Aller au contenu principal
Publicités

Rừng Compiègne

11. novembre 2018

Rừng Compiègne – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2018

Bạn đến thăm tôi thường dắt đi chơi khu rừng Compiègne. Dạo rừng có người thích có người không thích lắm, vì thú vui dạo rừng ít có ở Việt Nam. Dạo rừng là hít thở không khí trong lành, yên tĩnh, nghe chim hót, tiếng lá xào xạc, con người lùi lại chỉ chú ý thiên nhiên đến cây cỏ, hoa, chim muông, thú rừng…bỏ lại đằng sau những tiếng ồn ào trần tục.

Báo chí Pháp báo tin chấm dứt Đại chiến thế giới lần thứ nhất tại Pháp

Tùy theo mùa mà rừng có những mầu áo khác nhau. Tháng 11 giữa mùa thu thì rừng lại đẹp rực rỡ trong ánh nắng, u buồn khi trời ảm đạm. Lá cây mùa thu đổi trăm sắc mầu từ vàng qua đỏ sang nâu. Thảm lá úa dưới chân vừa trơn ướt khi trời mưa, xào xạc khi trời khô, vừa dày nhiều lớp lá đã rụng theo từng cơn gió thổi. Nhả thơ Lưu Trọng Lư, như một người dạo rừng nhiều lần, chỉ viết có mấy câu thơ ngắn năm 1939, mà diễn tả đầy đủ « Em không nghe rừng thu, lá thu kêu xào xạc, con nai vàng ngơ ngác, đạp trên lá vàng khô »

Rừng ở Việt Nam thuộc loại vùng nhiệt đới, cây cối rậm rạp và có nhiều rắn, rết, bọ, đỉa…nhiều nguy hiểm tiềm ẩn, lại càng mang tính chất anh hùng chứa đựng những vết chân anh hùng dũng cảm. Rừng Compiègne thuộc loại rừng thưa ở châu Âu, có nhiều cây sồi (chêne) và cây giẽ gai (hêtre), rộng khoảng 14.357 mẫu (ha²), đỉnh cao nhất của khu rừng là 145 mét trên mặt biển, thuộc địa phận sông Oise, vùng Picardie, chỉ cách Paris có 80 km, nếu không bị kẹt xe, thời gian di chuyển đến Paris chỉ 45 phút.

Clairière d´Armistice trong khu vực Rethondes (Photo by Eric Feferberg / AFP)

Trong rừng Compiègne cây thủy tùng (if) già nhất còn lại đã tám trăm sáu mươi tuổi, cây sồi già nhất được bẩy trăm sáu mươi tám tuổi, nhiều cây sồi khác từ hai trăm năm đến bốn trăm sáu mươi năm tuổi, và nhiều loại cây rừng khác. Đến đây tôi lại nhở đến một câu thơ của Nguyễn Công Trứ học thời nhỏ « Kiếp sau xin chớ làm người, làm cây thông đứng giữa trời mà reo ».

Người ta đếm được trong rừng Compiègne 5.600 loại thực vật và 6.600 loại động vật, nhiều nhất là nai, hoẵng và heo rừng. Mỗi khi chạy ngang qua rừng Compiègne tôi thường trông thấy những vết heo rửng đào bới lùng sục kiếm ăn ra tới tận hai bên ven đường xe chạy, hai lần chúng tôi phải thắng gấp vì một gia đình heo đông đúc con lớn con nhỏ đang băng qua đường,

Nối tiếp rừng Compiègne là rừng Laigue thuộc địa phận l´Aisne, và rừng Rêtz. Trong những khu rừng này người ta vẫn còn tìm thấy những mảnh bom, mảnh đạn thời chiến tranh, những thi thể chưa được đào lên chôn cất, mà họ để đó dùng thiên nhiên làm mộ và làm nơi tưởng niệm, vì thế nó còn mang tính chất thiêng liêng, kính trọng những người đã ngã xuống.

Thành phố Compiègne vì vị trí đó mà lên tầm mức chiến lược để bảo vệ Paris khi bị tấn công từ phía đông-bắc, tức là từ Bỉ, Đức, chiếm được Compiègne là thẳng tiến đến Paris khá dễ dàng. Vùng sông Oise cũng bởi lý do đó chịu nhiều thiệt hại nặng nề về người và của cải qua hai trận đại chiến. Nhiều làng mạc vùng sông Oise dựng tượng người chiến sĩ thời Đệ nhất thế chiến để tưởng niệm long trọng. Ngày nay, thấy người Paris hợm hĩnh, kiêu ngạo, très parisien, thì người dân Picard rất ghét, họ không có thấm nhuần một chút nào lịch sử, một chút nào của quá khứ đã qua và vẫn đang tồn tại, không biết học bài học của lịch sử.

Lâu đài Pierrefonds

Rừng Compiègne có nhiều lâu đài vua chúa thời xưa, nổi tiếng nhất là lâu đài Compiègne và lâu đài Pierrefonds, vốn là nơi săn bắn các loại thú rừng như hoẵng, nai, heo rừng, thỏ rừng….của vua chúa. Đến giờ thì những tay thợ săn vẫn tiếp tục nghề săn bắn của vua chúa thời xưa.

