Skip to content

Đọc “ Trương Vĩnh Ký – Bi kịch muôn đời “ của Hoàng Lại Giang

26. avril 2018

Đọc Trương Vĩnh Ký – Bi kịch muôn đời “ của Hoàng Lại Giang © Mathilde Tuyết Trần, France 2018

Trương Vĩnh Ký (1837 – 1889)

Một buổi trưa trời tháng mười một, nắng còn gắt, tôi và chồng tôi lang thang trên đường Trần Bình Trọng. Thấy có một nhà thờ lớn, nguy nga, có sân trước rất rộng chúng tôi rẽ vào thăm, mà không biết đó là nhà thờ Chợ Quán. Nhà thờ đang có thánh lễ nên chúng tôi chỉ đứng ngoài tần ngần rồi lại đi ra. Rẽ tay phải đi tiếp về hướng đường Trần Hưng Đạo, mục đích của tôi rất đỗi tầm thường là đi bộ để tìm một quán phở gọi là phở Lệ để ăn trưa. Bỗng đi ngang qua một cái nhà cất theo kiểu lăng mộ có nhiều ngôi mộ cổ nằm bên trái, nằm kế cận khuôn viên nhà thờ chỉ cách một tu viện, tôi ngạc nhiên, tò mò bước vào. Đó là cái duyên thứ nhất, không tìm mà gặp lăng mộ cùng ngôi nhà ở của Petrus Trương Vĩnh Ký.

Một buổi trưa trời nắng chang chang, khô queo vào tháng tư năm sau, tôi và chồng tôi lang thang trên đường sách bên canh Bưu điện thành phố. Tôi đi tìm mua hai cuốn sách được giải thưởng sách quốc gia mới đây của nhà xuất bản Tổng Hợp. Mua xong mấy cuốn sách nặng chình chịch, mà chồng tôi hay nói đùa là vũ khí tra tấn để đập lên đầu không dấu vết, trả tiền rồi, lấy gói sách rồi, bất chợt tôi ngẩng đầu lên, mắt nhìn thẳng vào một cuốn sách bày đứng trên kệ. Đó là cái duyên thứ hai để tôi viết bài này vì cuốn sách ấy mang tựa đề “Trương Vĩnh Ký-Bi kịch muôn đời”, của tác giả Hoàng Lại Giang, do nhà xuất bản Hồng Đức của hội Luật gia Viêt Nam, Hà Nội, xuất bản năm 2017 (giá bìa 174.000 đồng).

Jean-Baptiste Petrus Trương Vĩnh Ký sống ở thế kỷ thứ 19, ông sinh năm 1837 (Minh Mạng thứ 17) tại ấp Cái Mơn, làng Vĩnh Thành, tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long, mất năm 1898, đến thời đại của chúng ta ở hai thế kỷ sau ông vẫn còn là một nhân vật gây tranh cãi bên chê, bên khen.

Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Thanh Lãng, Nguyễn Huệ Chi, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Văn Tố…..là những người có sự thông cảm với ông, khen ông.

Những người lên án ông với những mức độ nặng nhẹ khác nhau có thể kể ra là Trần Văn Giàu, Trần Huy Liệu, Nguyễn Sinh Duy, Phạm Long Điền, Mẫn Quốc, Lê Trọng Văn, Nguyễn Đắc Xuân…(Tr. 11)

“Sở dĩ có tình hình đáng tiếc đó chính vì nhận định đánh giá một nhân vật lịch sử mà lại không gắn với thời đại lịch sử trong đó người ấy sống và hành động, lại nặng về suy diễn chủ quan một cách không thấu tình đạt lý…..Hoàng Lại Giang bằng con đường văn học đã dựng lại cuộc đời của Trương Vĩnh Ký từ tuổi ấu thơ đến khi trưởng thành, trong một bối cảnh lịch sử kịch liệt, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Việt Nam, triều đình Nguyễn đẩy mạnh chính sách sai lầm cấm, giết đạo, đất nước rối loạn, nhân dân ly tán.” 

Trên thực tế tác giả Hoàng Lại Giang đã dành 189 trang trong tổng số 448 trang để diễn tả lại tuổi ấu thơ của Trương Vĩnh Ký từ lúc được mẹ sinh ra cho đến lúc trưởng thành.

Những dòng chữ đầu tiên mang tính chất nóng bỏng của thời cuộc, một tình huống kinh hoàng đẫm máu của lệnh từ triều đình nhà Nguyễn ở Huế dưới đời vua Minh Mạng tàn sát người có đạo Thiên chúa gọi là “Sát tả” kể từ năm 1833, một năm sau khi Tả quân Tổng trấn thành Gia Định Lê Văn Duyệt qua đời, của chính Trương Vĩnh Ký viết bằng tiếng La Tinh:

“Tôi ra đời, chưa kịp khóc, cả làng Cái Mơn đã chìm trong lửa mùa nắng. Lửa từ những căn nhà lá của dân nghèo bừng bừng dữ dội, lửa cao hơn những ngọn cây dừa cao nhất, lửa lan từ khu vườn này sang khu vườn khác. Mẹ túm tôi trong chiếc áo cũ của cha tôi, theo ông ngoại ra chiếc xuồng nhỏ đậu sẵn trong con xẻo. Mẹ nhìn về phía nhà thờ cầu Chúa, nhưng nơi linh thiêng nhất ấy lại là nơi ngọn lửa cháy cao nhất. Lửa và khói, máu và nước mắt, tiếng khóc của đứa trẻ con mới chào đời lẫn trong tiếng khóc của những người mẹ, của những cụ già.

Từ con rạch Cái Mơn, ngoại bơi xuồng len lỏi đưa mẹ con tôi đi thật xa, xa đến nỗi ngay cả tiếng gào thét man rợ nhất của quân lính triều đình cũng không thể nào vọng tới được.”

Sự mâu thuẫn nội tâm của cha ông, lãnh binh Trương Chánh Thi , cũng giống như sự mâu thuẫn nội tâm của Trương Vĩnh Ký sau này. Là lãnh binh, ngày đêm đi đánh giặc phụng sự cho triều đình Huế, cho vua nhà Nguyễn được yên ổn nơi chốn kinh kỳ, mở mang bờ cõi, vậy mà ông lãnh binh bất lực trước lệnh Sát tả của nhà vua.

“ …Và ông đã ra đi trong nỗi đau đớn khôn cùng khi biết trước cái họa sẽ giáng xuống cuộc đời vợ con ông mà ông thì bất lực ! Cái họa ấy lại do chính triều đình, do chính nhà vua mà ông là lãnh binh gây nên….

Ông trở về khi làng mạc đã thành tro than, 20 người bị chặt đầu, bị treo cổ, bị cột đá bỏ sông Cổ Chiên, 3 người bị lăng trì. Từng mảng thịt bị xẻo ra khỏi cơ thể và ném xuống rạch Cái Mơn. Ông trở về giữa túp lều có mười tấm lá dừa nước do dân làng Cái Mơn góp lại cho…” 

Bây giờ nhớ lại, trong những lần đi tham khảo ở văn khố Hội Thừa Sai ở Paris (Missions Etrangeres Paris) tôi có dịp chiêm ngưỡng những tấm tranh vẽ những cảnh hành quyết giáo sĩ tử đạo thời nhà Nguyễn với tâm trạng của một người đứng trước một tác phẩm lịch sử, nghệ thuật, xa xôi mà không hình dung ra được nổi cả một tấm thảm kịch viết bằng máu và nước mắt trong đó. Bây giờ, một mái nhà tranh, một túp lều tranh giữa đồng ruộng bao la không còn là môt hình ảnh thơ mộng, lãng mạn đối với tôi, mà là những điều kiện sống rất thô sơ, nghèo nàn khốn khổ. Để châm biếm cái sự lãng mạn của tôi, má tôi thường nói “ Một túp lều tranh, hai quả tim vàng rồi thì cạp đất mà ăn !”

