với sự phát triển của kỹ nghệ là sự phát triển tư bản, Godin đi ngược lại với công thức đó, tìm cách tái phân phối lại sự giầu có của cải. Cuối thế kỷ 19 điều kiện sống của công nhân lao động cực khổ còn rất thô sơ, di chuyển thì bằng đôi chân, đi xe ngựa, họ phải tìm cách sống chung quanh, không xa các khu kỹ nghệ sản xuất.

Năm 1968 chồng tôi tìm được việc làm đầu tiên, chủ lại cung cấp cho một phòng trọ không tốn tiền, anh ấy thở ra nhẹ nhõm. Ai cũng vậy, muốn đi làm lao động kiếm sống, phải tìm cho ra một chỗ ăn chỗ ở trước, đó là điều kiện cần tối thiểu.

Bắt đầu từ năm 1859 Godin cho xây dựng chung quanh khu vực sản xuất của mình một thế giới mới đặt tên là Le Familistère, có nghĩa là một gia đình lớn, hoạt động theo phương thức gần giống như phương thức sản xuất của các hợp tác xã sản xuất công nghiệp. Song song với cơ xưởng sản xuất ở Guise, Godin cho triển khai tương tự sự phát triển của Guise đối với khu vực nhà máy thuộc sở hữu của ông ở Bỉ, ở thành phố Laeken, để có cơ sở rút về khi ở Pháp gặp nạn.

Godin8

Một góc khu nhà công nhân tập thể trong Familistère ở Guise bên bờ sông Oise. Photo: MTT2017

Le Familistère là một quần thể rộng 18 mẫu đất bên bờ sông Oise, gồm có nhà ở, chợ có hợp tác xã tham gia, bán những vật dụng cần thiết với giá vốn, nhà trẻ, trường học cho cả trẻ nam lẫn trẻ nữ, bắt buộc theo học cho đến năm 14 tuổi (ở cái thời mà luật pháp cho phép trẻ em 10 tuổi được đi làm việc), thư viện, nhà hát kịch, nhà tắm, hồ bơi, nhà giặt giũ, nhà bếp, khu vực xanh đi dạo, vườn cây ăn trái, vườn trồng rau…chung quanh một cơ sở chính mà Godin đặt tên là « Palais social » (Lâu đài xã hội). Đầu tiên gồm có 119 đơn vị nhà ở. Mặt tiền của Lâu đài xã hội rộng 180 mét.

Ngày nay, tất cả đều còn đó, mở cửa cho dân chúng tham quan, nhưng người đi xem phải nhớ rằng, khung cảnh này phải đặt nó vào thời điểm của thế kỷ thứ 19 mới thấy được tầm quan trọng của nó.

Theo ý muốn của Godin, nhà ở phải có đủ 3 điều kiện biểu dương cho sự giầu có thời bấy giờ (và cả thời nay!) đó là Không khí, Ánh sáng và Nước sạch.

Godin rất chú trọng đến điều kiện sống « sạch sẽ » trong môi trường của mình, sạch sẽ trong vật chất và sạch sẽ trong tinh thần. Khác với Charles Fourier, Godin quan niệm rằng « Sự tự do tình dục không được làm tổn hại đến con cái, kể cả những đứa trẻ chưa sinh ra ». Xã hội của Fourier là xã hội trưởng giả và trí thức mà những con người ấy muốn « sống hưởng thụ, ăn ngon, tự do tình dục, lựa chọn nghề nghiệp và thỏa mãn » , trong khi tại Guise, xã hội Familistère gồm những con người phải « vượt sống, ăn đủ chống đói, kiếm ra tiền, thoát vòng nợ nần, thoát khỏi nghiện rượu, và một ngày nào đó, có thể học đọc và học viết. »

Ở tầng trệt và tầng 1 trần nhà cao đến 3,15 mét, và tầng 2 cao đến 2,60 mét. Điều kiện sống này quả là « trưởng giả », khác hẳn với những nhà thấp xủm, cửa sổ nhỏ, tối tăm để tiết kiệm than củi sưởi,

Godin cải thiện đời sống công nhân bằng cách cung cấp nhà ở rộng rãi và những điều kiện căn bản tối thiểu cho họ, cho công nhân « tham gia vào sự giầu có, trưởng giả », gìn giữ sự sạch sẽ, vệ sinh thân thể. Nhà ở thoáng mát, nhiều ánh sáng, có chỗ treo áo quần mặc ngoài, tắm đứng bằng vòi nước chảy xuống, và bể bơi có nước ấm, hoàn toàn an toàn cho trẻ con.

Godin thành lập một chế độ bảo hiểm an toàn xã hội có quỹ bảo hiểm sức khỏe, tai nạn lao động, trẻ mồ côi và bảo đảm lương hưu 60 tuổi.

Godin9

Hồ bơi trong quần thể Familistère ở Guise, đáy hồ có thể nâng cao lên cho trẻ con bơi lội. Photo: MTT2017

Song song với những điều kiện vật chất, Godin đặc biệt chú trọng đến vấn đề giáo dục, là chìa khóa của Le Familistère. Giáo dục là mấu chốt của tiến bộ, của bình đẳng. Một xã hội có nhiều người mù chữ, trình độ dân trí và văn hóa thấp kém thì xã hội đó không thể có một mức độ bình đẳng cao. Godin đích thân mở lớp học tối dạy cho những công nhân nào hiếu học.

Ông thiết lập một hệ thống giáo dục 7 tầng, dạy cho trẻ có quan hệ xã hội, kèm theo những kiến thức về văn hóa và thể tháo, gồm có trẻ thơ đến 28 tháng, trẻ nhỏ đến 4 tuổi, trẻ lớn đến 6 tuổi, trẻ mẫu giáo đến 8 tuổi, trẻ đi học đến 10 tuổi, trẻ học lớp 1 đến 13 tuổi, và có lớp học thêm cho những trò xuất sắc. Ngoài ra, Le Familistère nhận chịu phí tổn ăn học cho trẻ học lớp cao hơn, ở trường nghề Ecole nationale des arts et metiers tại Chalon-sur-Marne hay Armentières và ở trường Ecole normale de Laon. Chính bà Marie Moret, sau này là vợ ông, quản lý hệ thống giáo dục đã gây tiếng vang trong vùng là được công nhận. Tại Familistère, sức khỏe của trẻ con tăng lên và tỷ lệ tử vong của trẻ giảm xuống dưới mức trung bình của xã hội.

Có tiếng chỉ trích cho rằng, Le Familistère chỉ là một cái nhà tù bằng kính, nhưng người ta có quyền tham dự hay không tham dự vào ý tưởng đó. Ý tưởng của Godin tuy chịu ảnh hưởng của Charles Fourier (1772-1837), triết gia của thế kỷ 19, được xem là nhân vật chính của trường phái Xã hội ảo tưởng, nhưng Godin cho rằng, ông đã thiết lập một quan hệ xã hội theo giá trị cộng hòa lý tưởng : tương trợ, đoàn kết và bình đẳng.

godin12

Cổng vào nhà máy Godin ở Guise. Photo: MTT2017

Hãy xem Godin định nghĩa trong thời đại « tiền tư bản » ở châu Âu của ông là : « Hai người có mặt – có thể nói rộng ra là hình ảnh của xã hội toàn diện : một người có tiền có vốn nhưng ông ta không khai thác số vốn đó bởi chính mình, cái vốn đó là công cụ lợi nhuận của ông ta ; người kia là một người lao động khéo léo mà sự giầu có chính là những khả năng của ông ta….. » . Vì thế, nên Godin muốn « tái phân phối «  lại lợi nhuận ông thâu được qua kết quả của nhà máy.

Năm 1880 Godin sáng lập ra « Société du Familistère de Guise – Association coopérative du capital et du travail » (Công ty Familistère tại Guise – Hội kết hợp giữa tư sản và lao động). Một tổ chức phân chia thành phần hội viên tham gia và có quyền bầu cử được thí nghiệm nhiều lần và chi li.

Năm 1883, nhà máy của Godin có 1.400 người thợ, 1.200 người có chỗ ở trong Familistère (với gia đình), khu Cambrai đang xây dựng có thể chứa đựng thêm 600 người (gia đình) nữa. Trong số này có 900 người có cổ phần trong Familistère, tổng số vốn của họ lên đến 1.200.000 quan, và Hội có 460.000 quan dự trữ.

Nhưng đến cuối đời Godin than van không có người nối tiếp lý tưởng và sự nghiệp của ông vì con người quá « ích kỷ », không biết nghĩ đến người khác.

Sau khi Godin qua đời ngày 15.01.1888 Le Familistère đứng vững thêm được một thế kỷ nữa, trải qua năm người quản lý Marie Moret, François Dequenne, Louis Victor Colin, René Rabaux và người cuối cùng Raymond Anstell từ năm 1888 đến năm 1968 thì bị công ty Le Creuset, trong cơn sốt toàn cầu hóa đã bắt đầu , mua lại. Le Creuset giữ nhà máy và bán lại tất cả các nhà ở cho…những người đã có cổ phần của Familistère. Hiện nay, tại Pháp người ta vẫn bán sản phẩm cao cấp mang thương hiệu Godin, một cái bếp có giá từ 2.000 đến trên 10.000 euro. Nhưng sau nửa thế kỷ ngưng hoạt động, trong thời đại toàn cầu hóa tư bản, Guise chỉ còn là một thành phố thiếu vắng hoạt động, buồn bã. MTT

Tài liệu tham khảo :

  1. Tư liệu văn khố Aisne ( Merci Pierre pour la recherche !)

2. Jean-Francois Draperi, Godin, Inventeur de l´ Economie Sociale, Editions REPAS 2010

3. Jean-Baptiste André Godin, La politique du travail et la politique des privilèges, Editions La Digitale 2009

Godin5

Công nhân cổ phần của Godin vào cuối thế kỷ thứ 19. Photo: MTT2017

Godin6

godin14

Mộ của Godin ở một góc vườn cây ăn trái thuộc quần thể Familistère ở Guise. Photo: MTT2017

Khu nhà tập thể công nhân chính có sân ở giữa mái che bằng kính. Photo: MTT2017

Quần thể Le Familistère vào thế kỷ thứ 19.

Publicités

Hoàng gia châu Âu và thời hiện đại

01/09/2017

Hoàng gia châu Âu và thời hiện đại – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2017

Trong thế kỷ thứ 21 toàn cầu hóa, ở châu Âu vẫn còn những hoàng gia trị vì trong nhung lụa ấm êm. Tổng cộng còn hiện hữu 12 triều đình hoàng gia châu Âu, có thể kể ra ở đây những hoàng gia trị vì như Bỉ, Tây Ban Nha, Lục Xâm Bảo, Anh và Bắc Ái Nhĩ Lan, Hòa Lan, Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Liechtenstein và xứ Monaco. Hoàng gia tại Pháp và Đức tất nhiên là còn nhiều gia đình của nhiều dòng họ khác nhau, nhưng họ đã mất quyền cai trị và đại diện dân tộc trực tiếp. Ngoài ra còn phải kể đến những hoàng gia khác không theo chế độ cha truyền con nối như Vatican và Andorre.