Trong rừng Compiègne có khu vực thuộc làng Rethondes nằm trong rừng nên được gọi là rừng Rethondes chứa đựng một nơi chốn lịch sử, la Clairière de l´ Armistice ( khoảng rừng sáng đình chiến).

Trong lịch sử cận đại của Pháp-Đức, nơi này đã hai lần quân Đức phải ký giấy đầu hàng quân Pháp, và một lần Hitler ngày 22 tháng 6 năm 1940 đã đến tận nơi đây chứng khiến sự đầu hàng của chính phủ Pétain, hiệp ước Pháp đầu hàng Đức được ký kết bởi tướng Pháp Huntziger, tướng Bergeret, phó đô đốc Le Luc và đại sứ Léon Noël, mở đầu cho cuộc chiếm đóng nước Pháp của Đức trong suốt bốn năm chiến tranh cho đến ngày giải phóng Paris khỏi tay Đức Quốc Xã.

Ngay sau ký kết hiệp ước đầu hàng tượng đài chiến thắng Đại chiến thế giới thứ nhất của Pháp, tượng đài Alsaciens-Lorrains, bị Hitler ra lệnh cho quân đội Đức Quốc Xã phá hủy toàn diện, cho nổ tung bằng chất nổ và san thành bình địa và sau đó mảnh đất được dùng để trồng lúa mì.

Số phận của toa tầu hòa bình cũng không kém, bị kéo về Berlin làm chiến lợi phẩm, cho đến tháng 4 năm 1945 theo lệnh của Hitler trước khi thất bại hoàn toàn bị đốt cháy trong khu rừng Thuringen.

Tượng đài kỷ niệm Alsaciens-Lorrains được thiết lập lại năm 1946 với những mảnh vụn tìm thấy ở Đức. Chính phủ Pháp cho mua một toa tầu khác cùng năm sản xuất 1913 và cho tái lập y hệt toa tầu lịch sử. Nhưng phải chờ đến năm 2001 Clairière d’Amistice mới được chính phủ Pháp công nhận là di tích lịch sử.

Thủ tướng Đức và tổng thống Pháp tại Clairière de l´ Armistice ngày 10.11.2018

Người Đức cũng có cách ăn mừng chiến thắng của họ, trong khi tại Pháp ngày 11.11 hàng năm là ngày chiến thắng và kỷ niệm những người đã chết trong và vì chiến tranh, thì tại khắp nơi trên nước Đức nổ ra ngày mở đầu cho mùa Karneval đường phố vào đúng ngày 11.11. vào lúc 11.11 giờ, một lễ hội tưng bừng nhiều mầu sắc và nhiều triệu lít bia bọt, chỉ chấm dứt ba tháng sau với cao điểm là ngày Rosenmontag và sau ngày Aschermittwoch giữa tháng hai năm tiếp theo.

Tháng 11 năm nay, một mùa thu nóng bỏng ở Pháp. Cuộc viếng thăm ngắn ngủi ngày 10.11.2018 của thủ tướng Đức Angela Merkel và nụ cười của bà tại khu rừng Rethondes, không trước tượng đài kỷ niệm Alsaciens-Lorrains, và cả của tổng thống Pháp, có vẻ không được lòng dân chúng Pháp, không như cái nắm tay lịch sử của Helmut Kohl và Francois Mitterrand tại Verdun năm 1984. Dù sao, bà Merkel cũng đã tuyên bố sẽ chấm dứt nhiệm kỳ thủ tướng Đức lần này. Giá trị của những câu nói mang tính chất ngoại giao, chính trị nhiều khi không có hiệu lực trong lòng dân.

70 nguyên thủ quốc gia được mời đến Paris, trung tâm của vũ trụ, để ăn mừng 100 năm ngày chấm dứt chiến tranh trong xa xỉ, 10.000 cảnh sát được điều động để giữ an ninh. Nghĩ cho cùng, sự kiện này có quan hệ gì với dân chúng Pháp, với những người đã hy sinh ? Quan trọng hơn cả là những buổi lễ kỷ niệm đơn sơ diễn ra trên khắp các làng mạc nước Pháp vào lúc 11.00 giờ trong tiếng chuông nhà thờ vang dội trong suốt 15 phút để báo tin chiến thắng và chấm dứt chiến tranh.

Câu chuyện nổ ra hiện tại có nên hay không nên tưởng niệm Pétain, người đã đầu hàng Hitler và hy vọng cùng với Hitler chia quyền ảnh hưởng ở châu Âu, bị coi là kẻ phản bội đã đưa nước Pháp bị khống chế, bị giam hãm vào tay Đức suốt bốn năm, làm cho bao nhiêu người dân Pháp phải hy sinh trong cuộc chiến, đã cho thấy tầm mức lịch sử của trận Đại chiến thứ nhất cách đây đã một trăm năm còn hằn sâu rõ nét trong hiện tại. Một chính phủ có thể quên, vì trục lợi, nhưng dân thì không quên, vì đau khổ.