“Năm ấy Ký lên ba – cả nhà đều vui . Nhưng cậu bé ấy đã mang trên đầu ba chiếc khăn tang. Bà ngoại mất vào tháng hai vì kiết lỵ. Tháng sáu ông ngoại bị lính triều đình đập vồ vào đầu, óc phụt ra ngoài. Ông cụ đã chết quằn quại trên vũng máu, vậy mà chúng không cho gia đình đưa về chôn cất. Chúng kéo xác cụ ra ném ở rạch Cái Mơn, nơi mà trước đây từ sông Hàm Luông, ông cố đã đưa cả ông bà , cha mẹ vợ con theo con rạch này vào Cái Mơn…”

Triều đình Huế ở nơi kinh kỳ xa xôi giết dân mình trong vùng trời cuối đất ở miền Nam vì vấn đề tôn giáo ! Hiện nay tình hình thế giới cho thấy vấn đề thánh chiến giữa tôn giáo này và tôn giáo nọ chỉ là một cái cớ để che đậy những nguyên nhân sâu xa khác về kinh tế, về một đường ống dẫn dầu, một đường ống dẫn khí đốt xuyên qua nhiều quốc gia để ra biển chẳng hạn, hay về những ý thức hệ chính trị khác nhau, về trang bị quân sự, vũ khí.

Thời ấy, triều đình Huế ra lệnh giết chính dân mình là một cách thúc đẩy nhanh chóng sự xâm lăng của quân Pháp, tạo thêm một cái cớ cho họ hành động quyết liệt hơn, nhanh chóng hơn, vì họ đã nhận lệnh của triều đình Pháp đi xâm chiếm thuộc địa, cạnh tranh với những thế lực khác như Anh quốc, Đức, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Ngày nay, chúng ta học lịch sử thế giới đã biết, thế kỷ 19 là thế kỷ của những cuộc xâm lược chiếm hữu thuộc địa trên thế giới.

Đêm trước ngày lên đường đi Nam Vang, ông Thi đã tâm sự với bà rằng ông có tội với vợ với con. Ông không ngờ những thiếu phụ yếu ớt như bà, những đứa trẻ thơ như Sử và Ký lại là kẻ thù không đội trời chung của nhà vua !

Ông lãnh binh Thi chết vì bịnh trong khi thi hành nhiệm vụ ở Nam Vang. Còn lại người vợ góa phụ cô đơn Nguyễn thị Châu giữa đồng không mông quạnh và hai đứa con trai mồ côi cha còn nhỏ, Sử và Ký, làm gì mà ăn, lấy gì mà nuôi con ?

Cuộc đời cứ thế trôi đi, bà Châu được sự đùm bọc của hàng xóm, ông đồ Học dạy chữ thánh hiền, đạo Phật, thầy Tám, đạo Chúa. Rồi đứa bé Ký lúc được chín tuổi được gửi cho Thừa Hòa, tên Việt của một thừa sai người Pháp tên là Borelle, nhận vào tu viện nuôi cho ăn học. Khi Ký học xong ở chủng viện Penang sau bao nhiêu gian nan mới về được tận Cái Mơn năm 1858, thì mẹ đã chết.

Năm đó, ngày 01.09.1858 (năm Tự Đức thứ 11) tướng Rigault de Genouilly đem hơn 3.000 quân Pháp và Tây Ban Nha trên chiến thuyền nổ súng đánh Đà Nẵng, hạ thành An Hải và thành Tôn Hải, và Trương Vĩnh Ký học xong, về nước, được 21 tuổi.

Kể từ đây, “bi kịch” của Trương Vĩnh Ký rẽ qua một hướng mà suốt cuộc đời ông đã sống theo phương châm “ Ở với họ mà không theo họ, nhờ họ mà không quị lụy họ, lựa thời mà ra, tùy thời mà về, biết thế mà điều chỉnh ” , một bản lĩnh và một sự kiên trì không phải ai cũng có, và làm cho “đối phương” phải nể phục mình, tôn trọng mình.

Có những người chê trách Trương Vĩnh Ký vì đã làm thông ngôn cho thiếu tá Jaureguiberry, dịch các chỉ dụ trát, sớ tấu, soạn thảo các công văn từ phía Pháp gửi cho triều đình Huế, dạy ở trường thông ngôn do Charner thành lập năm 1861.

Năm 1860 Pháp sai tướng Charner đánh chiếm Nam Kỳ. Tháng 10 năm 1861 tướng Bonard sang thay Charner tiến quân đánh ngay thành Biên Hòa, đồn Bà Rịa. Tháng 3 năm 1862 tiến đánh đồn Vĩnh Long. Phan Thanh Giản và Lâm Duy Tiếp (Hiệp) được vua Tự Đức sai vào Gia Định giảng hòa, hai ông thay mặt vua Tự Đức ký hòa ước năm Nhâm Tuất ngày 05.06.1862 với tướng Bonard.

“Cuối giờ dậu cả hai (Phan Thanh Giản và Lâm Duy Tiếp) đã ngồi trước bàn hòa đàm trên tàu Duperre ở bến cảng Sài Gòn. Người thông ngôn cho Pháp là Aubaret. Trương Vĩnh Ký chỉ đóng vai phụ. Người thông ngôn cho phái bộ Phan Thanh Giản là Nguyễn Văn Tường.” (Tr.277).

Năm 1863, Phan Thanh Giản được vua Tự Đức cho dẫn đầu phái bộ sang Pháp để xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông, Aubaret vẫn là thông ngôn của phái bộ Pháp, Nguyễn Văn Tường là thông ngôn của phái bộ Việt Nam, Trương Vĩnh Ký được đi theo. Nhưng cụ Tường giữa đường bị bệnh mất, Trương Vĩnh Ký được Phan Thanh Giản và phía Pháp chấp nhận cho thay thế.

Hóa ra những câu hỏi ngây thơ của tôi trong cuốn Dấu Xưa-Tản mạn lịch sử nhà Nguyễn xuất bản năm 2010 và 2011 đã tìm được câu trả lời trong cuốn sách này !

Về phần cụ Phan, ”Ông tuyệt thực 17 ngày, uống thuốc phiện hòa với giấm thanh để tự vẫn ngày 4/8 năm đó, gửi lại ấn tín, áo mão và tờ sớ tâu về triều đình. Vua Tự Đức xuống chiếu kết tội ông rất nặng và tuyên án: « Tuy đã đắc nhất tử, nhưng cái chết vẫn không đủ che được tội. Vậy Phan Thanh Giản (với Lâm Duy Hiệp) đã quá cố phải bị truy đoạt hết tước hàm, đục bỏ tên trên bia tiến sĩ, để mãi cái án trảm hậu. Giết kẻ đã chết để răn người đời sau vậy ». (Bài báo Một công trình sử học mới: Phan Thanh Giản với bản án được tuyên sau cái chết,Giao Hưởng,Thanh Niên, 06/09/2006)

Về phần Trương Vĩnh Ký, với một quá khứ quan hệ Việt-Pháp thân thiết, ông đã từng gặp gỡ đại văn hào Victor Hugo, nhiều năm làm việc với người Pháp, ông lâm vào cái cảnh “ pris entre deux feux ”, một thành phần người Pháp không ưa ông, một thành phần người Việt ganh ghét ngay lúc ông lúc còn sinh thời, và mãi cho đến thế kỷ thứ 21 vẫn còn có người lên án ông.

Cụ Phan Thanh Giản đã nhắn nhủ ông “Cầm dao hai lưỡi là khó đấy!”. Biết là khó nhưng vẫn phải chịu đựng, vì hoàn cảnh đưa đẩy.