Trong các hoàng gia trị vì, thì hoàng gia Anh vì sự giầu có và uy quyền của mình là đáng kể nhất. Ở thế kỷ thứ 21, thể chế đế quyền theo luật thần quyền vẫn còn hiện hữu ở nước Anh. Đế quyền Anh, biểu hiện bởi nữ hoàng Anh Elisabeth II đồng thời cũng là giáo chủ của Cơ Đốc giáo, quốc giáo tại Anh. Đế quyền của nước Pháp cũng như vậy, vua Pháp làm vua « par la grâce de Dieu », vì ý muốn của Chúa, được sắc phong bởi Chúa.

Nước Anh, lại có thêm một đặc điểm là theo thể chế đế quyền theo nghị viện (quân chủ lập hiến) , tức là Vương quốc liên hiệp Anh và Bắc Ireland có Nữ hoàng Elisabeth II , lên ngôi vua ngày 06.02.1952, là nguyên thủ quốc gia và hai nghị viện (hệ thống Westminster) : Hạ viện (Thứ dân viện) và thủ tướng do dân bầu và Quý tộc viện được bổ nhiệm (gồm có thành phần quý tộc và 26 vị giám mục của Nhà thờ Anh quốc).

Nữ hoàng Anh cũng là tổng tư lệnh quân đội Anh có khoảng 150.000 quân lính, bộ Quốc phòng của chính phủ lãnh nhiệm vụ quản lý, gồm có ba nhánh ; Hải quân lục chiến Hoàng gia Anh quốc, Lục quân Anh quốc và Không quân Hoàng gia Anh quốc, được xem như là một lực lượng hùng mạnh nhất trên thế giới vì có bom nguyên tử, vũ khí hạt nhân.

Mọi thần dân của nước Anh đều phải quỳ gối trước bà, kể cả thành viên trong gia đình. Các nghi thức ngoại giao của triều đình Anh đã làm cho không ít các nhà lãnh đạo các nước vấp váp trong các buổi gặp gỡ chính thức. Carla Bruni, đương kim đệ nhất phu nhân nước Pháp thời Nicolas Sarkozy, đã tuân theo nghi thức quỳ một gối trước nữ hoàng Elisabeth II để tỏ lòng kính trọng.

Nữ hoàng Elisabeth II giữ quyền tham vấn, khích lệ và cảnh cáo. Trên nguyên tắc, bà tôn trọng các quyết định của thủ tướng chính phủ. Mỗi tuần, nữ hoàng Elisabeth II nghe báo cáo trực tiếp từ thủ tướng Anh. Trên thực tế, nữ hoàng trị vì nhưng không lãnh đạo quốc gia, quyền lãnh đạo nằm trong tay thủ tướng. Dù vậy, bà và một số người tiêu biểu trong hoàng gia Anh có một ảnh hưởng lớn đến đời sống và suy nghĩ của dân chúng. Hiện nay, hoàng tử William và vợ là công chúa Kate (Catherine Middleton) cùng với hai đứa con nhỏ là hoàng tử tí hon George và công chúa tí hon Charlotte, và hoàng tử Henry, cả hai là con của công chúa quá cố Diana, đang chiếm cảm tình của nhiều người trên thế giới.

Ở một số hoàng gia châu Âu người ta thấy có một sự thay đổi thế hệ đã diễn ra, vua chúa cáo chung để nhường lại ngai vàng cho con cái, như ở các triều đình nước Hòa Lan, nước Tây Ban Nha, nước Bỉ. Riêng ở Monaco thì dù trẻ trung với hoàng tử Albert II prince de Monaco đứng đầu, nhưng đó lại là thứ triều đình tập trung mọi quyền lực hiến pháp, lập pháp và hành pháp về tay một người là Vua như ở Bỉ, Tây Ban Nha và ở Anh (monarchies constitutionnelles).

Ngày nay, những biểu hiện về quyền lực của vua hay nữ hoàng như uy quyền tuyệt đối (monarchie absolue), uy quyền được phân định bởi hiến pháp (monarchie constitutionnelle), uy quyền được phân định bởi quốc hội (monarchie parlementaire) được giảm thiểu lại theo định nghĩa của Adolphe Thiers về « vương quyền » : « Vua, không quản lý, không cai trị, chỉ trị vì » (Le roi n’ administre pas, ne gouverne pas, il règne.). Do đó, các « vương quyền » ở châu Âu không tham gia trực tiếp vào quản lý chính trị và hành chánh, xã hội của các chính phủ.

Chỉ riêng Vatican giữ địa vị một vương quyền có ba đặc điểm, có uy quyền tuyệt đối, thần quyền và được bầu ra, mà người đứng đầu chẳng ai khác hơn là Đức Giáo hoàng.

Những người kế thừa tước vị vua, chúa, ngoài một số ngoại lệ là được bầu lên bởi một hội đồng nhất định, thường là cha truyền con nối, kế thừa theo huyết thống.

Ngai vàng mỗi nước giầu có như thế nào là một điều bí mật. Các báo chí châu Âu chỉ phỏng đoán được rằng giầu nhất là hoàng gia Anh, thứ nhì là hoàng gia Liechtenstein, Lục Xâm Bảo, thứ ba là hoàng gia Monaco, thứ tư là hoàng gia Hòa Lan có khoảng 113 triệu euros, hoàng gia Thụy Điển xếp vào hạng « ít tiền » với 24 triệu euros và « nghèo » nhất là hoàng gia Na Uy.

Tại sao người dân châu Âu lại hoài cổ ? Một câu hỏi có nhiều câu trả lời của những người bảo hoàng. Theo họ, với tình trạng dân chủ hiện đại, quốc gia được dẫn dắt bởi những người có khuynh hướng kỹ thuật, thay đổi luôn luôn, « thiếu đi mặt nhân bản và những tính chất lâu dài, truyền thống, đảm bảo mọi quyền lợi và tự do, phân giải của một triều vua hiện đại. » .

Trên thực tế, những « hoàng tử, công chúa «  hiện đại chính ra bị làm giảm giá trị của họ, khi họ và một vài những công việc họ thực hiện chỉ xuất hiện trên những tờ báo « lá cải », báo « cầu vồng », những trang mạng tư nhân, cá nhân và không thoát ra khỏi những cách trình bầy về ngày sinh, tháng đẻ, những vụ nghỉ hè, những lễ lộc vui chơi, những lâu đài, những trang sức hoàng gia, những y phục lụa là lộng lẫy, nói tóm lại là những gì hào nháng nhất, hoành tráng nhất, sang trọng nhất, giầu có nhất. Điều này trái ngược lại với thực tế đời sống hiện tại của đa số dân chúng lẩn quẩn trong vòng đi làm, gia đình và cuộc sống eo hẹp.

Những vụ xì-căng-đan và tham nhũng của các gia đình hoàng tộc, chẳng khác gì như gia đình thường dân, gói ghém trong hai chữ « tình và tiền » thường gây xôn xao, sôi nổi trong dư luận, thí dụ như vụ Diana, vụ vua Thụy Điển, vụ công chúa Tây-Ban-Nha, vụ vua Hòa Lan…, càng làm cho làng báo được dịp kiếm tiền.

Những cuộc hôn nhân có đẳng cấp của các gia đình hoàng gia lại làm cho dân càng thấy rõ biên giới khó lọt vào gia đình hoàng gia, con vua thì lại làm vua, con chú sãi chùa thì quét lá đa. Họ cũng thường lấy nhau có quan hệ gia đình, kể cả anh chị em cùng cha cùng mẹ. Các hoàng gia vì thế có quan hệ gia đình chằng chịt với nhau, gốc Đức, Áo, Pháp, Ý là mạnh nhất. Ngôn ngữ của họ là tiếng Pháp, tiếng Đức và tiếng Anh là chính.

Dù vậy, trong cuộc canh tân, một số gia đình hoàng tộc châu Âu đã cởi mở hơn trước, thí dụ như các cuộc hôn nhân giữa vua Tây Ban Nha Felipe và bà Letizia, vua nước Hòa Lan Willem-Alexander với bà Maxima, thái tử thừa kế Na Uy Haakon với bà Mette-Marit, công chúa thừa kế nước Thụy điển Victoria với ông Daniel, thái tử thừa kế Đan mạch Frederik với bà Mary, hoàng tử Albert II với bà Charlene, quận công Lục Xâm Bảo với bà Maria Teresa, vua Na Uy Harald V với bà Sonja, vua Thụy Điển Charles XVI Gustave với bà Silvia…. là những người « dân thường » được phong vương tước sau khi cưới, mang tước vị hoàng hậu, hay công chúa, hoàng tử. Những mỹ nhân hoàng gia này đem lại ít nhiều nét mới lạ cho các vương triều, và có vẻ như rút ngắn lại khoảng xa cách với thường dân, mà trong ngôn ngữ của Pháp chẳng hạn thì là « sujet «  (thần dân) khác với danh xưng của nền cộng hòa « citoyen » (công dân).

Một trong những lập luận của những người bảo hoàng cho rằng, những vị tổng thống Pháp, tại chức hay về hưu, tốn kém cho dân, cho ngân sách quốc gia còn hơn là cho vua chúa.

Các cựu tống thống Pháp còn sống, Valéry Giscard d’Estaing tốn kém 2,5 triệu euros, Nicolas Sarkozy 2,2 triệu euros, Jacques Chirac 1,5 triệu euros mỗi một năm trong tiền thuế của dân. Các cựu thủ tướng Pháp cũng hưởng nhiều quyền lợi chi trả bởi tiền đóng thuế của dân, nào là xe hơi có tài xế, tiền di chuyển, tiền văn phòng có nhân viên…

Trong khi đó, hành chánh Pháp lại đè nén dân chúng. Chính sách thuế vụ khác nhau vì nhiều loại thu thuế khác nhau cho nên khó so sánh, nhưng một thống kê của OCDE năm 2016 cho biết mức thâu thuế bình trung tại Pháp cao nhất châu Âu 40% cho một gia đình có hai con, trong khi đó mức thâu thuế trung bình tại châu Âu là 26,6 % ! Nước Pháp dẫn đầu về thuế vụ với 40%, kế tiếp là Na Uy 39,2 %, Bỉ và Ý 38,6%. (Capital, ngày 11.04.2017).