Ranson: « …Khi người ta nghĩ đến giá xăng dầu ! »

Dân chúng đang sôi sục vì nhiều lý do, mà ngòi nổ của sự kêu gọi biểu tình toàn quốc ngày 17 tháng 11. 2018 tới đây là giá xăng dầu. Có người nói, cuộc cách mạng dân chủ 1789 nổ ra vì giá bột mì lên cao, dân chúng đói ăn, năm 2018 thì giá xăng dầu lên cao, dân chúng phải chắt bóp hầu bao để di chuyển. Lịch sử không chờ đợi ai cả, và cũng không ai viết lại được lịch sử, ai gieo gió thì gặt bão. Nhưng chính phủ Pháp có vẻ đánh giá nhẹ sức phản đối của dân chúng, rồi sẽ tan biến trong không khí như những cuộc phản đối, biểu tình, chặn đường đã diễn ra.

Kỷ niệm 100 năm Đại chiến thứ nhất có thể là lần kỷ niệm cuối cùng của những người lớn tuổi không có hy vọng sống đến năm 2045 để kỷ niệm 100 năm Đại chiến thế giới thứ hai, chỉ hy vọng và mong mỏi cho thế hệ con, cháu và cả về sau được sống trong hòa bình và độc lập. MTT, 11 giờ ngày 11.11. 2018

Mời xem bài viết: Một toa tầu Hòa Bình và hai trận Đại chiến thế giới 1914-1918 và 1939-1945, Mathilde Tuyet Tran France 2014

Compiegne 1940, Generaloberst Keitel überreicht die Waffenstillstandsbedingungen – Ảnh của Đức, Bundesarchiv. Tướng Keitel đăng giao bản ký kết điều kiện đầu hàng cho tướng Hunziger Pháp trong toa tầu hòa bình năm 1918 tại rừng Rethondes, Compiegne.

Tượng đài kỷ niệm chiến thắng Đệ nhất thế chiến Alsaciens-Lorrains sau khi bị quân Đức chiếm đóng và phá hủy, san thành bình địa. Ảnh của Đức, Bundesarchiv

Pétain và Hitler gặp nhau ở Montoire-sur-Loir ngày 24.10.1940, Pétain cam kết sẽ hợp tác với Đức vừa từ phía cá nhân vừa phía chính quyền Vichy. Cuộc gặp gỡ được chiếu trên đài truyền hình của Đức. Ảnh của Đức, Bundesarchiv

Hitler cùng các tướng lĩnh của Đức Quốc Xã ngày 22.6.1940 tại khu rừng Rethondes, Compiegne với toa tầu lịch sử. Ảnh của báo Life

Vua Đức Wilhelm II lên tầu lửa ở nhà ga Spa của Bỉ vào ngày 10.11.1918 lúc 4.30 sáng sau khi thoái vị và được nữ hoàng Wilhermine cho tỵ nạn tại Hòa Lan với điều kiện là ông không được tham dự vào chính trị. Ông sống ở trong biệt thự Huis Doorn gồm có 60 mẫu rừng ở Hòa Lan cho đến khi qua đời năm 1941.

Một mảnh rừng của làng Craonne, vùng Aisne, tưởng niệm 592 chiến sĩ vùng núi đã tử trận tại nơi đây trong Đệ nhất thế chiến

Rừng Compiègne, một góc của khu tưởng niệm

Dưới những tán cáy này và đất đã phủ lên những hố bom đạn là làng Craonne bị chôn vùi và biến mất trong Đệ nhất thế chiến

Publicités

Phụ nữ Pháp trong Đại chiến thế giới lần thứ nhất 1914 – 1918 ©Mathilde Tuyết Trần, France 2018

31. octobre 2018

Phụ nữ Pháp trong Đại chiến thế giới lần thứ nhất 1914 – 1918 ©Mathilde Tuyết Trần, France 2018

Sách báo « Phụ nữ và chiến tranh » dạy mẫu đan , móc áo cho chiến sĩ.

Đại chiến thế giới lần thứ nhất kéo dài từ năm 1914 cho đến năm 1918 được chấm dứt trên những chiến trường chính là một đề tài còn đang được những thế hệ « già » 80, 70 đến 60 tuổi đặc biệt quan tâm vì họ còn nhở lại ít nhiều kỷ niệm của thế hệ ông bà trong gia đình. Năm nay 2018 là năm kỷ niệm 100 năm chấm dứt của trận đại chiến khốc liệt này. Sự tổn thất về nhân mạng và tài sản cho dân chúng là rất lớn. Xin nhắc lại ở đây một câu nói của Tôn Tử « « Chiến tranh không phài là mục tiêu chính ngoại trừ bắt buộc phải dùng đến nếu không còn giải pháp nào khác » để tránh làm tổn hại nhân mạng và tài sản mà dân chúng phải mang gánh nặng.

Nhưng trận đại chiến đã làm cho 10 triệu quân lính thiệt mạng và 20 triệu quân lính bị thương, sự hy sinh của dân chúng cũng không thua kém : 7 triệu thường dân chết trong đại chiến. Những con số nói trên chỉ là khoảng chừng vì chính xác thì không có thống kê nào đúc kết được hết sự thiệt hại của nhiều quốc gia.