Cái kết luận của kẻ viết bài này, trông người lại nghĩ đến ta, không dám vô phép so sánh với ông, nhưng cũng cùng chung một “bi kịch muôn đời” như ông, có yếu tố nước ngoài, cho nên có cảm thông, hiểu được những sự khó xử trong cuộc đời ông. “Công và tội” của ông đành để cho thời gian đi qua và trả lời, cầu mong cho ông được bình an yên nghỉ nơi nước Chúa.

Cuốn sách của Hoàng Lại Giang, không viết theo kiểu tiểu sử một danh nhân, mà tác giả khiêm tốn đề là “Truyện danh nhân”, dễ đọc, cung cấp cho người đọc có thêm suy nghĩ mới về những nhân vật được nói đến. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc. MTT

Publicités

The surprising buying power of VNĐ1,000

13. avril 2018

The surprising buying power of VNĐ1,000 – by Mathilde Tuyết Trần

Viet Nam News – Update: April, 08/2018 – 05:00

Looking down at the bunch of small notes I was holding in my hand, the cab driver said, “Please give me those small notes for change. If you give those notes to the street beggars, they wouldn’t take them!”

They were VNĐ1,000 and VNĐ2,000 notes, even a few of the VNĐ500 pinky notes. These are the smallest monetary notes currently in circulation in Việt Nam.

I thought to myself that some tourists do not know the buying power of the Vietnamese currency, so they usually waste their money—or can be convinced to hand it over to a cab driver after they’ve already paid their fare.

One thousand Việt Nam đồng equals 0.035 euro or 0.045 US dollars, which is less than a five-cent coin. You can’t really buy anything with this in Europe or America.

But in Việt Nam, one thousand đồng can buy you something useful for your daily needs.

Twenty thousand đồng (less than an euro and a US dollar) can be a vital portion of a worker’s wage: With VNĐ20,000, one can have a big bowl of rice and a large garlic roasted rib, whose fragrance will tempt your empty stomach.

Ten thousand đồng (less than half an euro or a dollar) can buy you a loaf of bread with eggs or meat, a bowl of instant noodles with some meat, slices of roast pork paste or a bun of sticky rice, a popular breakfast bundle often sold at humble sidewalk posts.

In the morning, you can see breakfast carts on the streets selling steamed broken rice, noodle, phở noodle soup and bún vermicelli, rice porridge and sticky rice. People gather around the seller enjoying their meals before going to work or to school.

In the late afternoon, the street food scene grows even bigger and more exciting. There are so many of them, each cart has its own special snack. Bò bía rolls with julienned coconut in rice paper, roasted escargots of all size and shapes and flavours, roasted rice cakes, dry squid on charcoal, baby duck eggs, roasted chicken eggs, meat buns, sticky rice and chicken porridge—all are sold for less than VNĐ10,000 a portion for students and schoolchildren.

People living in Hồ Chí Minh City know where to go to have good food at reasonable price. It seems to me, a visitor to the city, that people eat all day long. Especially at night, when it’s cooler, people tend to gather around a dining table chatting and drinking.

Street food is as much a social experience – and a much more ubiquitous one – as the more relaxed meals eaten at higher-end restaurants.

Tourists like me always have to pay double or three times more street food favourites when we eat them in more established venues like Phở Hòa Pasteur or any of the Ngon restaurants or the dining quarter at the Bến Thành Market. We pay VNĐ75,000 for a bowl of soup, or VNĐ90,000 in four-star city hotels. Honestly, the food does not taste better, only the bill is higher.

But what’s more important to tourists, beyond the food itself, are food safety and hygiene, the cleanliness of the table and chairs and service. That’s why some not-so-good restaurants serving not the greatest food are more frequented by tourists. Tourists are used to having food on chairs and table. They are quite surprised to see local people having food on plastic or wooden stools, which are as small as kindergarten stools. They are afraid of falling off the seats and are not used to eating with their stomachs compressed as they bend towards their bowl on the table.

If you go to the market, you can see all kinds of fruits and vegetables, meats and poultry and seafood at very low prices compared to the same merchandise in Europe. The tourists will see another side of Việt Nam now that it can feed and dress its people well. Food and clothes can be found anywhere, in any small lanes or streets and the prices can fit any income group.

Since I realised the purchasing power of the one-thousand and two-thousand đồng notes, I stopped ignoring them and started to be more careful with my spending.

Do you know what one or two thousand đồng can buy at this time?

You can buy some pieces of paper to write a letter or a proposal, an envelope, a stamp, rubber bands, make a photocopy, a plastic container for food storage, a Styrofoam box, a plastic bag, a shampoo or shower gel sachet or a piece of soap.

You can buy a bag of white rice, an instant noodle pack, a bundle of fresh noodles, a loaf of bread, some chilis, a lemon or some kumquats, some green onions, coriander, bean sprouts, a bundle of vegetables, sea salts, some sesame, one sweet potato, one banana, some tumeric roots or ginger, a garlic, a maize cob, a tomato, an onion, or a piece of tofu.

One thousand đồng can buy you a « Cat » cigarette, two pain killer pills, four band aids or 200 litres of clean water from the city’s clean water company, which exceeds the average person’s daily drinking needs of five litres.

In a public restroom near a park, I saw one- and two-thousand đồng notes neatly placed in a plastic box next to a pack of toilet paper. Put a note in, and you can take away the paper for your use.

I have gone a long way to say, “Do not look down on those small notes of one- and two-thousand đồng, that ’even a beggar would not take’!”

Above the two-thousand notes is the five-thousand đồng note. Cab drivers tend to round the amount tourists have to pay for their ride, for example, if the ride is VNĐ74,000, and you give them a 100-thousand note, they will just give you VNĐ20,000 back to avoid producing the small change.

Higher up in the range of notes, a ten-thousand đồng note can buy a lottery ticket that can be quite meaningful for a normal worker. It’s psychologically proven, that the poorer one becomes, the more one wants to win a lottery ticket. So they end up exchanging their hard-earned money for the glimmer of hope attached to the ticket.

A few years back, a publisher in HCM City wanted to publish one of my books. But I disagreed with the editor, who wanted to cut a part of the book explaining the price index in the markets in Việt Nam. Anyone with an economic background knows well that the market price is the meter of supply-demand, of inflation, of the actual production status of that market, of the buying capacity of the market and of material products distribution in society.

The market price fluctuations can lead to effective economic decisions or policies.

If the editor cut that part out, my book would not carry the intention of the writer.

I changed my mind and decided not to publish the book. As any shopper strolling through HCM City can tell you, price matters—and so do small đồng notes. VNS

Read more at http://vietnamnews.vn/talk-around-town/425646/the-surprising-buying-power-of-vnd1000.html#2ODxY3oSTPLE3jw3.99

 

Một ngàn đồng Việt Nam

1. avril 2018

Một ngàn đồng Việt Nam – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2018