Tháng 7 năm 2017, viện Molinari công bố một bảng tính thuế vụ đặc biệt, qua đó họ tính là trong một năm người dân mất mấy tháng để đóng đủ mọi loại thuế cho chính phủ và còn lại mấy tháng để sinh sống cho chính mình. Theo bảng « giải phóng thuế vụ «  này của viện Molinari thì người dân Pháp phải làm việc tới ngày 29.07 thì họ mới được giải phóng bởi mức thâu thuế của chính phủ (Le Figaro, 25.07.2016) ! Bẩy tháng trời làm việc không công cho bổn phận đối với ngân sách quốc gia. Một bảng tính thuế khác cho biết trong khoảng từ 2011 đến 2016, dân chúng Pháp đã đóng tăng vượt mức đến 58 tỷ euros (Le Figaro 25.07.2016). Sưu cao thuế nặng luôn làm cho dân chúng bất mãn.

Đã vậy, đầu mùa hè 2017, muốn giữ lời hứa với vợ trước khi đắc cử tổng thống Pháp, ông Macron có ý định chính thức lập ngôi vị « Đệ nhất phu nhân nước Pháp » cho bà Brigitte Macron. Ngôi vị này chưa hề có trong lịch sử nước Pháp kể từ khi bà hoàng hậu Marie-Antoinette và vua Louis XVI bị Cách mạng dân chủ Pháp 1789 chém đầu. Một kiến nghị của một công dân được đưa lên mạng Internet chống đối lại việc này, với lý do chính yếu nhất là dân chỉ bầu một người làm tổng thống, dân không bầu một cặp vợ chồng lên cai trị. Hơn nữa, trong thời gian vừa qua lại xảy ra sự kiện Fillon-Penelope, ông Fillion bị tố cáo thâu nhận (ảo) vợ làm nhân viên ăn lương cho mình. Kết quả là trong một thời gian ngắn có hơn 300.000 chữ ký cùng phản đối. Điện Élysée ngày 21.08.2017 phải ra một quyết định lập lờ nửa chừng dưới chiêu bài là « tất cả phải được sáng sủa « : không sửa đổi Hiến pháp 1958, không có lương bổng, không có ngân sách cho bà Brigitte Macron, ngược lại bà có một văn phòng, thư ký riêng và cố vấn, cận vệ, với lý do mỗi tuần bà nhận được khoảng 150 cái thư, phải trả lời, và có một « vai trò công cộng » là đại diện nước Pháp qua vị trí « Đệ nhất phu nhân «… . Trên thực tế, qua nhiều bài báo trên các báo chí Pháp, thần dân được biết rằng vợ chồng tổng thống Macron là có ý muốn duy trì tình trạng « ta với mình như hai là một » nên muốn hợp thức hóa cương vị đệ nhất phu nhân với cương vị tổng thống, bà là cố vấn  »thẳng thắn » duy nhất, người giữ các buổi hẹn riêng, biên tập các bài diễn văn, xuất hiện cùng lúc ở mọi nơi với chồng, tóm lại, bà có một ảnh hưởng không nhỏ lên ông Macron, nhỏ hơn bà 24 tuổi. Năm 2022, cuối nhiệm kỳ tổng thống Macron thì bà Macron đã được 69 tuổi.

Cuộc Cách mạng dân chủ 1789 đã thiết lập một chính thể mới cho nước Pháp, chính thể cộng hòa Pháp với ba giá trị đặc trưng Liberté-Égalité-Fraternité. Trong thời hiện tại, hầu như các giá trị này đã mất đi phần nào sắc mầu nguyên thủy của nó, được « giải thích » lại theo mức độ, màu sắc chính trị. Từ đó đến thời hiện đại toàn cầu hóa người dân ngày càng bị « theo dõi » một cách vô hình với những hệ thống vi tính tinh vi qua thân thế, sức khỏe, ngân hàng, thuế vụ, nhà cửa, xe cộ, và qua cả phiếu trả tiền điện, trả tiền nước…., có thể nói, một con kiến cũng không lọt. Kiểm soát mọi hành vi là một cách để tự bảo vệ nhưng kiểm soát quá đáng và không đúng đối tượng, vô lý thì sự kiểm soát này mang một tính chất đe dọa lên dân chúng. Hơn thế nữa, dưới ảnh hưởng của các cuộc khủng bố, nhất là đối với người nhập cư ở châu Âu, dù là đã có quốc tịch của một nước châu Âu, ngày càng bị kiểm soát nghiêm ngặt.

Thử đặt câu hỏi «  Liberté-Égalité-Fraternité «  chỉ có cho những người Pháp gốc…Pháp hay có cả cho những người Pháp gốc…nước ngoài ? Những người có tinh thần kỳ thị, chống nhập cư, chống « ăn bám » xã hội, hay theo đảng FN (Front National) đang làm việc trong những cơ quan hành chánh nhặt nhạnh những người có gốc nước ngoài nhưng đã có quốc tịch nước sở tại để « trấn áp » bằng những « biện pháp » hành chánh. Một hành động đáng lẽ không thể xảy ra, vì một khi đã trở thành công dân của nước sở tại thì người ấy có đầy đủ bổn phận và quyền lợi như mọi người khác và chấp nhận hiến pháp, chấp nhận tuân theo luật lệ, chấp nhận văn hóa với mọi giá trị của nó. Nhưng những người có tí quyền trong phạm vi hành chánh vẫn tiếp tục dùng nhiều hình thức « trấn áp tinh thần », để lung lạc, để gây sợ hãi, để xem áp lực của họ đạt được đến mức nào thì bị phản ứng lại, chận lại. Còn phải kể ra những bất công trong các xã hội châu Âu mà du khách không trông thấy. MTT

626232-mathilde-et-philippe-de-belgique-lors-637x0-3

Hoàng hậu Mathilde và vua Philippe, Vương quốc Bỉ

albert-charlene-q

Hoàng tử Albert II và công chúa Charlene, Vương triều Monaco

le-prince-felipe-d-espagne-et-son-epouse-letizia-ont-ete-hues-par-la-foule-a-l-opera-de-barcelone-le-30-mai_2451409

Hoàng hậu Letizia và vua Felipe, Vương triều Tây Ban Nha

Imagee-1-1-978x730

Gia đình hoàng gia Đan Mạch với vợ chồng nữ hoàng Margrethe II và con, cháu

koenigin-silvia-schweden-02

Vua Gustave và hoàng hậu Silvia ngày cưới, Vương triều Thụy Điển

cr

Công chúa thừa kế Mette-Marit, Vương triều Na Uy

sans-titre-10-978x1263

Nữ hoàng Elisabeth II, Vương triều liên hiệp Anh và Bắc Ái Nhĩ Lan

CamillaParkerBowlesRoyalFilmPerformanceQ9zfoNYrTbDx-709x1024-978x1412

Quận chúa xứ Cornwell, phu nhân thái tử Charles, Vương triều Anh

Diana, công chúa xứ Wales nước Anh

27/08/2017

Diana, công chúa xứ Wales nước Anh – ©Mathilde Tuyet Tran, France 2017

Đã hai mươi năm qua rồi cái chết vì một tai nạn xe hơi trong một đường hầm ở Paris dưới cây cầu Alma của công chúa  Diana ngày 31.08.1997, hưởng thọ được có 36 tuổi, vẫn còn khêu ngợi lên nhiều thương cảm trong lòng những người ái mộ, đồng thời đưa người ta chú ý đến hơn một đời sống đế vương trong thế kỷ thứ 21 này, vì những người có quan hệ đến cuộc đời bà còn sống, và tai nạn xảy ra còn chứa đựng nhiều tình tiết bí ẩn, cầu cả 80 năm nữa thiên hạ mới được biết sự thật những gì đã xẩy ra.

Đêm ngày 30.08.1997 chiếc xe Mercedes sơn mầu đen, thuộc khách sạn Ritz, gồm có 4 người : Diana, Dodi Al-Fayed, cận vệ Trevor Rees-Jones và tài xế Henri Paul, đâm vào một trụ cầu vào lúc 00.25 giờ, không rõ nguyên nhân, đầu xe bẹp dúm, khiến cho hai người Dodi và tài xế chết ngay tại chỗ, người cận vệ bị thương nặng và Diana hấp hối. Được chở về nhà thương Pitié-Salpêtrière (Paris) cứu cấp, khoảng 4 giờ sáng ngày 31. thì Diana được chính thức khai tử.

Dư luận đồn rằng, thái tử Charles là nguyên nhân cái chết của Diana và MI6, cơ quan tình báo Anh, đã dàn cảnh thực hiện tai nạn. Thiên hạ cũng đồn đại là Diana đang mang thai với Dodi, lúc chết. Hai mươi năm sau, sự quan tâm của dư luận đối vởi những hình ảnh như in đậm trong trí nhớ như đám cưới, cuộc đời và cái chết, đám tang Diana không giảm. Nó quá đẹp, quá vương giả ngay trong thế kỷ 20, cái hậu lại quá bi thảm, một cái chết tình cờ như những cái chết khác, làm cho người ta nhớ lâu và khi thời gian trôi qua, nhìn lại, sẽ hiện ra những sự thật.

Năm nay, từ cả tháng trước, báo chí đã dần dà đưa tin về Diana, đủ mọi loạt bài, từ bài về những chiếc mũ, đến những bộ quần áo của những buổi tiếp tân chính thức, những cuộc gặp gỡ, những « chiến dịch » hành động vì từ thiện…không chỉ trên những báo « lá cải », báo « cầu vồng » mà trên những tờ báo đứng đắn để kỷ niệm 20 năm ngày chết của Diana.

Diana chỉ mới nổi tiếng từ khi lấy thái tử Charles năm 20 tuổi, cho đến khi bị tai nạn là mới có 16 năm trôi qua, trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó, bà đã dùng sự đau khổ riêng tư để chọn cho mình một chỗ đứng trong tâm tình dân chúng, qua những hành động từ thiện, can đảm của mình.

Công chúa Diana của hoàng gia nước Anh, xuất thân là tiểu thư dòng họ Spencer, tên của bà là Diana Frances Spencer, sinh ngày 01.07.1961, là con thứ ba của Edward John Spencer (1924-1992), ông là đời thứ tám mang tước vị Earl Spencer và vợ thứ nhất là bà Frances Roche (1936-2004). Ngày Diana được sinh ra, tờ báo Times lên vài dòng báo tin vui. Nét đẹp của bà là sự tươi trẻ, quý phái rất Anh quốc, ban đầu còn ngây thơ theo chồng đi hưởng tuần trăng mật, còn rụt rè trước ống kính cho đến lúc trở nên dạn dĩ. Với giọng nói nhẹ nhàng, trầm và tự nhiên Diana lôi cuốn người nghe.

Tương truyền, bà được lựa chọn làm vợ thái tử Charles, người sẽ lên kế vị nữ hoàng Elisabeth II, tức là trên nguyên tắc Diana sẽ trở thành nữ hoàng Anh quốc khi thái tử lên làm vua, vì dòng họ Spencer thuộc vào hàng quí tộc Anh quốc lâu đời, bà Diana còn là hậu duệ những nhân vật nổi tiếng như Winston Churchill, của George Washington, Franklin D. Roosevelt, và vì bà còn là trinh nữ.