REUTERS/Benoit Tessier
Biểu tượng của Đại chiến thế giới thứ nhất là đóa hoa đồng nội mầu xanh Bleuets, một đóa hoa đã đứng vững trong bom đạn như hoa dại Coquelicots mầu đỏ trở thành biểu tượng của Đại chiến thế giới thứ hai 1939-1945.

Các quốc gia tham chiến chia làm 2 phe : phe Hiệp ước gồm có Anh, Pháp, Nga, kéo theo Ý, Serbia, Bỉ, Romania, Nhật Bản, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Hoa Kỳ và Bresil và phe Liên Minh gồm có Đức, Áo-Hung, Bulgarie và Ottoman, được hỗ trợ bởi Tây Ban Nha và nhiều nước khác gây một tình trạng tràn lan khắp thế giới. Ngòi nổ gây ra đại chiến là sự kiện Đại công tước Franz-Ferdinand và vợ của nước Áo-Hung bị một người Serbia tên là Gravrilo Princip ám sát chết ngày 28.6.1914 tại Sarajevo. Một tháng sau, Áo-Hung tuyên chiến với Serbia.

Lời kêu gọi sức đóng góp của phụ nữ Pháp trong Đại chiến thế giới thứ nhất

Trong đại chiến này nước Pháp kiệt sức, trong khi Đức ra khỏi chiến tranh không mấy khó khăn, nhiều gia đình dân sự không được đền bù thỏa đáng dẫn theo một tâm lý thù hận Pháp-Đức lâu dài. Hai trận đánh khốc liệt nhất ở Verdun và thung lũng sông Somme trải qua bao năm tháng hằn sâu vào lịch sử và trí nhớ của dân chúng ở các vùng này, nhiều dấu vết tàn phá từ thời đại chiến thứ nhất vẫn còn đó.

Mới 22 năm sau, Đức lại tấn công Pháp một lần nữa năm 1940 trong trận đại chiến thế giới lần thứ hai 1939-1945, và vởi sự chiếm đóng nước Pháp trong thời gian từ tháng 6 năm 1940 đến cuối năm 1944 nước Đức đã đào sâu thêm mối hận thù nhục nhã và gây ra nhiều tổn thất nặng nề không ngóc đầu lên được cho Pháp.

Khi mọi đàn ông ra trận, cái chết cầm chắc trong tay, nhiều người ngã xuống ngay từ những viên đạn đầu tiên trên chiến trường, thì những người vợ, người mẹ, người chị, người em phải gánh vác việc nhà và việc nước.

Phụ nữ Pháp ở vùng Oise phải kéo cày thay ngựa, tất cả ngựa bị tịch thu phục vụ cho chiến tranh. Hình chụp năm 1917 của Văn khố ECPAD

Ở Pháp, vào thời điểm bắt đầu đại chiến thứ nhất, vào cuối hè là mùa gặt ở nhà quê. Tháng 8 năm 1914, 3.700.000 đàn ông ra chiến trường, đa số là nhà nông. Phụ nữ ở nông thôn phải thay thế những người đàn ông tổ chức mùa gặt với một lực lượng nhân công yếu kém hẳn, cha mẹ già và những con những cháu nhỏ trong năm 1914 với những khó khăn về dụng cụ đồng áng, máy móc quá khổ người của họ và cả những năm sau đó, nếu họ không vì chiến tranh đồng ruộng, nhà cửa bị bắn phá tan nát, phải bỏ ruộng đi di tản nơi khác.

Thành phần phụ nữ trưởng giả của thành phố, biết băng bó một vết thương sạch sẽ trên một con búp bê, thì được điều động vào làm y tá, con số này lên đến gần 100.000 người, trong đó 70% là thiện nguyện cho Hội Chữ thập đỏ.

Trong thời gian đầu mọi người đều tưởng là cuộc chiến sẽ kéo dài vài tháng, nhưng đến năm 1915 thì sự thiếu hụt cả đàn ông trong những phân xưởng sản xuất vũ khí khiến cho phụ nữ phải được thâu nhập thay thế.

Phụ nữ trong công xưởng chế tạo vũ khí thời Đại chiến thứ nhất

Dù vậy, lương của người phụ nữ trong giây chuyền sản xuất kỹ nghệ vũ khí thấp 40% so với lương của đàn ông và họ bị coi thường. Những ngành nghề trước đây chỉ dành cho đàn ông cũng phải được phụ nữ gánh vác như tài xế lái xe điện, tài xế taxi, phát thư, dạy học, thư ký xã trưởng…

Trong tất cả công xưởng chế tạo vũ khí, nhà máy, bệnh viện, cứu cấp, nhà ga, hệ thống hành chánh, chỉ huy chiến dịch…đến cả làm gián điệp đâu đâu cũng thấy phụ nữ được điều động tham gia đông đảo.

Phụ nữ Pháp mở nhiều chiến dịch trong thời gian đại chiến, những phong trào như « đan áo cho chiến sĩ », « đỡ đầu cho chiến sĩ » được mở ra vừa để củng cố tinh thần vừa để giúp đỡ vật chất cho tiền tuyến. Nhiều phụ nữ đã kết hôn với người mình « đỡ đầu ».