Nhìn mớ giấy tiền lẻ trong tay tôi, anh tài nói, thôi cô trả tiền lẻ cho cháu đi, tiền này cô cho ăn mày còn không lấy. Đó là những tờ giấy có mệnh giá một ngàn đồng và hai ngàn đồng việt nam, có khi có cả tờ năm trăm đồng, là đơn vị tiền giấy nhỏ nhất.
Du khách thường không biết giá trị tiền việt nam nên tiêu xài phung phí. Nếu tính ra Euro thì một ngàn đồng việt nam bằng 0,035 euro, (1€ = 100 cents (xu), 1 cent = 285 đồng vn) , và tính theo $ thì một ngàn đồng việt nam bằng 0,045 usd, một đơn vị khá nhỏ để mua bán và ở châu Âu thì không mua được gì cả, nhưng ở Việt Nam thì một ngàn đồng mua được một số hàng hóa giúp ích cho đời sống thường nhật.
Người ta thường xài từ giấy năm ngàn đồng trở lên, tức mười ngàn, hai chục ngàn, năm chục ngàn cho tới giấy một trăm ngàn, hai trăm ngàn và năm trăm ngàn đồng.
Hai chục ngàn đồng đối với lương công nhân là to lắm, vì đó là giá của một bữa cơm trưa có thịt, có canh. Với số tiền hai chục ngàn người ta có thể ăn no và ăn ngon, thí dụ như một đĩa cơm tấm với một miếng thịt sườn thật to nướng thơm ing ỏi. Một người công nhân kể cho tôi nghe rằng anh cố gắng chỉ ăn mỗi ngày 50.000 đồng, 10 ngàn bữa sáng, 20 ngàn bữa trưa và chiều, phần còn lại dành cho gia đình vợ con. Tính ra tiền ăn mỗi ngày của anh chưa tới 2 euros.
Mười ngàn đồng thì mua được một cái bánh mì saigon kẹp trứng, kẹp thịt, hay một tô mì gói cải thiện thêm thịt, thêm giò chả, hay một đĩa cơm tấm , một phần xôi nóng…buổi sáng ăn cho no bụng ở những hàng quán bình dân ven đường.
Buổi sáng người ta thường thấy dọc trên nhiều đường phố những chiếc xe bán bánh mì, cơm tấm, mì, phở, bún, cháo, xôi…người ăn ngồi trên vỉa hè quây quần chung quanh, húp xì xụp. Buổi trưa, lại còn náo nhiệt đông đúc hơn. Buổi tối lại còn thêm vô số, đếm không hết, những xe bán bò bía, ốc nướng, bánh tráng nướng, mực nướng, hột vịt lộn, hột gà nướng, bánh bao, xôi cúc, cháo gà…. những món bán dưới mười ngàn đồng cho học sinh, sinh viên ăn vặt.
Ăn sáng ở nhà, nếu muốn khá hơn một chút thì một ổ bánh mì thịt giá hai chục ngàn, một đĩa bánh cuốn nóng cũng cùng giá, tô phở ba mươi lăm ngàn. Người sài gòn biết chỗ đi ăn để khỏi bị móc hầu bao, và hình như họ ăn suốt ngày, nhất là càng về tối, mát trời, cái thú đi ăn đêm, nhậu nhẹt lại còn tăng lên. Ẩm thực vỉa hè, ẩm thực đường phố đang dần chiếm chỗ của những món ăn sang trọng, cầu kỳ.
Du khách như tôi phải trả cho cùng một món ăn như thế gấp đôi, gấp ba lần tiền vì thường lai vãng trong những hàng quán “nổi tiếng” như phở Hoà Pasteur, hay quán Ngon, khu ẩm thực chợ Bến Thành chẳng hạn, giá một tô phở bẩy mươi lăm ngàn, một phần bún chả giò cua chín chục ngàn, hay trong những khách sạn bốn sao, năm sao, thực tình mà nói ngon thì chẳng ngon hơn, chỉ có cái là chém đẹp.
Tuy nhiên ngoài vấn đề ăn ngon miệng, hợp khẩu vị, đối với người du khách vấn đề vệ sinh của món ăn, bàn ăn, chỗ ngồi , người phục dịch là điều quan trọng hơn. Cho nên, không có gì đáng ngạc nhiên khi mình cho là ăn dở, giá đắt thì lại được khách nước ngoài lựa chọn. Người nước ngoài có thói quen ăn uống phải có bàn , có ghế cao bình thường, họ rất ngạc nhiên khi thấy người Việt ăn uống trên những chiếc ghế đẩu bằng gỗ, bằng nhựa thấp chủm như là ghế dành cho búp bê, họ sợ ngồi xuống là té ngửa và cũng không quen ăn uống trong tư thế cái bụng bị gập đôi lại. Các hàng quán bầy hàng với bàn ghế thấp như thế, kể cả các quán cà phê sang trọng, là tự mình đánh mất đi phần thu nhập từ khách nước ngoài.
Nếu bạn có dịp đi chợ, bạn sẽ thấy rau, củ, quả, cá, tôm, thịt ….nhiều đầy ứ, rất tươi và rất rẻ, so với mức sinh hoạt ở châu Âu. Du khách sẽ thấy một đất nước Việt Nam hiện tại có cái ăn, cái mặc dư thừa. Thực phẩm bày bán ở các chợ, các phố phường, các hẻm to, hẻm nhỏ…nhiều vô kể và giá cả rất linh hoạt.
Từ khi biết giá trị của những tờ giấy một ngàn, hai ngàn tôi không dám xem thường chúng nữa và ăn tiêu ở nhà tần tiện hơn. Bạn có biết mua được những gì với một ngàn đồng hay hai ngàn đồng việt nam vào thời điểm hiện tại không ?
Với số tiền nhỏ nhoi đó, bạn có thể mua được vài tờ giấy viết thư hay để làm đơn, bao thư, tem, giây thun, một bản photocopy, một hộp nhựa đựng thức ăn, một hộp xốp, bao ni lông, cũng như một bịch sữa gội đầu, một bịch sữa tắm, một cục sà bông, hoặc mua một số thực phẩm như một bịch cơm trắng, một miếng mì gói, một vắt hủ tíu, một ổ bánh mì không, mấy trái ớt, chanh, tắc, hành lá, rau ngò, giá sống, một bó rau, muối trắng, một chút mè, một củ khoai, một trái chuối, vài củ nghệ, vài củ gừng, riềng, củ tỏi, trái bắp, một trái cà chua, một củ hành tây, đậu hũ….Trong một nhà « toi lét » của một công viên, tôi thấy những tờ giấy một ngàn đồng, hai ngàn đồng đặt ngay ngắn trong một cái rổ, bên cạnh xấp giấy trắng vệ sinh. À, bạn đặt tiền vào rổ rồi được lấy một, hai tấm giấy vệ sinh.

Bạn đọc còn cho biết, một ngàn đồng mua được điếu thuốc lá con mèo, 200 lít nước sạch của công ty nước sạch Hà Nội…Vì sức tiêu thụ của cá nhân tôi có giới hạn, nên hẳn bạn đọc còn nhận thấy một ngàn đồng mua được nhiều thêm nữa, có ý thức hơn về giá trị tiền tệ của mình. Tôi vui mừng đón nhận những ý kiến bổ xung của các bạn.

Hãy đặt câu hỏi ngược lại, nếu bạn đang cần một thứ nói trên, mà bạn không có một ngàn hay hai ngàn đồng để trả ? Chính vì thế, không nên khinh thường những tờ giấy bạc một ngàn đồng hay hai ngàn đồng việt nam, cho rằng “ăn mày không thèm nhận”.
Tiếp theo hai tờ giấy bạc mệnh giá một ngàn đồng, hai ngàn đồng là tờ giấy năm ngàn đồng…đã có giá trị to lớn hơn. Hẳn các chú tài taxi thích làm tròn số tiền khách phải trả, thí dụ như cuốc xe 74.000 đồng, khách đưa tờ 100.000 đồng, thì có người chỉ thối lại bằng một tờ 20.000 đồng với lý do là không có tiền lẻ. Vậy bạn hãy thủ một mớ tiền lẻ để trả tiền taxi, hay trả bằng thẻ ngân hàng.
Như thế, xem ra tấm vé số giá bán là mười ngàn đồng một tờ đã là một món tiền lớn cho người lao động, mà tâm lý hễ càng nghèo lại càng mơ ước trúng số độc đắc càng lớn, thúc đẩy người nghèo thường xuyên mua vé số, mất tiền toi. Nhưng cũng có người vừa chơi vé số, vừa cầu mong sao cho con gái mình kiếm được “chồng ngoại” hầu được đổi đời. Những người tự thấy mình không thoát ra khỏi hoàn cảnh, làm ra đồng nào ăn hết đồng nấy, ngày hôm nay không biết nghĩ đến ngày mai, thường nuôi dưỡng mình trong hai cái ảo vọng cuối cùng đó.
Cách đây vài năm, một nhà xuất bản lớn tại thành phố Hồ Chí Minh đã có ý định xuất bản một cuốn sách của tôi, nhưng vì bất đồng ý kiến với người biên tập viên phụ trách, mà sự việc không thành.
Nguyên nhân chính là anh bạn trẻ biên tập viên này muốn cắt bỏ hết những đoạn văn tôi viết về giá cả trên thị trường Việt Nam. Những ai có học về kinh tế đều biết rằng giá cả trên thị trường là thước đo về cung/cầu, về mức độ lạm phát, về tình hình sản xuất thực tế của thị trường đó, về “sức mua” của giá trị tiền tệ, về tình hình phân phối vật chất, sản phẩm trong xã hội…Qua sự nghiên cứu về giá bán trên thị trường, người ta rút ra được nhiều kết luận kinh tế hữu ích. Cắt bỏ vì cho là nó rườm rà, vô bổ thì hoàn toàn đối nghịch lại với chủ ý của người viết, cho nên tôi quyết định không cho xuất bản cuốn sách đó và sự việc chết trong im lặng. MTT