Trước đám cưới với thái tử Charles, Diana làm việc tại một trường mẫu giáo với vai trò nhà giáo cho trẻ em.

Trước Diana, thái tử Charles đã có một loạt nhân tình, trong số này có cả chị gái của Diana. Nhưng lúc ấy, thái tử Charles lại đang có quan hệ yêu đương với một người khác, bà Camilla Shand, hai người không hứa hẹn sẽ kết hôn với nhau. Bà Camilla Shand đi lấy chồng khác, ông Andrew Parker-Bowles, đám cưới của Camilla Shand được tổ chức vào tháng 7-1973.

Ngày 06.02.1981 thái tử Charles cầu hôn tiểu thư Diana tại lâu đài Windsor. Rồi ngày 24.02.1981 lễ đính hôn Charles-Diana được điện Buckingham chính thức công bố. Chiếc nhẫn đính hôn nổi tiếng của Diana trị giá 28.000 bảng Anh, một hột saphir mầu xanh dương cẩn kim cương, sau này được hoàng tử kế vị William tặng cho vợ là công chúa Catherine Middenton, tục danh là Kate, để nhớ lại người mẹ xấu số của mình.

Đám cưới của Diana và thái tử Charles được cử hành rất trọng thể và hoành tráng tại thánh đường St Paul, London ngày 29-07-1981. Hơn 3.500 khách tham dự lễ cưới được mời vào nhà thở, ngoài đường phố 2 triệu dân chúng đứng xem cỗ xe ngựa cô dâu chú rể diễu hành, và trên thềm điện Buckingham, trên ban công, Charles và Diana trao đổi nụ hôn đi vào lịch sử trước tiếng vỗ tay ào ạt của hàng triệu người đổ về chứng kiến. Trên thế giới ước tính có đến 2 tỷ người theo dõi đám cưới của Diana và thái tử Charles được xem như « sự kiện thế kỷ thứ 20 » trên truyền hình trực tiếp. Ngày cưới được tuyên bố là ngày lễ quốc gia. Cô dâu Diana xuất hiện trong bộ áo cưới trị giá 9.000 bảng anh bằng lụa mầu trắng ngà của nhà thiết kế David Emanuel, được giữ bí mật cho đến phút chót, đầu đội vương niệm Cambridge Lover’s Knot Tiara, đúng như sự chờ đợi mong muốn của dân chúng về một « nàng công chúa ngủ trong rừng » đẹp lãng mạn và trong trắng như trong cổ tích, chuyện tiểu thuyết.

Tiểu thư Diana, được báo chí âu yếm gọi là Lady Di, kể từ khi lấy chồng, được mang rất nhiều tước vị hoàng gia, bà là (theo tiếng Pháp) Son Altesse royale la princesse de Galles et comtesse de Chester, duchesse de Cornouailles, duchesse de Rothesay, comtesse de Carrick, baronne de Renfrew, Dame des Îles, princesse d’Écosse ; nhưng tước hiệu chính là Son Altesse royale la princesse de Galles (phải được dịch ra tiếng Việt cho đúng nghĩa là « quận chúa xứ Wales »; báo chí tiếng Việt thường dịch chữ Princesse là công nương, tôi thấy chữ nương theo nghĩa này không chỉnh)

Diana hạ sinh cho hoàng gia Anh quốc hai hoàng tử, William Arthur Philip Louis (1982) và Henry Charles Albert David (1984), (hoàng tử Henry thường được báo chí viết là Harry) đứng hàng thứ hai và thứ ba trong vị trí kế vị ngai vàng của Elisabeth II, sau người cha là thái tử Charles, cả ba người mang họ của thế hệ này là Mounbatten-Windsor.

Hoàng gia Anh hiện tại, thay vì mang tên của Albert de Saxe-Cobourg-Gotha thuộc dòng quí tộc nước Đức, chồng của nữ hoàng Anh Victoria, là « Saxe-Coboug-Gotha » thì năm 1917, vì nguyên do đại chiến thứ nhất (1914-1918), dân chúng thù ghét người Đức nên đã đổi tên lại là Windsor, tên của một lâu đài thuộc sở hữu của hoàng gia Anh. Nguyên tên của nữ hoàng Anh là Elisabeth Alexandre Mary von Sachsen-Coburg und Gotha, viết theo tiếng Đức. Năm 1960 nữ hoàng Elisabeth ký sắc lệnh cho hậu duệ của bà và chồng mang họ Mountbatten-Windsor. Chồng của Elisabeth II là Philipp de Grèce, có nguồn gốc Hy Lạp (cha là André de Grèce) và Đức (mẹ là Alice de Battenberg), thuộc về nhánh dòng Oldenburg. Vài tháng trước đám cưới với Elisabeth, ông Philipp lấy quốc tịch Anh và đổi tên lại là Philipp Mountbatten, thể theo họ của ông bà ngoại mang tên Battenberg, cũng được đổi lại là Mounbatten. Chính ra, Elisabeth II có họ hàng với Philippe kể từ cùng một bà cố ba đời là nữ hoàng Anh Victoria.

Cuộc đời vàng son không đẹp như người ta tưởng. Diana trở thành người vợ bị phản bội ngay từ đầu vì thái tử Charles không hề cắt đứt quan hệ với Camilla Shand, nay là Camilla Parker-Bowles, đang có chồng và có hai người con.

Quan hệ tay ba Diana-Charles-Camilla làm cho Diana rất đau khổ, Diana không chịu đựng nổi mối quan hệ này, phải chia xẻ hay phải làm ngơ. Bà phản ứng lại bằng nhiều cách, nhiều bệnh tật, cũng không xong, kể cả việc bà có nhân tinh, cận vệ hay người trong vòng quen biết, bên cạnh kể từ năm 1985. Cuối cùng, Diana xử dụng phương tiện báo chí để tố giác người chồng không chung thủy, mặc dầu bà biết trước rằng hoàng gia Anh và cánh bảo thủ sẽ phản ứng lại vì họ không muốn một điều gì có thể bôi biếu, phương hại đến ngai vàng. Người Anh nổi tiếng là « lạnh lùng, bảo thủ và kín đáo» trên thế giới.

Tháng sáu năm 1992 Andrew Morton viết cuốn « Diana-Những sự thật của cuộc đời » được xuất bản. Tất nhiên, cuốn sách này gây sóng gió trong làng báo, những nhà báo muốn bảo vệ vương quyền chống đối lại dữ dội. Chỉ một ngày sau đó, thái tử Charles đề nghị Diana ly dị, nhưng nữ hoàng Elisabeth II không đồng ý vì ảnh hưởng trong dư luận của Diana quá lớn. Ngày 09.12.1992 thủ tướng Anh John Major chỉ thông báo tin ly thân chính thức.

Hai năm sau, ngày 29.6.1994 thái tử Charles, trong một chương trình truyền hình với nhà báo Dimbleby của BBC có 14 triệu khán giả theo dõi, thú nhận công khai việc ngoại tình với Camilla ngay từ khi kết hôn với Diana. Dân Anh không hẳn đồng tình với thái tử về chuyện ngoại tình công khai.

Ngày 14.11.1995, nhân ngày lễ sinh nhật của thái tử Charles, đài BBC tuyên bố sẽ chiếu cuộc phỏng vấn Diana thu hình một tuần trước đó, làm cho thành phố Luân Đôn vắng như chùa bà đanh, 23 triệu người ngồi trước máy truyền hình chờ đợi xem cuộc phỏng vấn. Thực tế, vào ngày 20.11.1995 BBC mới dám lên sóng ! 92% dư luận đứng về phía Diana.

Sau đó, ngày 14.12.1995 Diana tố cáo công khai rằng bà Alexandra Legge-Bourke, thư ký riêng của thái tử Charles, đã phá thai vì đã có quan hệ yêu đương với thái tử.

Đến đây thì nước đã tràn ly, ngày 20.12.1995 nữ hoàng Elisabeth II đích thân viết thư đề nghị Diana-Charles ly dị, với sự đồng thuận của đức giám mục Canterbury và Thủ tướng chính phủ. Cuối cùng, cuộc ly dị giữa Charles và Diana được công bố chính thức ngày 28.08.1996. Nữ hoàng Anh cho phép Diana giữ tước hiệu « quận chúa xứ Wales », nhưng không được giữ tính cách « Her Royal Highness ».

Người ta hiểu nỗi đau khổ của Diana nhiều hơn khi sau khi bà qua đời chỉ một năm sau khi ly dị, điều mà tự thâm tâm bà không mong muốn nó xảy ra. Năm 1997, sau khi Diana đã chết, thái tử Charles ngày càng xuất hiện công khai với Camilla, đã ly dị chồng từ năm 1995, rồi đi đến hôn nhân giữa thái tử Charles và Camilla vào ngày 09.4.2005.

Camilla Shand sinh ngày 17.07.1947, lớn hơn Diana những 14 tuổi, thái tử Charles sinh năm 1948 nhỏ hơn một tuổi.

Sau khi chính thức kết hôn với Charles, bà được hưởng những tước vị tương tự như Diana « Her Royal Highness The Princess of Wales, The Duchess of Cornwall, Duchess of Rothesay, Countess of Carrick, Baroness of Renfrew, Lady of the Isles, Princess of Scotland », nhưng để tránh Diana bà chỉ dùng tước hiệu « Quận chúa xứ Cornwall » .

Cho đến giờ câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ là khi thái tử Charles lên ngôi vua, thì Camilla có là hoàng hậu nước Anh hay không, vì cảm tình của dân Anh vẫn thiên về Diana, thậm chí có tiếng nói đòi hoàng tử William lên kế vị nữ hoàng Elisabeth, một cách truất ngôi thái tử Charles.

Khả năng Camilla sẽ lên ngôi hoàng hậu chính thức vẫn hiện hữu vì bà thường xuất hiện bên cạnh nữ hoàng Anh và chồng một cách chính thức với tất cả những biểu hiện uy quyền và trang sức quý giá của hoàng gia Anh.

Gần đây, các hoàng tử William và Henry đã thổ lộ trên báo chi ít nhiều tâm tình của mình khi mất mẹ. Đó là một cái tin dữ dội đối với hai người con trai của bà, khi ấy mới 15 và 13 tuổi. Họ bàng hoàng, mà phải nén tất cả mọi biểu lộ tình cảm lại, đi theo cỗ xe tang kéo quan tài của mẹ. Họ đã mất nhiều năm dồn nén như vậy, không được biểu lộ tình cảm, không được nói lên sự đau khổ, suy nghĩ của mình, nhất là đối với hoàng tử Henry, đã từng bị nghi không phải là con của thái tử Charles.