Phụ nữ Pháp cũng là nạn nhân trực tiếp của chiến cuộc, chịu đựng những cuộc hãm hiếp, cướp của, nhà cháy, bị đi đày phát vãng…Chiến tranh cũng đồng nghĩa với bệnh tật, đói, thiếu thốn tất cả mọi thứ vật chất cơ bản cần thiết để sống sót, nhiều phụ nữ Pháp chịu đựng hy sinh âm thầm cho chồng, con và gia đình.

Sau đại chiến, đáng lẽ phụ nữ phải trở về bếp núc nội trợ trong gia đình trả lại công ăn việc làm cho nam giới thì những chiến binh trở về từ chiến trường với sự mệt mỏi, bệnh tật…khiến cho nhiều phụ nữ tiếp tục công việc làm của họ, dù rằng họ góa chồng, dù rằng họ là con mồ côi vì chiến tranh.

Trước đây, phụ nữ ở Pháp cũng chịu nhiều điều kiện thiệt thòi trong giáo dục. Từ thời Trung cổ con gái nhà nông chỉ được mẹ dạy dỗ làm các công việc đồng áng, việc nhà, chăn bò, chăn cừu, làm ruộng, không được học chữ. Con gái nhà trưởng giả thì học với mẹ hay được dạy dỗ trong các nhà dòng của các sơ. Con nhà quý tộc thì được học với thầy dậy riêng hay theo học trong các tu viện, ngoài việc học chữ, kiến thức, còn được học âm nhạc và học những khái niệm y khoa.

Sang thời Phục hưng thì phụ nữ được học chủ yếu là học đạo Thiên chúa, và tùy theo xuất thân gia đình, con nhà nghèo được học viết, học đọc, học đạo. Xã hội Pháp bấy giờ phân chia giáo dục và phân biệt đối xử theo giới tính nam hay nữ, xuất thân dòng dõi, giầu nghèo.

Marie Curie 1920, 53 tuổi

Trong những điều kiện xã hội đó, phải thấy bà Marie Sklodowska-Curie (1867-1934) là một nhân vật xuất chúng, hiếm có. Năm 1914, lúc đại chiến thế giới bùng nổ, thì bà đã là một nhà nữ khoa học nổi tiếng khắp thế giới rất được ngưỡng mộ. Bà đoạt giải Nobel hai lần, lần thứ nhất bà đoạt giải Nobel vật lý năm 1903 cùng với chồng là Pierre Curie và Henri Becquerel, lần thứ hai bà đoạt giải Nobel hóa học năm 1911 một mình về những công việc khám phá của bà về polonium và radium, vài năm trước đại chiến.

Kể từ khi đại chiến xẩy ra, bà đã tích cực đóng góp, biết rằng quang tuyến X rất cần thiết để rọi những vết thương, những mảnh đạn gắm vào thân thể. Từ tháng tám năm 1914 bà đã được giấy chứng nhận của Bộ trưởng bộ chiến tranh để thành lập một đội ngũ những người có khả năng rọi quang tuyến X.

Bà Marie Curie dạy cho hơn 150 học trò những khả năng căn bản về quang tuyến, vật lý và cơ thể học. Bà biết rằng không nên di chuyển những nạn nhân, thời đó còn thô sơ, cáng tay, nên thành lập những đội xe quang tuyến X lưu động tại chỗ, và mở đầu cho ngành y học « radio-chirurgie ». Bà Marie Curie đi tham sát ngay tại trận tuyến với con gái bà là Irène Curie. Sau đại chiến, năm 1918 bà nhận chức vụ giám đốc Institut du radium, bây giờ là Institut Pierre et Marie Curie.

Nhờ vào công sức của bà Marie Curie mà quang tuyến X trở nên hữu dụng trong ngành y khoa và cứu được nhiều mạng người trong đại chiến.

Ngôi nhà sinh trưởng của Marie Curie ở Varsovie

Có một trình độ học vấn cao cấp như thế vì Maria Salomea Sklodowska, tên khai sinh của Marie Curie, sinh ra ở Varsovie, xuất thân từ một gia đình quý tộc Ba Lan, cha của bà là giáo sư toán học và vật lý, mẹ của bà là thầy giáo. Mồ côi mẹ từ năm 11 tuổi, mẹ bà qua đời năm 1878 vì bệnh lao phổi, là bệnh rất phổ biến trong thế kỷ thứ 19. Mãi đến năm 1882 Robert Koch mới khám phá ra vi khuẩn bệnh lao phổi, từ đó mới có phương pháp điều trị. Hai bác sĩ Calmette và Guérin bào chế thuốc tiêm chủng BCG (Bacille de Calmette và Guérin) phòng ngừa bệnh lao phổi năm 1921, nhưng đến năm 1924 mới được đưa vào xử dụng rộng rãi trong dân chúng. Đến giờ bệnh lao phổi vẫn là một trong 10 bệnh truyền nhiễm nguy hiểm của thế giới.