Quán ăn vỉa hè với bàn ghế thấp chủm bằng nhựa. Photo: MTT2018

Quán cơm, hủ tíu đầu ngõ là một hình ảnh quen thuộc. Con ngõ nhỏ nào cũng có một cái quán đầu ngõ, nuôi sống đến cả mấy gia đình. Photo: MTT2018

Một cái kệ, một cái ghế nhựa, một cái bàn nhựa đủ để thành một « cửa hàng » buôn bán. Photo: MTT2018

Một quán cơm tấm chờ khách ăn trưa. Photo: MTT2018

Cửa hàng bán mía trên một chiếc xe máy cũ kỹ. Photo: MTT2018

Trong siêu thị thực phẩm rất rẻ so với mức sống ở châu Âu: một kí rau mồng tơi chỉ có 17.500 đồng. Mua 2 lạng rau để nấu một tô canh hết có 3.500 đồng. Photo MTT2018

Bảng giá cá tuơi…Photo MTT2018

rất nhiều loại cá biển, cá sông, cá ao hồ…..Photo: MTT2018

Trong gian hàng sách tại hội chợ sách tháng ba. Photo: MTT2018

Nhiếp ảnh gia Trương Văn Hắng

18. mars 2018

Nhiếp ảnh gia Trương Văn Hắng – Mathilde Tuyết Trần, France 2018

Thiệt là có duyên nợ trời cho mà tôi được gặp anh Hắng, hữu duyên thiên lý năng tương ngộ….Về cái đất Bình Định từ 10 năm nay, đến năm thứ 10 tôi mới gặp anh Hắng, cũng là do « đầu dây mối nhợ » tự Saigọn, chứ không thì tôi đâu có biết anh ! Mà ở đây ai cũng biết anh, trừ chúng tôi ra. Thế mới hay. Gặp anh, tưởng chừng như quen đã lâu. Anh rất tự nhiên, thân thiết, lo lắng cho tôi như cho một cô em gái. Cho tấm hình, anh còn mang theo cái kéo, cuộn băng keo, sợi giây thun, cả miếng giấy vụn để lắp ống.

Bữa hẹn mà anh không đến, hôm sau anh nói rất thiệt thà, tui nhậu say quá, không dám chạy xe, về ngủ rồi quên mất…Anh khoe một hộp to toàn là …ốc, đã rửa sạch, làm sẵn, những con ốc đen, nho nhỏ, mà anh ra tận suối, sắn quần sắn áo, lượm nhặt từng con bò trên đá, anh cho coi cả cái video có con suối và những con ốc, anh nài nỉ chúng tôi ở lại để ăn ốc hay anh mần thịt một con gà nuôi trong sân nhà cho bữa com trưa, còn đòi đổi hai con nhỏ lấy một con lớn của bà hàng xóm để ăn cho đã. Chúng tôi đi đến đâu gà chết đến đấy nên tôi thoái thác, thôi anh, tội nghiệp con gà, để cho nó sống. Cả bọn kéo nhau đi ăn mì Quảng, một tô chỉ có 25.000 đồng, là xong một bữa. Ông xã tôi ăn không nổi, mì quảng cay lắm. Năm người ăn, uống ba lon bia hết có 150.000 đồng, bằng một đĩa cơm trả trong khách sạn.

Anh Hắng nói huyên thuyên. Cái giọng Bình Định tôi nghe đã quen tai, nhưng mà anh nói nhanh lắm, phải gióng lỗ tai lên nghe, có khi còn không kịp. Đời anh, chỉ biết toàn là chiến tranh. Chiến tranh đồng nghĩa với « Khổ lắm! « , mà có ai thấm thía được nỗi khổ của anh đã trải qua ! Con mắt anh tròn như hai hạt nhãn, đen nháy, nhìn rất hiền. Mắt ai mà như mắt lươn, lồi ra, đó là tướng người gian xảo. Anh kể đủ thứ chuyện, từ chuyện ba lần anh bị tụi lính Mỹ bắt, chuyện anh xung phong đi lính đánh trận Campuchia, làm tài xế lái xe, rồi có cái quyết định đột ngột đi vào nghề nhiếp ảnh nghệ thuật…chuyện riêng, chuyện bao đồng, chuyện kể không có thứ tự lớp lang chi hết, hứng chỗ nào kể chỗ ấy, nhưng mà rất vui tai.

Tôi tường 10 năm về Bình Định tôi biết hết cái xứ này, nào dè gặp anh, anh lại chỉ cho tôi xem những điều cũ đã có mà tôi chưa biết và cả những thay đổi mới. Cả một cái thành phố nó nằm trong ruột anh, cả một khu vực nằm trong lòng bàn tay anh, không một điều gì mà anh không biết. Nhà nhiếp ảnh gia này đi săn những ảnh đẹp của quê hương, khi ông trời còn ngủ sắp thức dậy, khi ánh nắng chiều vừa tắt, ráng trời toả ra như thiên thần hiện xuống. Anh không ngại nắng gió, xa xôi hiểm trở, và sự thân thiện rất tự nhiên của anh đưa anh gần gũi với những người lạ hoắc, trước lạ sau quen mà. Anh đưa tôi lên một đỉnh núi cao 560 mét để săn hình, hôm đó trời không có gió mạnh, chỉ hơi hơi riu riu, mà dưới thấp thì nóng hừng hực, ở trên này thì lạnh run ! Những cái nhìn về quê hương của anh rất thật, không mầu mè, xa hoa, kiêu kỳ.

Giới thiệu với bạn đọc một vài ảnh của nhiếp ảnh gia Trương Văn Hắng, là giới thiệu một con người rất đỗi bình dị, dân dã, chân thật, nhiệt tình của quê hương để không bao giờ đánh mất niềm tin vào quê hương và người Việt. MTT

Trương văn Hắng – Lấy mủ

Trương văn Hắng – Quăng lưới

Trương văn Hăng – Cha và con

Trương văn Hắng – Trẻ và già

Trương văn Hắng – Lấy muối

Trương văn Hắng – Thuyền về bến đậu

Trương văn Hắng – Con gái Bình Định

Nha Trang mười năm tình cũ…

1. mars 2018

Nha Trang mười năm tình cũ…Mathilde Tuyết Trần, France 2018

Những bài hát ca ngợi  Nha Trang là miền quê hương cát trắng, có những đêm nghe vọng lại. Ầm ầm tiếng sóng xa đưa  Nha Trang ngày về, mình tôi trên bãi khuya. Tôi đi vào thương nhớ, tôi xây lại mộng mơ năm nào…., đưa tôi trở về Nha Trang thăm viếng thành phố này sau mười năm vắng bóng.