Tại châu Âu, ngoài hoàng gia Anh, còn tồn tại vương quyền tại các nước Bỉ, Hòa Lan, Đan Mạch, Thụy Điển, Phần Lan, Tây Ban Nha, Lục Xâm Bảo và Monaco là vương quyền tại vị, được các chính thể cộng hòa, dân chủ nhìn nhận. Họ cực kỳ giầu có, sống trong vàng son nhung lụa, mỗi năm lại được hưởng lương bổng trích ra từ ngân sách quốc gia cho mỗi một thành viên trong gia đình hoàng gia. Tạp chí Forbes đánh giá tài sản riêng của nữ hoàng Elisabeth II trong năm 2010 là 450 triệu đô la, nhưng trên thực tế không ai biết là hoàng gia Anh giầu có đến mức nào, nếu kể đến giá trị những lâu đài, những sưu tập văn hóa, những kho tàng trang sức, những nông trại, những đầu tư kinh tế…

Phần lớn, họ nhận nhiệm vụ đại diện cho dân tộc của họ trong những lãnh vực về văn hóa, từ thiện và ngoại giao. Hai nước Pháp và Đức cũng có nhiều gia đình hoàng gia với tư cách tư nhân, không được chính thể cộng hòa công nhận. Họ là đề tài của một số tờ báo, trang mạng chuyên đưa tin « hoàng tử, công chúa », hấp dẫn một thành phần dân chúng, như là một sân khấu tráng lệ huy hoàng trong chuyện cổ tích mà quên rằng mình đang ở vào thế kỷ thứ 21 toàn cầu hóa. MTT

cr

Công chúa Diana đẹp lộng lẫy trong thời vàng son của bà

di

Ngày cưới của Diana, một nàng công chúa trong chuyện cổ tích hiện đại

1024px-Windsor_Castle_from_the_air

Lâu đài Windsor, thuộc sở hữu của nữ hoàng Elisabeth II

gettyimages-138654733

Cỗ xe tang của Diana

gettyimages-136110362

Hoàng thân Philipp, hoàng tử William, bá tước Spencer, hoàng tử Henry, thái tử Charles đi sau cỗ xe tang

Diana_Memorial,_Althorp_-_geograph.org.uk_-_908606

Ngôi mộ của Diana

330px-Althorp_House

Lâu đài của dòng họ Spencer

Nắng Tây Nguyên, trăng Tây Nguyên

24/08/2017

Nắng Tây Nguyên, trăng Tây Nguyên – ©Mathilde Tuyet Tran, France 2015

Tôi về thăm quê đã từ nhiều năm, nhưng chưa có năm nào như năm nay cái cảm giác „Từ Thức về quê“ lại mạnh rõ ràng hơn hết. Một sự „cựa mình“ từ Bắc chí Nam, chỗ nào cũng có đường mới, cầu mới: Cựa mình vì cầu mới đường mới đếm không hết. Không có cầu đường giao thông thì làm sao có phát triển kinh tế ? Từ cây cầu Nhật Tân và đại lộ Võ Nguyên Giáp rất mới, hiện đại, to, rộng, cho đến những gầm cầu đầy cỏ xanh và hoa lá ở Hà Nội, cho đến cây cầu Sài Gòn mà bề rộng đã được nhân lên gấp hai, mỗi chiều bốn lằn xe hơi và một lằn xe hai bánh, cho đến cầu Ông Lãnh, cầu chữ Y đều được làm lại mới, cầu Đồng Nai, cầu Kênh Tẻ, cầu Nguyễn Văn Cừ, đại lộ Đông Tây chạy dài theo bờ kênh Bến Nghé, bến Chương Dương (nay là đường Võ Văn Kiệt) để về miền Tây hướng Tân An, Long An…nước xanh cá lội, khác hẳn những đẫy nhà sàn mọc trên cọc bên bờ kênh nước đặc quánh đen thui bốc mùi xú uế xưa kia…trong Nam, cho đến cảng T1 mới của phi trường Nội Bài mà hành lang từ cửa máy bay vào chỗ khám hộ chiếu thông hành dài lê thê thẳng tắp cả cây số, khiến du khách đang mệt mỏi vì những chuyến bay dài, thay đổi giờ giấc, chân thấp chân cao, vác, kéo, bưng, đeo khệ nệ hành lý xách tay đi muốn lả cả người. Không có một cái xe đẩy hành lý nào được đem ra khi khách xuống máy bay. Mà nếu có xe đẩy thì lại không sử dụng được thảm di dộng, thế mới là bất tiện đủ điều. Công bằng mà nói, cảng 2E của phi trường Paris-CDG còn « khủng » hơn, mệt hơn, toát mồ hôi hơn, hành khách phải đi bộ rất xa để lên máy bay, cũng như đi bộ rất xa để xuống máy bay.

Saigòn là một thành phố đêm không ngủ. Dòng triệu triệu người, triệu triệu xe thao thức suốt đêm ngày. Họ đi đâu mà cứ đi mãi, không ngưng nghỉ. Nếu có sống ở những thành phố rất đông dân cư và mùa nắng kéo dài như ở Sài Gòn thì mới hiểu nỗi khổ, nỗi nhọc nhằn của những người phải di chuyển để kiếm sống, nhất là những người lái xe hai bánh. Bụi đường, khói xe tải, khói xe bus bốc mùi ngột ngạt hôi hám khó thở phủ đầy mặt mũi, tóc tai quần áo, còi xe nhà xịn, còi xe tải, còi xe bus thúc nhức nhối lỗ tai, mỗi khi chen chúc nhau, nhúc nhích từng phân, từng mét một , tay lái kề sát tay lái, khi phải nối đuôi nhau, chen lấn nhau trên đường, hay đan chéo nhau chằng chịt trên các ngã tư, các vòng xoay năm, sáu ngã đường…cả thành phố chìm trong những sự ô nhiễm môi trường nặng nề, gây ra nhiều bệnh tật trầm trọng. Vì thế, những công việc làm giảm mọi sự ô nhiễm môi trường như ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước sinh hoạt, nước uống, nước thải, ô nhiễm tiếng động, rác rưởi, giảm stress, giảm mầm bệnh tật, giảm thời gian dành cho di chuyển vì công ăn việc làm hàng ngày…là có ích lợi cho sự sống của con người.

Ngày xưa, ba tôi thỉnh thoảng theo bạn bè đi săn ở Buôn Ma Thuột hai ba ngày. Ba tôi biết bắn súng săn, cưỡi voi, cưỡi ngựa…Mỗi khi ba tôi về là có thịt nai, thịt heo rừng, mật gấu, mật ong rừng, ngà voi như vòng đeo tay, bông tai, răng heo…Có lần ba tôi đem về cả một tấm da nai, ông làm cho mình một cái ví đàn ông để đựng giấy tờ và tiền. Khi ba tôi chết, cái ví ấy đáng lẽ ra bị vất vào thùng rác nhưng may mắn cho tôi, là tôi xin được cái ví ấy để đem về làm kỷ niệm đặt lên bàn thờ. Nên, Buôn Ma Thuột đối với tôi trong trí nhớ vẫn là một bản làng có nhiều voi, thú rừng và những tiếng trống, tiếng chiêng trong rừng rậm núi đồi hoang sơ.

Khi anh tài bảo là khoảng cách từ Sài Gòn đi Buôn Ma Thuột chỉ có khoảng 380 cây số thôi, người ta đi 9 tiếng, nhưng anh chỉ cần lái 6 tiếng là tới, tôi đã thấy hãi hùng. Chúng tôi lên đường sau bữa cơm trưa. Có thể nói từ đầu con đường cho đến cuối con đường Sài Gòn – Ban Mê Thuột là một công trường dài suốt. Có khúc vừa mới làm xong, bánh xe lướt êm, có khúc gạch đá lổn nhổn, đầy ổ voi, gầm xe cứ đập mạnh xuống đường còn chúng tôi thì cụng đầu vào nóc xe, và tay lái anh tài thì cứ vòng vèo lách phải lách trái….may mà vợ chồng tôi không hề bị say xe. Những đoạn còn đang làm lại rùng rợn thêm khi nó nằm ở sống núi, hai bên là vực, thế mà các xe to, xe nhỏ, xe tải kiểu Mỹ, xe hai bánh cứ nối đuôi nhau tung bụi mà chạy. Vượt được khoảng nửa đoạn đường anh tài cho vào ăn trong một quán „xe tải“, cứ quán nào có nhiều xe đậu trước cửa là „ngon“, mình cũng tấp vào. Ngồi xuống bàn là chủ quán chỉ cần đếm đầu người để dọn cơm, không cần phải xem thực đơn, vì mâm nào cũng chỉ có bấy nhiêu món, 60.000 đồng một đầu người có tô canh, rau xào, thịt heo kho, thịt heo luộc, cơm trắng và nước trà miễn phí ! Tô phở bò to, bánh phở tươi chỉ có chẵn 30.000 đồng.

Đoạn đường gần đến cửa ngõ Buôn Mê Thuột, nay đã lên cấp thành phố, đã làm xong mặt đường nhựa, xe lướt vào êm ru. Trước mắt tôi là một đại lộ, ánh đèn đường sáng trưng, rồi đèn nhà, đèn quảng cáo sáng khắp nơi, tôi ngạc nhiên nhìn một „thành phố“ mới, hiện đại, đã lột xác từ một buôn làng. Vâng trăng rằm Nguyên Tiêu sáng tròn vằng vặc trên bầu trời xanh đen, chung quanh là mọi vì sao sáng nhấp nháy trong gió núi thổi mát rượi.

Ở Hà Nội chúng tôi chẳng thấy trăng mà cũng chẳng thấy sao đâu cả, chỉ thấy màn mây dày che phủ cả bầu trời. Ở miền Trung lác đác vài ngôi sao sáng hiện ra, đặc biệt có ngôi sao chỉ hướng Nam là hiện sáng nhất. Còn ỏ Tây Nguyên thì sáng trăng, sáng tất cả các vì sao sáng cả trời đêm.

Sáng sớm hôm sau, mới 5 giờ sáng, loa phóng thanh đọc các bản tin thời sự đánh thức tôi dậy ăn sáng. Mới bảy giờ đã thấy nóng chảy mồ hôi, đến trưa thì nhiệt độ lên đến 38°, ánh nắng như thiêu đốt cháy da cháy thịt, nhức đầu, hoa mắt. Trăng Tây Nguyên đẹp chừng nào thì nắng Tây Nguyên nóng chừng ấy. Đồng ruộng khô cháy, nứt nẻ nhiều nơi. Vào vườn cà phê, nhìn những cây cà phê lá dài bản hẹp mầu xanh lá cây đậm rũ xuống, ngọn lá chĩa xuống đất, mới thấy lá cà phê thông minh tránh nắng, để cho hoa cà phê trắng ngà nở trong nắng, đất dưới chân cà phê đỏ như mầu máu, đỏ như mầu nắng cháy. Tây Nguyên đang trong mùa hạn hán, thiếu nước sinh hoạt, nước cho đồng ruộng vườn tược, tình hình căng thẳng luôn cho các ruộng trồng hoa màu như ruộng lúa, ruộng mía, nguy cơ thất thu khá lớn, người dân Tây Nguyên lo lắng bối rối không biết tìm nước ở đâu. 1). Hiện nay tỉnh Đắk Lắk có gần 1.8 triệu dân định cư (thống kê 2009) của 40 dân tộc chung sống, đông nhất là người Kinh, rồi đến người Ê Đê.