Maria Sklodowska tìm quên lãng nỗi đau mất mẹ trong học tập và học rất xuất xắc. Năm 1891 bà rời Varsovie đi Paris để tiếp tục học vấn. Thời ấy, trong con số ít ỏi 776 sinh viên đại học ngành khoa học, chỉ có 27 người là phụ nữ, trong số này chỉ có 7 người phụ nữ nước ngoài. Bà kết hôn với Pierre Curie năm 1895, lúc bà được 28 tuổi, khi ấy ông Pierre Curie là trưởng phân khoa vật lý tại trường Vật lý và hóa học kỹ nghệ (École municipale de physique et de chimie industrielles) và từ đó bà có quốc tịch Pháp.

Phụ nữ làm Mõ làng, trước đây là công việc của nam giới.

Marie Curie bị ung thư máu vì nhiễm phóng xạ từ những công việc nghiên cứu của mình từ năm 1898. Ngày 29.06.1934 Marie Curie vào bệnh viện ở Passy (Haute-Savoie) một vùng núi của Pháp, và qua đời tại đấy chỉ một tuần sau đó, ngày 04.7.1934, hưởng dương 66 tuổi.

Trải qua nhiều giai đoạn cải tổ và phát triển nền giáo dục cho nữ, đến năm 1924, sau đại chiến thứ nhất, đạo luật Léon Berard cho phép nữ sinh được quyền thi như nam sinh, tức là có một chương trình học ngang nhau, từ đó cái bằng Tú tài Pháp mới được mở ra cho nữ giới, nhưng vẫn học riêng trai, gái. Đến sau phong trào 1968 mới có trường học cho cả nam và nữ.

Tem kỷ niệm ngày phụ nữ Pháp được quyền đi bầu 1944 – Photo: MTT

Mãi đến ngày 21.04.1944 chính phủ De Gaulle mới ban sắc lệnh cho phụ nữ được quyền bầu cử và ứng cử. Ngày 29.4.1945 phụ nữ Pháp được tham gia bầu cử hành chánh lần đầu tiên.

Ở Việt Nam thì chủ tịch Hồ Chí Minh xác định ngày 3.9.1945 : « Tất cả công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền bầu cử và ứng cử… » lần đầu tiên trong lịch sử cho phép phụ nữ quyền bình đẳng trong xã hội.

Nếu nói về bình đẳng, thì chiến tranh thế giới thứ nhất đã mở ra một con đường cho phụ nữ Pháp tham gia vào những hoạt động trước kia thuần túy nam giới, xác định và củng cố khả năng của mình trong xã hội. Nhưng khi chiến tranh chấm dứt thì phụ nữ Pháp bị đẩy lùi vào truyền thống gia đình cũ của mình, dù có tiến bộ hơn về bình diện giáo dục, cho đến khi đệ nhị thế chiến bộc phát.

Một bản đồ khu vực đông bắc nước Pháp và mức độ bị tàn phá bởi Đại chiến thứ nhất

Năm nay 2018 kỷ niệm 100 năm chấm dứt đại chiến thế giới lần thứ nhất 11.11.1918 – 11.11.2018, tại Pháp có nhiều sự kiện lớn nhỏ được tổ chức ở khắp nơi. Hai sự kiện trung tâm là lễ kỷ niệm ở khu rừng Compiègne của tổng thống Pháp và thủ tướng Đức, và lễ kỷ niệm với sự tham dự của đại diện 120 quốc gia tại Paris.

Nhiều văn khố, bảo tàng, trường học, triển lãm, nghĩa trang…và 14 vùng bị tàn phá nhiều nhất tại Pháp trong đệ nhất thế chiến là vùng sông Oise, vùng Pas-de-Calais, vùng thung lũng sông Somme, vùng miền Bắc, vùng sông Aisne, vùng Ardennes, vùng sông Marne, vùng Moselle, vùng sông Meuse, vùng thượng lưu sông Rhin, vùng Meurthe và vùng Les Vosges…đều có những hoạt động kỷ niệm, trong đó chủ đề phụ nữ cũng được đề cập đến một cách khiêm nhường. MTT

Xin mời đọc thêm một số bài MTT đã viết:

  • Bài « Chiến thắng bí mật của Painvin » ©Mathilde Tuyết Trần, www.mttuyet.fr

  • Bài « Ký hiệu FR8VX của vua Duy Tân » ©Mathilde Tuyết Trần, www.mttuyet.fr

  • Bài « Vua Duy Tân, những ngày cuối cùng ở Paris » ©Mathilde Tuyết Trần, www.mttuyet.fr

  • Bài « Một toa tầu Hòa Bình và hai trận Đại chiến thế giới 1914-1918 và 1939-1945 » ©Mathilde Tuyết Trần, www.mttuyet.fr

  • Bài « Tưởng niệm 100 năm người lính Đông Dương 1914-2014 » ©Mathilde Tuyết Trần, www.mttuyet.fr 

Một gia đình nông dân Pháp phải di tản trong Đại chiến thứ nhất – Ảnh của Đức, Bundesarchiv

Lính Đức tiến vào Maubeuge, một thành phố biên giới Pháp – Đức . Ảnh của Đức, Bundesarchiv

Toa tầu dùng làm nơi ký kết hiệp ước đầu hàng của Đức tại khu rừng Compiègne, Pháp. Bị thua trận, do chính nước Đức gây ra, nước Đức lại đem lòng căm thù ngược đối với nước Pháp một cách gay gắt. Ảnh của Đức, Bundesarchiv.