Trên đoạn đường từ thành phố Hồ Chí Minh ra Nha Trang xa 450 km, tôi vẫn nhớ đến những kỷ niêm ở Tháp Bà cùng với sự nhộn nhịp suy đọa của thành phố này 10 năm về trước.

Mười năm sau tôi trở lại, ấn tượng đầu tiên là một sự đổi mới quá đỗi ngạc nhiên. Nha Trang đã trở thành một cô gái nhà giầu kiêu sa ỏng chảnh trải dài trước mắt tôi với những khách sạn sang trọng cái cao cái còn cao hơn nữa nối tiếp nhau trên con đường bọc vòng biển của thành phố.

Hinh ảnh như một cô gái thơ mộng diễm lệ có mái tóc vàng óng ả phơi bóng bên rạng dừa xanh, biển xanh của Nha Trang đã biến mất vĩnh viễn. Con người thường sống với những hoài niệm trong quá khứ, tìm về cái ngày xưa, nhất là khi cái ngày nay lại không phù hợp với giấc mơ của mình. So sánh như thế có vẻ « cái lương », nhưng để nói lên rằng nếu có ai tìm kiếm những tĩnh từ mô tả tính chất của Nha Trang hiện nay thì họ sẽ tìm thấy Nha trang là một thành phố « mở », giầu sang, hiện đại, sôi động khác với Nha Trang ngày xưa êm đềm và thơ mộng. Nha Trang « mớ » để đi lên sự giầu sang.

Mới tám giờ sáng, du khách đã ra chiếm chỗ nằm la liệt ngoài bãi cát biển trên một diện tích nhỏ hẹp so với khối lượng bê tông khách sạn sau lưng. Dù một nửa bãi cát được dùng làm công viên, một nửa để thiên nhiên cho du khách nằm phơi nắng, nhưng thấy rõ là con người hám tiền, hám vụ lợi đang lấn áp, bóc lột thiên nhiên. Có nơi, du khách nằm chỏng khu trắng bóc ra phơi nắng đến nỗi ngồi trên xe đi ngoài đưỡng cũng trông thấy.

Vẫn biết, khai thác du lịch để biến ngành du lịch thành một nguồn tài nguyên trọng điểm của quốc gia, đem lại công ăn việc làm cho dân chúng hoạt động trong ngành du lịch. Nhưng đó chỉ là phương châm, mục đích, còn thực hiện như thế nào thì tùy thuộc vào sức nhìn xa trông rộng của người lãnh đạo cơ sở, có bị những nhóm lợi ích, những nhà đầu tư nhà đất bất chấp cảnh quang, diện mạo môt thành phố về lâu về dài chi phối hay không.

Đập phá hết những cái cũ, xây lên những cái mới là làm mất đi tính chất lịch sử của một thành phố. Hà Nội ngaỳ hôm nay sẽ ra sao nếu Hà Nội triệt tiêu cả phố cổ, các dinh thự cũ kỹ thời Pháp thuộc, để thay thế bằng những khối nhà bê tông hình trụ cao ngất ngường theo kiểu Mỹ, bốn cạnh bốn góc cửa sổ hinh chữ nhật đồng loạt giống nhau để chứng tỏ mình tân tiến, hiện đại ? Paris ngày nay sẽ ra sao khi đập phá hết những khu phố xây từ thế kỷ 17, từ thời Haussman, để xây toàn là những tháp ngủ bê tông cao 25 tầng trở lên ? Dân chúng và du khách yêu mến Hà Nội hay Paris vì biết giữ lại lich sử, cổ kính, êm đềm đồng thời xây dựng cái mới ở một nơi khác trong thành phố. Kiến trúc đô thị bền vũng có phải chỉ theo kiểu « phá cũ xây mới » để chọc lên trời ? Mô hình Nha Trang đang có vẻ trở thành kiểu mẫu cho nhiều thành phố ven biển noi gương theo. Mô Phật !

Theo gương Nha Trang thì cái thành phố vốn hiền hòa Quy Nhơn cũng đang rục rịch thay đổi để đón khách du lịch nước ngoài. Nhà chọc trời mọc lên, các khoanh vùng « du lịch » đã được thành lập, qui hoạch, nhà cửa, trường học được di dời đi nơi khác. Bộ mặt các thành phố biển đang đổi thay hàng ngày.

Hình như người đàn ông thế kỷ này cũng thay đổi quan niệm về thẩm mỹ, cái nhìn về nét đẹp của người phụ nữ, không còn yêu mến những nét duyên thầm, những đức hạnh không lộ liễu mà chạy theo cái đẹp botox, cái đẹp si li côn, cái đẹp dao kéo, không biết phân biệt giữa thật và giả.

Một khát vọng quốc gia thịnh vượng không phải là cái khát vọng trông thấy những bloc nhà cao tầng mọc san sát nhau như nấm trồi mặt đất, hình như cũng  cái thẩm mỹ của một số các đấng trượng phu mày râu nam tử. Nhưng điều làm bức xúc hơn là có những nhà hàng ăn, trên đất Việt Nam, lại có những thực đơn hoàn toàn bằng tiếng Trung quốc, hay hoàn toàn bằng tiếng Nga, khiến cho người Việt không vào ăn được vì không hiểu tiếng « nước ngoài ». Một cách kỳ thị người Việt và du khách những nước khác trên đất Việt chăng ? Chồng tôi, người Pháp, vốn thích ăn cơm tàu trong quận 13 Paris, định vào một tiệm ăn Trung quốc ở Nha Trang, phải bỏ đi vì không biết tiếng Trung quốc. Nhìn quanh, chỉ có hai chúng tôi đến từ châu Âu, còn lại là khách Trung  quốc và khách Nga.

Ngày thứ năm 8.3.2018 báo Tuổi Trẻ đăng bài chạy tít lớn « Bảng hiệu tiếng nước ngoài đè tiếng Việt » nói lên sự việc tiếng Việt bị ngôn ngữ nước ngoài lấn áp. Biển quáng cáo to đùng, đập vào mắt người đi đường, thực đơn, hóa đơn…hầu hết bằng tiếng Hàn, tiếng Trung Quốc, tiếng Nga, tiếng Anh…hoàn toàn không có tiếng Việt. Những người chủ cửa hàng cho rằng sử dụng tiếng nước ngoài vừa « bắt mắt » vừa « thuận lơi » vừa « hiệu quả cao », mà quên hẳn đi hơn cả cái việc kiếm tiền, chạy theo đồng tiền là vấn đề chủ quyền và lòng tự trọng dân tộc !!!

Những quy định có văn bản pháp luật, tuy yếu ớt, và chỉ xử phạt về hành chính, lại quá nhẹ, không thấm vào đâu so với doanh thu của các chủ cửa hàng, lại tùy thuộc trách nhiệm của địa phương, theo bà Cục trưởng cục văn hóa cơ sở Ninh thị Thu Hương. Vì thế, có địa phương « nghiêm túc » có địa phương không nghiêm túc thực hiện, lỏng lẻo ! Vấn đề đặt ra ở đây không phải là vấn đề « địa phương », mà là cái bảng hiệu « tiếng Việt » đã biến mất. Hạ Long, Móng Cái, Đà Nẵng, Nha Trang, Phú Mỹ Hưng (TP HCM) là những nơi có nhiều khách nước ngoài và có tình trạng sử dụng tiếng nước ngoài quá quy định pháp luật Việt Nam. Cách hành xử yếu ớt, phó mặc cho « địa phương », không giải quyết được một vấn đề có tàm vóc quốc gia và  » phản văn hóa » theo kết luận của nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến.