Chúng tôi vào Buôn Đôn xem cho biết cách làm du lịch của người Tây Nguyên. Bản Đôn cũng ngập chìm trong nắng nóng. Dòng sông SêRêPok chảy dọc Buôn Đôn gần như hết nước, mực nước giảm cả đên 4, 5 thước, lòng sông lộ ra trỏng chơ dưới nắng. Đàn cò trắng tụ tập hết vào giữa lòng sông, nơi còn có ít nước, phía bên Vườn Quốc gia bên kia sông. Người Buôn Đôn, nhất là người gốc Lào có tài thuần voi, khiến cho voi chăm chỉ làm việc, kéo gỗ, khuân gỗ, chuyên chở người và hàng nặng… Người Mnông gọi những người thợ săn bắt voi rừng và thuần dưỡng voi là gru, như gru Ama Kông, một trong những « vua voi » nổi tiếng nhất. Gru ngồi trên đầu voi, cầm cái dùi móc (kreo), vật bất ly thân của gru, để điều khiển voi, người thợ phụ (gọi là rmắc) ngồi phía sau, cầm cái kuk để thúc con voi. Các gru luôn mặc trang phục truyền thống rất đẹp, áo « đại bàng dang cánh » dệt bằng thổ cẩm mầu đen trang trí hoa văn Kteh Mnga, có một mảng sợi dày mầu đỏ rực trước ngực, quấn khăn trên đầu, cầm kreo và tù và trên tay, dây buộc voi quấn ngang trên cổ, xem rất dũng mãnh và quắc thước, đúng là người hùng của rừng xanh ! 2)

Nhìn hai con voi đi loanh quanh chầm chậm trong Buôn Đôn chồng tôi lắc đầu không chịu cưỡi voi, bảo, nặng kí quá, leo lên ngồi thì tội nghiệp voi, nên chúng tôi không cưỡi, chỉ đứng chụp ảnh và nhìn voi ăn bó mía của du khách thưởng cho voi sau chuyến phục vụ. Hôm sau đọc báo được tin con voi già 40 tuổi chết khi đang phục vụ du lịch, chúng tôi bảo nhau, may sao là không phải mình quá nặng kí làm chết voi ! Chủ voi và buôn làng làm lễ cúng voi theo phong tục truyền thống. 3)

Đi qua các cầu treo đong đưa như đi trên võng, đến các nơi dừng chân, thì chúng tôi thất vọng vì hoàn toàn không có sinh hoạt văn nghệ gì cả, không có giao lưu văn hóa cồng chiêng, cũng không có nhà hàng đặc sản, cũng không có hướng dẫn trekking rừng đại ngàn…như trong quảng cáo du lịch. Chụp vài cái ảnh rồi đi về, chấm dứt cuộc viếng thăm Buôn Đôn ngắn ngủi. Nắng quá.

Một cô cháu phê chúng tôi rằng, các bác chỉ đi cưỡi ngựa xem hoa, chứ không hiểu gì về văn hóa Ê Đê của người đồng bào trên Buôn Mê. Dân tộc Ê Đê theo chế độ mẫu hệ, người phụ nữ chủ nhà có chỗ ngồi danh dự trong nhà mình, bên bếp lửa. Nhiều gia đình Ê Đê đã giầu có lên, buôn làng trở thành những khu phố khang trang, hiện đại, họ xây nhà mới bằng bê tông, gạch ngói phía sau hay bên cạnh, và giữ ngôi nhà truyền thống cũ có hình dáng như một cái thuyền gỗ dài làm kỷ niệm phía trước.

Dọc đường về, đi ngang qua các vườn cà phê to nhỏ đủ cỡ, hoa cà phê đang nở trắng, nhưng có cây đã ra hạt xanh, mùa thu hoạch cà phê là từ tháng mười hàng năm cho đến hết tháng một tây… Trung tâm thành phố rất khang trang, nhiều nhà đẹp, viện bảo tàng xây ngay bên cạnh Biệt Điện của vua Bảo Đại khá đồ sộ và khá đẹp, theo kiến trúc văn hóa sở tại. Nơi đây, mọi người đang tấp nập dựng sân khấu và những gian hàng trưng bày cho lễ hội cà phê sắp diễn ra. Tiếc là chúng tôi lại đi trước ngày lễ hội. Có điều, tôi lại không mua một gói cà phê nào cả vì giá bán cà phê trực tiếp ở Buôn Ma Thuột quá đắt, so với mức giá bán cà phê tiêu thụ bình thường ở châu Âu, phần thì trọng lượng hành lý du lịch cũng bị hạn chế.

Đêm ở Buôn Ma Thuột rất mát khi gió núi nổi lên, dễ chịu nên thành phố nhấp nháy đèn đủ mầu sắc, nhộn nhịp người đi ăn uống, đi chơi, tiếng nhạc karaoke, nhạc sống vang lên ở nhiều nơi. Một số tiệm ăn ngon, sạch sẽ, giá cả phải chăng đủ tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch và khách nước ngoài. Tiếc là chúng tôi tạm trú trong một khách sạn mà nội thất đã cũ kỹ, chăn, nệm gối khăn đều rất cũ, giá lại khá đắt, dịch vụ kém, nên lần sau sẽ không trở lại địa chỉ này.

Chúng tôi rời Buôn Mê Thuột bằng máy bay, tại phi trường mới xây dựng theo tiêu chuẩn hiện đại chúng tôi chứng kiến một việc đáng buồn. Một đôi „vợ chồng“ trẻ đem một đứa con gái 15 tháng về Bắc, đi chuyến bay Buôn Ma Thuột-Hà Nội, không được cho lên máy bay vì lý do cháu bé chưa có khai sinh, mẹ cháu chỉ có giấy chứng sinh, và cha mẹ cháu chưa cưới nhau, chưa làm hôn thú, và vì người cha nghe lời bố, ông nội của cháu, chờ chuyến này đem cháu về quê ngoài Bắc thì mới làm khai sinh cho cháu. Cháu bé rất xinh xắn, dễ ghét, đã được cha và mẹ đặt tên là Trần Lê Bảo Ngọc. Hai người trẻ thay phiên nhau năn nỉ hết nhân viên này đến nhân viên khác, nhưng họ vẫn lạnh lùng từ chối. Cô gái khóc, chúng cháu ở cách Buôn Mê 80 cây số, Ở Gia Nghĩa, đi xe bus hơn ba tiếng mới đến được tận phi trường, hai vé mua của Vietjet Air không đổi ngày đi được, cũng không được hoàn trả, thế là mất 2 triệu tiền vé cô ạ.

Cuối cùng, cái gia đình nhỏ ba người ấy, với cháu bé xinh xắn, đành phải thuê taxi trở về thành phố để sáng sớm mai đón xe bus từ Buôn Ma Thuột ra tận Hà Nội. Chúng tôi hỏi nhau, sao nhân viên Vietjet Air và phi trường Buôn Ma Thuột lại vô cảm đến thế, hành hạ một gia đình trẻ với đứa con còn rất nhỏ ?! Nắng Tây Nguyên và trăng Tây Nguyên bỗng hết đẹp. MTT

Cầu treo bản Đôn – Photo: MTT 2015

Sông SêRêPok ở Buôn Mê Thuộc – Photo: MTT 2015

Bé Trần Lê Bảo Ngọc – Photo: MTT 2015

Cô gái Buôn Mê Thuộc – Photo: MTT 2015

Hoa cà phê Buôn Mê Thuộc – Photo: MTT 2015

Dưới « Bóng cây Kơ Nia » ở Buôn Mê Thuộc . Photo: MTT 2015

Chú voi già phục vụ khách du lịch ở Buôn Đôn – Ban Mê Thuộc – Photo: MTT 2015

Người hùng Buôn Mê

Chú thích:

  1. Bài Cà phê, hoa màu Tây Nguyên gặp hạn nặng“, báo Tuổi Trẻ ngày 08.03.2015.
  2. Bài Trang phục của GRU, Trần Tấn Vịnh, Heritage Fashion, Vietnam Airlines, số 3-4.2015.
  3. Bài „Voi chết khi đang phục vụ du lịch“, báo Tuổi Trẻ ngày 09.03.2015

Lịch sử một gói trà 1336 tại Pháp

23/08/2017

Lịch sử một gói trà 1336 tại Pháp – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2015 – http://www.mttuyet.fr

Ngày thứ ba 26-05-2015 một thương hiệu trà Pháp mới ra đời, mang tên Trà 1336. Trong niềm vui của những người sản xuất ra nó của công ty SCOP TI, có niềm vui chân thật của một người bạn Pháp, ông P. Deschamps và vợ, họ đã âm thầm nhắc nhở, giới thiệu trà xanh Việt Nam hoàn toàn vô vụ lợi cho cơ sở sản xuất, để rồi trong gói trà Pháp có phần trà xanh đến từ quê hương Yên Bái.

Nhưng tại sao lại có tên Trà 1336 ?

1336 là 1336 ngày chiến đấu để dành lại hãng xưởng của 57 công nhân Pháp. Đó là lịch sử của gói trà.

Câu chuyện bắt đầu từ cách đây năm năm, bốn năm chiến đấu và một năm sửa soạn công trình sản xuất, nhưng thật ra nó đã bắt đầu từ cuối thế kỷ thứ 19 cho đến khi đi vào quỹ đạo toàn cầu hóa. Câu chuyện của nó là một câu chuyện điển hình của thời đại toàn cầu hóa tư bản thế giới.

Năm 1892 hai anh em ông Petrus và Lazare Digonnet, người đã buôn bán các loại hàng hóa đến từ các thuộc địa Pháp, từ Đông Dương (Indochine) kể từ năm 1882, sáng lập một công ty nhập cảng trà và bán trà dưới cái tên công ty Etablissements P.L. Digonnet.

Năm 1927, sau khi công ty nói trên lần lượt « nuốt » hai nhà sản xuất khác, đó là công ty Maison Ranque&Lambert của Compagnie de l’Indochine, sáng lập từ năm 1868, và công ty Maison Lewis J. Smith, được đổi thành một công ty vốn nặc danh mang tên Société des Thés de l’Eléphant, đóng trụ sở tại Marseille.