Vua Đức Wilhelm II tại nhà ga trên đường đi Hòa Lan tỵ nạn, được Hoàng gia Hòa Lan che chở sau khi bại trận, ông sống ở Hòa Lan đến khi qua đời. Ảnh của Đức, Bundesarchiv

Lá thư mùa thu

22. octobre 2018

Lá thư mùa thu – ©Mathilde Tuyet Tran, France 2018

Lá thu. Photo: MTT

Mùa thu lại trở về lần nữa trong đời tôi. Mới cuối hè còn nóng hanh, tiết trời đã vội đổi sang mầu ảm đạm của mùa thu. Sáng sớm, trời dày đặc sương mù, mặt trời ngủ không buồn thức dậy, mà hễ, lại đổi sang mầu nắng vàng ấm áp của mùa thu khi đã quá trưa. Ngày nào không mưa, không gió, đã là một ngày đẹp. Nhiệt độ xuống nhanh chóng, sáng sớm và chiều tối thì lạnh run, chỉ có vài giờ ấm áp sau buổi trưa. Cây cối trong vườn nhà tôi thay mầu áo, đẹp rực rỡ đủ mầu xanh, đỏ, vàng úa chỉ được vài hôm rồi thi nhau trút lá như mưa mỗi một cơn gió nhẹ thoáng qua. Năm nay hoa hồng nở lâu, gần cuối tháng mười rồi vẫn còn lác đác những đóa hoa hồng khỏe mạnh nở to. Lũ chim bắt đầu bay đi trốn mùa đông, vắng tiếng chim hót quen thuộc, chung quanh im ắng hẳn đi. Con sóc thì bị xe hơi qua đường cán chết, không thấy con sóc còn lại, vợ hay chồng, nhởn nhơ chạy đi tìm hạt nữa. Nắng thu, một mầu nắng vàng ấm áp, rọi sáng những mầu lá đỏ, lá vàng, lá úa là quà tặng thiên nhiên của đất trời cho con người ngắm cảnh.

Chúng tôi tạm đóng cửa nhà, đi ngao du đầu thu, đường xá rất đẹp, nhất là đi ngang qua những cánh rừng thưa đủ sắc mầu lá úa. Tôi thích ra biển bắc, vì gần nhà, chỉ cần lái xe hai tiếng là ra đến bờ nước.

Dạo còn nhỏ tuổi, mầy mò đọc văn chương Pháp, tôi thích Marcel Pagnol và Victor Hugo, không phải là chỉ để học văn phạm và phân tích câu cú, mà vì tình tiết của câu chuyện rất lôi cuốn, hấp dẫn, chứng tỏ tác giả đã dày công nghiên cứu để xây dựng nên từng nhân vật, từng tình cảnh. Nhà văn viết văn hay thường là người có óc quan sát, nhạy bén, nhớ dai và nhớ nhiều.

Một góc của Montreuil-sur-Mer. Photo: MTT

Trở về Montreuil-sur-Mer lần này, vợ chồng tôi không khỏi không nhớ đến những lần đã đưa bạn bè đến quê hương của Les Misérables của đại văn hào Victor Hugo, tác phẩm văn học đã lấy thành phố này làm bối cảnh ra đời và tên những nhân vật chính. Trong thời buổi hiện tại, cuốn tiểu thuyết « Những người cùng khổ » vẫn chưa mất giá trị, dù đã được viết cách đây gần 156 năm, cuốn sách được xuất bản đầu tiên năm 1862, lúc tác giả đã được 60 tuổi, ông sinh năm 1802.

Thành phố Montreuil-sur-Mer đã để lại dấu ấn mạnh mẽ trên con đường tỵ nạn của Victor Hugo, đi cùng với người tình Juliette Drouet ông đã dừng chân nơi đây 1837, sau một chuyến du lịch ở Bỉ, Bruxelles, và miền bắc nước Pháp.

Montreuil-sur-Mer tạo cho Victor Hugo một nguồn cảm hứng vì vị trí oai hùng của nó. Thành phố nằm trên cao, đằng sau những bức tường thành Vauban cổ, những hào sâu là Ville Haute của tầng lớp quý tộc trưởng giả cổ điển, còn bên dưới như tên gọi, Ville Basse, Madelaine-sous-Montreuil, Neuville-sous-Montreuil… là những khu vực dân cư của những người lao động, nhân công kỹ nghệ, hai thế giới đối lập với nhau. Thành cổ theo kiến trúc của Vauban được xây dựng từ nửa cuối thế kỷ thứ 17 theo hình ngôi sao, nhiều lớp, có hào nước sâu là những thành trì quân sự kiên cố. Thành cổ ở Montreuil-sur-Mer có từ khoảng thế kỷ thứ 13, được xây dựng nhiều lần, đến thời đại của Vauban được xây dựng và sửa sang thêm. Ở miền bắc nước Pháp, các thành phố là cứ điểm quan trọng đều xây dựng thành trì để bảo vệ chống lại các cuộc xâm lăng đến từ Đức, Bỉ, Hòa Lan và Anh. Sang đến thế kỷ 20 thì quân đội Đức Quốc Xã chiếm thành Montreuil-sur-Mer và xây dựng thêm các đường hầm trong thành.