Du khách Nga tế nhị hơn, không xô bồ, ồn ào. Du khách Trung Quốc thì ngược lại, chiếm đóng hầu hết khung cảnh đường phố, làm tôi có cảm tưởng đang lọt vào một Chinatown nào đó của thế giới. Du khách Nga sau khi đến Nha Trang thường đi tours theo kiểu 1 ngày ở Đà Lạt và 2 ngày ở Saigòn, rồi về lại Nha Trang, tổng cộng trung bình họ ở lại Nha Trang năm ngày.

Bây giờ đường xá phần lớn đựợc mở rộng, làm mới nên di chuyển thuận tiện hơn, rút ngắn được thời gian. Nhưng hung thần và tử thần trên xa lộ, gọi là đường cao tốc, chính là những người lái xe giường nằm, xe đò lượm khách dọc đường, xe tải chở công tơ nơ dài thườm thược. Họ thường ép các xe khác từ bên tay phải để qua mặt, một điều mà ở châu Âu cấm triệt để.

Thậm chí, họ ép bằng cách lấn trên lằn đường cứu nạn, trong khi trên hai lằn đường chính đã có hai xe đang chạy song song với nhau, chiếc xe chạy sát lề trái chạy chậm, chiếc xe ở giữa phải thắng gấp, chậm hẳn lại, để cho xe khách vượt sát đầu mũi xe mình. Mọi chuyện xấy ra ở tốc độ tám, chín chục cây số giờ. Nếu người lái ở giữa, chính ra là đang chạy trên lằn đường bên tay phải của xa lộ, không vững tay lái và tinh thần thì đã xảy ra tai nạn chết người rồi. Ở châu Âu những trường hợp ép xe có tính chất nguy hiểm giết người như thế thì tài xế đã bị rút bằng lái tại chỗ và bắt bỏ tù.

Thêm vào đó, một số người lái xe hai bánh thích chạy nghênh ngang trên đường cao tốc, chẳng kể đến các xe to xe nhỏ sau lưng mình, không cần nhìn vào kính chiếu hậu, cứ chạy là chạy. Còi xe hơi bấm liên tục để ra hiệu cho những người lái xe mô tô lánh vào trong lằn đường của mình. Sự kiện này cắt nghĩa tại sao có nhiều tai nạn giao thông chết người ở Việt Nam, không nói chi đến các dịp lễ Tết.

Du lịch Việt Nam chia khách du lịch làm ba loại chính: loại khách sang ở resort trả hơn 2 triệu đồng cho đến 6 triệu đồng một đêm trọ, loại bình thường trả từ 1 triệu đến 2 triệu cho một đêm trọ, và loại tây ba lô trả từ 1 triệu trở xuống cho một đêm trọ. Tỷ giá đô la Mỹ hiện nay lên xuống khoảng 22 đến 23.000 đồng Việt Nam, đồng Euro giao động trong khoảng 27. đến 28.000 đồng Việt Nam.

Người Việt Nam càng ngày lại càng giầu có lên đến mức không tưởng, con số đại gia vung tay xài tiền triệu hàng ngày tãng lên rất nhanh, vì thế các resort được chiếm đóng phần lớn là khách Việt Nam nội địa, họ có xe nhà và tài xế đưa đón đi đó đi đây nên không quản ngại việc các resort đều nằm ở những vị trí tuyệt đẹp, nhưng xa trung tâm thành phố và các điểm du lịch.

Trong thành phần « bình thường » chen chúc nhau là du khách nước ngoài và đa số Việt kiều ít tiền hơn. Kể từ thập niên 90 trở lên thì thành phần Viêt kiều, mới và cũ, đều thua xa các đại gia trong nước về mặt giầu có. Thành phần bình thường này lại được phân chia theo khách đoàn và khách lẻ. Các khách sạn thích đón khách đoàn hơn, họ đến bằng xe buýt, ập đến, ập đi, chỉ ăn bữa sáng rồi ào lên xe buýt đi, chiều tối lại ào về ngủ, để sáng mai đi tiếp, cứ thế đoàn này nối đoàn kia, dễ tính lịch cho khách sạn dù thu nhập có yếu đi một chút vì còn phải khấu trừ phần lợi nhuận cho các công ty lữ hành du lịch. Khách lẻ là « con mổ côi » trong du lịch Việt Nam, thường phải trả giá phòng cao hơn, các dịch vụ xe cộ di chuyển đơn lẻ cao hơn, dịch vụ ăn uống mắc hơn, dù là khách ngoại hay là người Việt.

Một người trong lãnh vực du lịch tâm sự với tôi rằng Nha Trang xây bao nhiêu phòng cũng không đủ so với lượng khách Trung quốc đổ về, hôm mùng ba Tết cả Nha Trang « cháy » phòng, giá bao nhiêu cũng hết. Khách Trung quốc lại mua nhiều quà cáp đem về. Thu nhập của những điểm bán hàng lên đến 150 triệu đồng một ngày, vì thế những người hướng dẫn đưa khách đến ăn hoa hồng khẩm.

Nha Trang so với những điểm du lịch khác có nhiều thuận lợi, có nhiều điểm vui chơi ăn uống ngay trong thành phố. Hòn chồng, tháp bà, chợ đầm, bảo tàng viện Hải dương học, khu vui chơi Vinpearl với những trò chơi tìm  » cảm giác mạnh « nằm trên một hòn đảo phải đi qua bằng cáp treo từ đất liền…là những nơi thu hút ít nhiều du khách. Mười năm sau nữa không biết tôi có còn được trở về Nha Trang một lần nữa để ghi nhận thêm một sự thay đổi của mười năm tình cũ ? MTT

Toàn cảnh Nha Trang 2018 – Photo. MTT 2018

Nhìn ra biển, san sát nhau những nhà là nhà…Photo: MTT2018

Còn sót lại vài nóc nhà ngói đỏ bé tí của những căn nhà cổ ở Nha Trang…Photo:MTT 2018

Một tòa nhà cao hơn 30 tấng đang được xây dựng ngay sau lưng tòa thị chính cũ…Photo: MTT 2018

Mới tám giờ sáng trời chưa có nắng du khách đã nằm la liệt chiếm chỗ ngoài bãi biển nhỏ hẹp còn sót lại của Nha Trang…Photo: MTT2018

Hòn chồng Nha Trang 2018 Photo: MTT 2018

Thảm hoa mùa Tết

16. février 2018

Thảm hoa mùa Tết – Mathilde Tuyet Tran, France 2018

Thành phố đang chìm trong màn đêm đã buông xuống từ sáu giờ chiều, xe cộ đã bắt đầu lác đác dần, trả lại sự yên tĩnh tạm thời cho Sài Gòn ngày xưa. Tạm thờì thôi vi chỉ trong vài giờ đồng hồ nữa, khi thời khắc đã đến giao thừa bước qua năm mới thì mọi người dân Sài Gòn lại đổ ào ra đường đi xem bắn pháo bông, đi chùa, đi lễ nhà thờ, đi chơi với bạn suốt sáng thâu đêm. Không có cái thú nào bằng đi giữa một Sài Gòn vắng lặng, yên tĩnh, không có xe nào khác chạy, ngoài xe mình. Ban đêm, không khí thường mát mẻ, se se lạnh.

Hồi ba giờ trưa rất nhiều nhà đã đóng cửa nghỉ bán, vài nhà còn cố kiếm chác của người khách nào cuối cùng trong năm.

Các chợ hoa, ôi chào năm nay có 128 chợ hoa ở trong cả thành phố, đi mệt nghỉ. Cả thành phố là một thảm hoa vĩ đại, nhìn đâu cũng thấy hoa, không cứ gì đường hoa Nguyễn Huệ hay công viên Tao Đàn.