Bốn mươi năm sau, 1967, công ty này « bị » phối hợp với công ty Compagnie Commerciale Unité, và công ty Compagnie Coloniale, mà trong đó nhóm Ricard nắm đa số cổ phần.

Nhưng chỉ 8 năm sau, 1972, thì sa vào tay ông chủ bự Unilever, nổi tiếng vì chế tạo bột giặt.

Trà Eléphant là một loại trà có tiếng ở Pháp, bình dân, thông dụng vì cái tên con voi và cái hình con voi, cái thương hiệu có nguồn gốc xuất xứ của những bao trà nhập khẩu từ Đông Dương có in hình con voi, nên gọi là trà con voi.

Trà Eléphant gồm có nhiều loại mùi hoa quả hay thảo dược trộn theo « gu » (gout) của Pháp rất được ưa chuộng như các loại quả đỏ, hoa đoạn (tilleul) và chanh, mận đào và ổi, táo và quế, lê và đường cháy (caramel), chanh và mật ong, quít và quả lý chua (groseille).

Nhưng kể từ khi bị Unilever mua, thương hiệu Pháp này bị « cưỡng ép » thay nhà đổi chủ nhiều lần.

Năm 1977, thương hiệu Eléphant bị sát nhập vào Fralib (Française d’Alimentation et de Boissons) bao gồm hai thương hiệu Eléphant và Lipton. Năm 1999, thương hiệu Eléphant bị quản thủ bới công ty Astra Fralib, bao gồm hai đơn vị Astra Calvé et Fralib.

Năm 2001, Astra Fralib bị sát nhập với hai công ty khác Amora Maille et Bestfoods, để trở thành một công ty mang tên Unilever Bestfoods.

Kể từ khi phân xưởng ở Havre, một hải cảng xuất nhập quan trọng của Pháp ở biển Bắc nước Pháp, bị đóng cửa, thì tất cả mọi sản phẩm của trà Eléphant được chế tạo, đóng gói tại xưởng Fralib ở Gemenos thuộc vùng Provence.

Nhóm đầu tư Unilever, ngày càng muốn thâu thêm lợi nhuận, đã tuyên bố ngày 28.09.2010 đóng cửa nhà máy Genenos vĩnh viễn để di chuyển sản xuất sang Ba Lan.

182 nhân công của nhà máy quyết định đình công phản kháng sự kiện mất nhà máy, mất công ăn việc làm, mất thương hiệu, với sự trợ giúp của hai công đoàn CGT và CFE-CGC. Họ đề nghị giữ thương hiệu Eléphant và ký một hợp đồng sản xuất với Unilever.

Một quá trình căng thẳng đấu trí, hao tổn sức lực trước pháp lý bắt đầu từ đó cho đến tháng năm 2014 tính ra là 1336 ngày thay phiên nhau chiếm đóng nhà máy.

Vào tháng 5.2014 là chiến thắng cho những người công nhân bằng một thỏa thuận với Unilever, ông chủ bự này giữ thương hiệu trà Eléphant, nhưng « bán » lại nhà máy cho công nhân với toàn bộ thiết bị máy móc còn trị giá kế toán là 7 triệu euros với một giá tượng trưng là 1 Euro, đồng thời chi trả cho việc thực hiện thành lập một hợp tác xã (SCOP). Unilever hứa hẹn sẽ trả cho SCOP một khoảng tiền là 2,85 triệu euros.

Năm mươi tám người công nhân kiên trì gia nhập hợp tác xã mới của họ SCOP và đóng góp một số vốn đầu tư khởi động là 177.000 euros. Họ quyết định, vừa là chủ nhân mới của nhà máy, vừa là công nhân sản xuất, mỗi người sẽ chỉ nhận một số lương giống nhau.

Ngày 26 tháng năm 2015 là ngày ra đời của công ty hợp tác xã mang tên SCOP TI, Société Coopérative Ouvrière Provençale de Thés et Infusions, tại ngay nhà máy sản xuất ở Gemenos. 57 công nhân khi xưa, nay là chủ nhân sáng lập xưng danh là SCOPTISTES.

Một buổi lễ khai mạc, giới thiệu qui trình sản xuất, các loại sản phẩm và công bố thương hiệu mới  » The 1336  » đầy tình cảm đã được tổ chức tại nhà máy với gia đình, bạn bè và những người ủng hộ.

Phương án sản xuất ban đầu dự tính là 250 tấn, cho một doanh thu là 3,3 triệu euros trong năm 2015. Họ kỳ vọng sẽ quân bình khả năng tài chánh của hợp tác xã vào giữa năm 2016, rồi sẽ đạt được mức sản xuất 640 tấn với doanh thu 9,6 triệu euros cho năm 2018.

Công ty SCOP sử dụng nguyên liệu sạch, bio, như trà xanh sạch, hoa quả khô sạch…để chế biến sản phẩm của họ, vì thế trà xanh sạch đến từ Yên Bái được có mặt góp phần trong sản phẩm mới, với thương hiệu mới của Pháp.

Câu chuyện Gemenos là một câu chuyện cảm động, là một thí dụ cho những người, dù họ không nói ra, họ tranh đấu cho sự sống còn của một nhà máy, cho đời sống bản thân của họ và gia đình, nhưng họ cũng tranh đấu vì lòng yêu quê hương của họ. MTT

1336_3

les-machines-vont-redemarrer-des-2015-pour-fabriquer-du-bio

economie

Bài kệ giã từ

18/08/2017

Bài kệ giã từ – Mathilde Tuyet Tran, France 2017

Một mai tôi được gọi đi xa
Xin đừng níu áo cho tôi bận lòng
Cũng đừng than khóc neo tôi lại
Hãy để tôi đi, về với cõi hư không.
Sáu, bẩy mươi năm ở tạm đời
Buồn, vui, sướng, khổ nếm đủ mùi
Trả đủ nợ trần hay chưa hết
Bất chợt tôi đi chẳng tính gì.
Vội vàng trút cái gông đeo cổ
Cùng cái kim cô xiết nặng đầu
Người thương, kẻ ghét, còn gọi mãi
Ân đền oán trả vẫn chưa xong
Huống hồ một chút hư vinh đó
Có đáng hay chăng một tấm lòng.
Anh ơi, em nhìn anh lần cuối
Bòng anh đổ dài che chở đời em
Anh ở lại về sau anh nhé
Trong chớp mắt em đi thôi anh ơi.
Mây trắng gọi tôi đi
Trời xanh trong vắt gọi tôi đi
Giờ đã điểm phút giây tôi ra đi
Mắt nhắm nhưng hồn là ánh sáng
Chóa nhòa trong một cõi vĩnh hằng xa
Khói hương một nén nhang tàn,
Theo làn gió nhẹ tôi bay về trời.
Buồn làm chi hỡi người ở lại
Hãy hưởng những phút vui ở đời
Rồi mai đây cũng trở về cát bụi
Gặp lại nhau thì còn duyên còn nợ
Ngày xưa thân ái tình là giây oan.
Mẹ sinh ra tôi hai bàn tay trắng
Không lẽ tôi đi, trắng tay, không thảnh thơi ?
Có nhớ tôi chăng nhớ kỷ niệm cũ
Và khi nhìn một đóa hoa hồng nở
Là tôi trong hoa lại nở với đời.

Giữa hai vòng kim cô (bài 3 và hết)

08/05/2017

Giữa hai vòng kim cô (bài 3 và hết)

Emmanuel Macron, tổng thống thứ 8 của Đệ ngũ Cộng hòa Pháp đã được bầu ra.

Ngày thứ bẩy 06-5-2017 cuộc bầu cử tổng thống Pháp vòng 2 đã được bắt đầu ở các đảo thuộc Pháp, Đảo Saint-Pierre et Miquelon bầu cử đầu tiên vào lúc 12.00 giờ địa phương. Tại vòng 1, người thắng cử ở các đảo là bà Marine Le Pen với 21,90 %, Melenchon 20,80 %, Francois Fillon 20,70% và sau cùng là Macron 20,40%.

Theo con số sơ khởi của cuộc bầu cử ngày 07-05-2017 tại nước Pháp lục địa thì vị tổng thống thứ 8 của nước Pháp là ông Emmanuel Macron, thủ lĩnh của phong trào En Marche ! khuynh hướng trung lập. Ông chiếm được 65,5 %, tính trên tổng số phiếu bầu hợp lệ.

Nhưng đối lập với ông là bà Marine Le Pen, người đã đem lại 34,5% phiếu bầu của cử tri, không phải là « thua » hoàn toàn, bà có một lực lượng đông đảo sau lưng cho kỳ bầu cử quốc hội sắp tới.

Trong vòng 2 ngày 07.05.2017 số người không đi bỏ phiếu tính đến 17.00 giờ là 34,70%. con số đi bầu là 65,30 %. Điều này được cho là « khác thường », vì thông thường con số cử tri đi bầu vòng 2 cao hơn vòng 1, người ta đang chở con số chính thức.

Sáng ngày 08-5-2017 kết quả chính thức đã được công bố bởi Bộ Nội vụ Pháp. Ông Macron thẳng cử với 20.703.694 phiếu bầu (43,63%), bà Marine Le Pen đạt được 10.637.120 phiếu bầu (22,42%), con số không đi bầu: 12.041.313 cử tri (25,38%), phiếu trắng: 3.006.106 (6,34%). phiếu bất hợp lệ: 1.060.696 (2,24%), tổng số phiếu hợp lệ: 31.340.814 (66,05%), tổng số cử tri 47.448.929 (100%).

Ngay sau khi kết quả được công bố các báo chí trong nước Pháp đều đồng loạt đua nhau hết lời ca ngợi chiến thằng và con đường ngắn ngủi đưa ông Macron đến tột đỉnh vinh quang lúc chỉ mới 39 tuổi. Ông sinh ngày 21-12-1977 tại Amiens, phía bắc nước Pháp. Báo chí Pháp đều nêu lên hai điểm nổi bật của Macron: ông rất thuận tình với Châu Âu và Toàn cầu hóa.
Báo chí thể giởi nở rộ hình ảnh chiến thắng của Macron. Tạp chí Der Spiegel của Đức liên tiếp đưa lên nhiều bài đánh giá cuộc bầu cử.
Chuyến công du thứ nhất của tân tổng thống Emmanuel Macron là nước Đức, ngày 8-5 ông Macron đi cùng với ông Francois Hollande sang thăm bà thủ tướng Đức Angela Merkel.

Bà Marine Le Pen nhìn nhận sự thất bại của mình và hứa hẹn sẽ cải tổ lại đảng phái của mình, nhất là không mang cái tên hiện tại Front National đã gắn liền với quá khứ của người đi trước, cha của bà, ông Jean-Marie Le Pen. Trong đảng của bà cũng có nhiều khuynh hưỡng, rất cực hữu hay ôn hòa hơn.