Hoa trên mặt đường, hoa trên bến thuyền, hoa trên xe tải tuôn về thành phố. Nhiều nhất là các loại cúc vàng, hoa mào gà đỏ thắm, hoa mai, hoa đào, hoa bông giấy, hoa vạn thọ, cây quất..,.sang trọng hơn và ít hơn là hoa hồng, hoa lay ơn, hoa cát tường…đài các hơn nữa là những đóa hoa thủy tiên trắng và vàng, hoa tu líp. Những loài hoa ấy chúng nó mọc trong vườn nhà tôi không cần chăm sóc, đã bắt đầu lú lên cả tấc dưới nền tuyết trắng khi tôi về. Chừng ấy sắc hoa nở rộ dưới ánh nắng dịu dàng của mùa xuân phương Nam.

Người bán và người mua đều « thực hiện » định luật cung và cầu. Người bán « hét » giá, người mua chùn lại. Hoa bán chậm, ủ rũ. Đến ngày 29, 30 tết, người bán có nơi giữ giá cao, nhưng có nơi đã vứt hoa heó ra lề đường mặc cho ai lượm thì lượm như ở gần chợ hoa Hồ thị Kỷ. Một bác tài cắt nghĩa cho tôi nghe định luật cung cầu của thị trường hoa tươi « Người nhà giầu mua sớm cô ơi, người ta có tiền rủng rỉnh, không tiếc tiền mua hoa, 27, 28 là nhà người ta đã bầy biện hoa lá xong xuôi rồi, nhà nghèo thì chèo kéo chờ mua rẻ…mà cũng tội nghiệp cho nhà vườn bán ế thì phải chở hoa về, tốn tiền xe, những cây lớn thì người ta chở về, còn cây nhỏ thì bỏ đống ở đó…. » Nghe mà thấy thương cho một kiếp hoa tàn, thiếu nước !

Người yêu hoa có khi không phải là quý bà, quý cô, thường là chỉ muốn được tặng hoa, mà chính là các đấng nam nhi mình đồng da sắt nhưng lại có trái tim biết yêu cái đẹp của thiên nhiên, của đất trời ban tặng là những bông hoa (thật). Không ai nhỡ đánh đàn bà dù bằng một cành hoa, điều quý giá ở đây chưa hẳn là người phụ nữ, mà là cành hoa. Hoa tàn, không cho vào thùng rác, mà để cho nó héo đi làm phân bón. Người đàn ông nào biết nâng niu một cành hoa ắt hẳn là một người rất tốt đối với phụ nữ, dù là chồng hay chỉ là bạn.

Năm giờ chiều ngày mồng một Tết Mậu Tuất, cuộc du xuân của tôi chấm dứt mau chóng, bác tài Taxi từ chối không chở tôi ra đường hoa Nguyễn Huệ, cũng không đến vườn Tao Đàn vì « hai chỗ đó kẹt xe lắm cô ơi, con đạp thắng mỏi cả chân, người chen chúc nhau đông nghẹt, có thấy bông hoa gì nữa đâu, chụp hình cũng hổng được, một cuốc xe có 5 chục mà con bị kẹt cả tiếng… ». Vậy mà 80% dân cư Sài Gòn đã về quê ăn Tết ! mà còn kẹt xe đến nỗi này. Ngày Tết còn bị đày đọa khổ ải vì cái nạn karaoke trong thành phố 24 trên 24 tiếng đồng hồ không ngơi nghỉ, người hát thường là các ông, trật nhịp, trật nốt, lạc cả giọng nhưng vẫn hát !!!

Ngày mồng một Tết người ta thường đi chùa hái lộc, đi nhà thờ cầu an, bữa cơm trưa đoàn tụ gia đình xong xuôi là nghỉ ngơi đến chiều tối lại đổ ra đường đi chơi tiếp. Nhìn thế hệ trẻ, đẹp, khỏe mạnh, nam thanh nữ tú, con nít chơi đùa vô tư trong tấm áo mới, tôi không khỏi so sánh người Việt hiện nay với những dân tộc khác trên thế giới đang sống khổ ải trong chiến tranh, bất an xã hội, đói nghèo…và qua cái Tết Việt thấy người Việt thật là hạnh phúc. Cầu chúc đất nước thanh bình muôn thuở, dân chúng ấm no hạnh phúc, xã hội Việt Nam tiến triển tốt đẹp là tôi mừng. MTT

Chưa đi tới chợ, hoa đã được bầy bán hai bên ven đường

Chở hoa cho khách bằng xe ba bánh

 

Chưng hoa trong sân nhà…

Năm con chó…không thể thiếu mấy chú chó dễ thương (Photo: Nguyễn Xuân Xanh)

Thuyền hoa (Photo: Nguyễn Xuân Xanh)

Cây hoa được giải đặc biệt (Photo: Nguyễn Xuân Xanh)

Hoa Lan thơm rất dịu, rất được ưa chuộng để đem tặng (Photo: Dương Minh Trí)

Thảm hoa tu líp không thua gì vườn hoa Keukenhof ở Hòa Lan. (Photo: Dương Minh Trí)

Madame, Monsieur: Mercy !

28. janvier 2018

Madame, Monsieur: Mercy !

Tối qua 27.01.2018 trong chương trình truyền hình lựa chọn bài hát đại diện cho nước Pháp tham dự giải Eurovision 2018 sẽ được tổ chức vào tháng năm tới đây, một bài hát được đặc biệt chú ý vì nó mang đến một thông điệp chính trị và tình nhân loại. Bài hát này mang tên MERCY do hai vợ chồng nghệ sĩ Emilie Satt và Jean-Marie Lucas biểu diễn dưới tên nhóm là Madame, Monsieur.

Đến cái tên nhóm cũng được lựa chọn đi cùng với tựa bài hát, tha thiết, thành khẩn như một người ngã ngựa thấy lưỡi kiếm của kẻ thù kề cổ thốt lên Mercy ! Ông, Bà, thương hại tôi, xin tha, đừng giết !

Câu chuyện một đứa bé gái người Phi châu được mẹ đẻ ra trên thuyền tỵ nạn lênh đênh trên biển cả sóng trào, đi từ Lybia, được tàu mang tên Aquarius của Pháp đến cứu. Tàu Aquarius do SOS-Méditerranée hỗ trợ, trên tàu có một nhóm của Médecins sans frontières đi cứu nạn, chiếc tàu này đã đến cứu mạng của hàng ngàn người di tản bằng đường biển, vượt Địa Trung Hải. Khi chiếc tàu vừa đến cảng Catane ở Sicile (Ý) thì một người mẹ tên là Taiwo người Nigeria bất chợt chuyển bụng hạ sinh một đứa bé gái cân nặng 3,7 kí lô, cô bé mở mắt chào đời trên tàu Aquarius dưới sự cảm động của những người có mặt trên tàu và được đặt tên là Mercy ( tiếng Pháp dịch ra là Miséricorde), cái tên mang nhiều ý nghĩa.

Emilie Satt nói rằng, bài hát chỉ có ý cho một chữ  » les migrants » (người di tản) hình dáng con người. Dù sao, trong bối cảnh hiện tại, những tiếng nói ngăn chặn người di tản nổi lên mạnh mẽ, đòi hỏi những luật lệ kiểm soát di tản gắt gao, thì bài hát Mercy như một luồng gió mát thổi đến cho những ai còn biết động lòng tình nhân loại.

Một điều có vẻ ít người để ý là tất cả những người Việt Nam sinh sống tại Pháp hay Đức đều được cơ quan hành chánh sở tại phân loại vào hạng « di tản » (Emigration) cho dù người ấy đã có quốc tịch Pháp hay Đức.

Đã lâu rồi, nhạc Pháp không vượt qua khỏi ngưỡng cửa yêu đương trai gái, hay những đề tài tầm thường, vô bổ.MTT

Mời bạn thưởng thức Madame Monsieur : Mercy