Cuộc ăn mừng chiến thắng của Macron diễn ra tại sân Musee du Louvre (Bảo tàng Louvre) có sức chứa đến 10.000 người, đã được sửa soạn từ lúc 17 giờ, cảnh sát đã mời hết du khách ra khỏi khuôn viên bảo tàng và thi hành phận sự.

Tại cung điện Elysee và tại tất cả các bộ mọi thứ đã được soạn ra, tiêu hủy hay đóng gói lại cho vào thùng cạc tông, ê kíp của Francois Hollande nhường chỗ cho người chủ mới. Một số cộng sự viên lén lút giao tiếp vởi nhóm của Emmanuel Macron hầu tìm được một chỗ trong chính phủ mới. Hầu hết các thành viên của nội các của Hollande đều hàng ngày trực tiếp liên lạc với tổng hành dinh của En marche!
Một số cộng sự viên chưa được có công việc tiếp tục dù biết là hợp đồng của mình có giới hạn tối đa là 5 năm, tạm thời thất nghiệp, phải đi tìm việc làm, một sự buồn bã chung kéo đến. Vì tuổi tác cho nên những người quá 50 không có nhiều hy vọng tìm ra việc làm nhanh chóng, họ nghĩ đến việc hành nghề tự do. Một số người được « giúp đỡ » đã kịp thời chuyển đổi công việc, rời con tàu đang chìm, hạ cánh an toàn. Một số người lăn xả vào việc tìm cho mình một chỗ đứng mới là dân biểu quốc hội dưới một « nhãn hiêu » mới, một đảng mới. Đối với họ, nghề làm chính trị cũng giống như bao nghề nghiệp khác, biết ăn nói khéo léo, giao tiếp nhiều, giao tiếp rộng để được chọn ra đại diện cho một đảng ứng cử  vào một địa vị nào đó mang lại tiền bạc để sống, để dành và có thêm quyền lực.
Chỉ có tại phủ tổng thống thì người ta còn phải làm việc tận tâm vì tống thống Hollande lợi dụng những ngày chót của nhiệm kỳ để đi công vụ và những buổi lễ trao tặng các huân chương còn được tổ chức cấp tốc, tiếp nối trong những gian phòng khánh lễ của điện Elysee.
Tại điện Elysee, các văn phòng vắng dần. Hollande nhìn lại nhiệm kỳ của mình, trong một bài phỏng vấn đăng trên tờ Le Figaro, ông nói  » Chết, chết, chết, luôn luôn có sự chết chóc. Của những người vô tôi, của cảnh sát, của quân đội. Cái chết chóc liên tục. » Ông nói cuộc bầu cử này ông có thể chiến thắng một lực lượng cánh hữu đã yếu thế, nhưng ông đã quyết định ngưng lại một sự cô đơn trong cung điện Elysee, nơi ông không tìm thấy một sự ấm cúng nào là « nhà » của mình. Ông thố lộ. « Năm năm thêm nữa, có thế là năm năm trong một sự bất an thường trực, không có đời sống riêng tư và tự do (cá nhân). »

Tại sao người ta gắn vào ông Macron một niềm hy vọng, sẽ thay đổi được nước Pháp đang ì ạch, bảo thủ và hơn thế nữa ông Macron còn đem lại một luồng gió mới cho khối Liên Minh Châu Âu ? Trẻ, xông xáo, năng động, hăm hở, chưa bị hao mòn đó là những cái điểm tích cực mà người ta gắn cho ông Macron, nhưng còn những điểm kém tích cực hơn ?
Ông Macron hiện nay chỉ là thủ lĩnh của một phong trào mới được thành lập vào tháng 4 năm 2016 trong mục đích tranh cử tổng thống, không có cơ sở của một đảng phái lâu năm đã mọc gốc rễ trong dân chúng, không có một đại diện cho dân trong quốc hội. Tuy thế, trong khi tranh cử vòng 2 ông lại được hỗ trợ bởi các đảng phải đang trên đường thoái hóa: đảng Những người Cộng hòa, đảng Xã hội, đảng Xanh và đảng trung lập MoDem, để chống lại sự nổi lên của đảng cực hữu Front National của bà Marine Le Pen. Sau khi thắng cử ngày 07-05 thì ngày 08-05 ông từ chức chủ tịch phong trào En marche ! và phong trào này được đổi tên lại là La Republique en marche. Như thế, ông là một người trung dung đứng trong chân không. Dựa trên cơ sở nào ông có hậu thuẫn chính trị ? Thủ tướng của ông là ai, nội các của ông là ai, người ta sẽ chờ xem những gì xẩy ra sắp đến.

Trong cuộc thử sức thuận/chống Liên minh châu Âu này, người ta vui mừng có được cái kết quả là dân Pháp vẫn còn ít ra là một nửa gắn bó với châu Âu.
Cái mới năm nay là người ta vừa kêu gọi, gây sức ép, tình cảm hay không tình cảm, vửa đổ lỗi cho người không đi bầu. Những người dân ngu cu đen bỗng chốc trở thành mối đe dọa tiềm ẩn cho nước Pháp và cho châu Âu ? Những người « tội lỗi » đó là ai ? Thất nghiệp, tiểu thương, chăn nuôi, phá sản, về hưu, phụ nữ…những người mà xã hội tiêu thụ toàn cầu đã sàng lọc họ và bỏ rơi họ, và gán cho họ một nhãn hiệu chính trị « chống toàn cầu hóa », « chống châu Âu ». Tìm một con cừu để đổ tội như thế, là một điều không lành mạnh chút nào.
Ông Jean-Pierre Raffarin, cựu thủ tướng của đảng Les Républicains tuyên bố « Những người phủi tay với việc này là những kẻ đồng lõa cho tình trạng thê thảm cho quốc gia đất nước » để lên án những người từ chối không đi bầu cử. Trở đầu ngọn giáo, đó là một chiến lược thông thường của những nhà chính trị gia chuyên nghiệp.

Theo luật lệ hiện hành tại Pháp, không ai bị bắt buộc phải tham dự bầu cử. Nếu vì một lý do nào đó, địa lý (nhà xa, thiếu phương tiện di chuyển…), thời tiết (mưa bão, nắng quá đẹp…) hay bệnh tật (liệt giường, yếu chân…), hay không được đi bầu cử vì thay đổi địa chỉ, hay vì tuổi tác (quá trẻ, quá già…), nghề nghiệp (thất nghiệp, mù chữ…) mà người ta không thể đi bầu cử hoặc cử đại diện đi thay thế (thiếu tin tưởng).
Không tham dự bầu cử cũng là một cách biểu hiện của một thành phần cử tri thầm lặng, kỳ bầu cử nào cũng có nhưng không bao giờ được chú ý đến, nói lên sự bất mãn của mình với những ứng cử viên, với những đảng phái quá xa vời đối với họ. Ở nhà thầm lặng, hơn là tích cực bỏ phiếu trắng hay phiếu không hợp lệ để phản đối, thường là biểu hiện của một sự khủng hoảng dân chủ.
Tháng 12 năm 2015, trong kỳ bầu cử tầm mức vùng tại Pháp, con số cử tri thầm lặng không đi bầu ở nhiều nơi lên đến 72,2 % (thí dụ vùng bắc Paris, vùng đông-nam Paris, một số những khu vực biên giới). Riêng khu vực Paris-Ile-de-France con số không đi bầu trong vòng 1 lên đến 3.834.493 người, chiếm 54,11 % tổng số cử tri. Toàn nước Pháp tính trung bình con số cử tri thầm lặng là 22.687.084 người, chiếm tỷ lệ 50,09 %. Những con số này nếu đã không báo động tình trạng mất sự tin tưởng vào các đảng chính thống đang nắm quyền, và chờ đợi/đòi hỏi một sự thay đổi ? Những người đó quên rằng, mình là chính khách hứa hẹn đã nhiều, nhưng mà không thực hiện. Cái nhìn vấn đề của những người chính khách, lãnh đạo cấp cao, không vượt ra khỏi phạm vi Paris, quanh quẩn trong những đường phố sang trọng của Paris, nơi mà một món ăn trưa thường ngày của họ bằng giá người khác ăn một tuần. Và, hàng triệu người cử tri thầm lặng là những người bất bạo động, chịu đựng, chờ một ngày mai tươi đẹp hơn, nếu họ không tự tử.

Tình hình tại thị trường chứng khoán Paris thay đổi nhẹ sau chiến thắng của Macron, người ta còn chờ đợi cuộc bầu cử quốc hội Pháp, còn đang hứa hẹn nhiều gay cấn.
Dẫu sao, con số những người « không đồng ý » với tình hình hiện tại lên tới gần tròn 34%.

Tống thống Mỹ Donald Trump, cũng như thủ tướng Đức Angela Merkel chúc mừng sự thành công của Macron. Bà Merkel tuyên bố  » Đây là chiến thắng cho một Châu Âu vững mạnh và tình hữu nghị Pháp-Đức ». Ông Trump thì  » Tôi nóng ruột muốn làm việc với ông ấy. » Ngày 25-05 tới đây hai người, Trump-Macron, lần đầu tiên sẽ gặp nhau trong khuôn khổ hội nghị của khối Liên kết Bắc Đại Tây Dương tại Paris.
Kế tiếp là bà Theresa May, thủ tướng nước Anh đã gọi điện cho Macron để chúc mừng ông về chiến thắng, đồng thời cũng nói ngắn về Brexit, và bà thủ tướng Anh mong muốn có một đối tác là khối Liên minh Âu châu vững chắc và thịnh vượng. Từ Canada, không chút trễ nãi, thủ tướng Trudeau chúc mừng chiến thắng của Macon.
Các nhà lãnh đạo của Liên minh châu Âu đều chúc mừng Macron, và hứa hẹn một Châu Âu xã hội hơn, dân chủ hơn.

Riêng đối với nước Đức, trong sự phấn khởi vì người đồng minh thân thiết nhất của mình đã loại bỏ được một tình trạng căng thẳng cho năm năm tới, ông Sigmar Gabriel, lãnh đao của đảng SPD, bộ trưởng bộ ngoại giao, nhìn nhận là « Nước Đức được hưởng nhiều thuận lợi trong thị trường châu Âu là quốc gia xuất cảng. Đó chính là nhờ vào nước Pháp. Bây giờ, phải giúp đỡ Macron, nếu không bà Le Pen sẽ nắm chính quyền trong lần bầu cử sắp đến. Và để giúp nước Pháp, Đức phải thay đổi chính sách ngân sách quốc gia và châu Âu rất nghiêm ngặt. Nặng về tiết kiệm thì chưa bao giờ sáng tạo ra công việc ». Ông Gabriel nói thật là đúng, xã hội tiêu thụ thì phải có tiêu thụ mới thúc đẩy sản xuất, mới thúc đẩy công ăn việc làm, nếu….không bị rô-bốt thời đại mới chiếm hết công việc. MTT