Thành cổ Vauban, đoạn thành được xây từ thế kỷ 13. Photo.MTT

Ông sử dụng cả những con đường rất dốc đến cả 12°, quảng trường Gambetta nơi tập hợp của ba thế lực nhà thờ (thần quyền), nhà thị trưởng (hành chánh) và cơ quan cảnh sát (pháp luật), những con đường mang tên Clape-en-Bas và Clape-en-Haut của Montreuil-sur-Mer để tạo ra tình cảnh trong tiểu thuyết. Tương truyền Victor Hugo đã gặp một cô hầu bàn mang tên Cosette trong Relais du Roy, một trạm bưu điện được xây dựng từ thế ký thứ 17. Vào thời xưa, những trạm bưu điện có chỗ ăn, chỗ ngủ, thay ngựa cho khách đi đường xa. Những Auberge thời xưa là những khách sạn thời nay. Fantine, Jean Valjean tức thị trưởng Madelaine cũng là những nhân vật có thật được ông tiểu thuyết hóa. Đến Montreuil-sur-Mer, bạn còn có thể ngắm các nhà cổ như căn nhà du Pot-d´-Etain của thế kỷ 16 được dùng làm quán trọ Jean Valjean, và Relais du Roy, thế kỷ 17, và những kiến trúc khác của thế kỷ 18, 19.

Victor Hugo phải đi sang đảo Jersey tỵ nạn kể từ khi Napoléon III làm đảo chính lên nắm quyền lực năm 1851, cho đến năm 1855 thì ông bị chính quyền Jersey trục xuất.

Juliette Drouet

Sau đó Victor Hugo phải lánh sang đảo Guernesey, nằm cách bờ biển phía đông của vùng Normandie khoảng 50 cây số thuộc quyền cai quản của Anh, nhỏ và hoang dã hơn, và ở lại đây tỵ nạn mười lăm năm từ năm 1855 cho đến năm 1870. Sau khi vua Pháp Napoléon III đầu hàng vua Phổ (Đức) Guillaume I trong trận đánh Sedan vào ngày 2 tháng 9 năm 1870 , rồi phải đi Anh tỵ nạn, chấm dứt thời Đệ nhị đế quốc quân chủ ở Pháp, chính phủ dân chủ cộng hòa được Gambetta tuyên bố tái lập ngày 4 tháng 9, Victor Hugo mới trở lại Paris. Tính ra, Victor Hugo đã tỵ nạn cả thẩy 19 năm.

Trong thời gian ở đảo Guernesey, Victor Hugo hoàn thành nhiều tác phẩm, trong số đó có tác phẩm Les Misérables.

Gia đình ông tan nát vì tình cảnh tỵ nạn, Adèle, con gái ông lâm bệnh tâm thần trong suốt thời gian ở đảo, năm 1863 cô lánh nạn sang Canada rồi sau cùng chết trong nhà thương điên ở đấy, Charles bỏ về Paris rồi sang Bruxelles năm 1861, bốn năm sau, 1865, bà Adèle, vợ ông, và em trai François-Victor cũng theo về Bỉ. Victor Hugo ở lại đảo Guernesey với người tình Juliette Drouet, ở riêng nhưng luôn luôn theo ông suốt 50 năm. Bà qua đời năm 1883 tại Paris, hai năm trước ông (1885) cũng tại Paris, nhưng Victor Hugo không tham dự tang lễ.

Một ngôi nhà cố xây dựng từ thế kỳ 16 còn tồn tại ở Montreuil-sur-Mer, được sử dụng làm quán trọ Jean Valjean: Photo:MTT

Thành phố nhỏ Montreuil-sur-Mer đã tân trang lại vài ngôi nhà cũ nát và vẫn êm đềm như xưa. Người dân đối xử tử tế với khách lạ từ xa đến. Montreuil-sur-Mer hiện có khoảng 2.133 dân, ít hơn là dân số của một làng bậc trung.

Từ Montreuil-sur-Mer mà chạy sang Berck, thành phố nằm sát biển có bãi cát và bờ biển dài thật là dài, gần xịt, đi xe hơi chỉ độ nửa tiếng. Biển miền bắc nên thường có gió lạnh, nước cũng lạnh, chỉ có hai tháng hè là có thể tắm được đối với những người quen tắm nước lạnh. Có điều ra bãi không có người và người chen chúc nhau như cá mòi trong hộp, chen chân không lọt như ở miền nam nước Pháp. Tôi mơ được đi dạo dọc bờ biển yên tĩnh, thở hít không khí mát rượi trong lành.

Mơ ?

Quả thật.

Suốt chiều dài và một nửa bãi biển đang có một cuộc đua xe gắn máy gọi là Beach Cross lần thứ 15 do Cơ quan cố vấn tỉnh Pas-de-Calais tổ chức với 600 tay đua với 600 xe gắn máy tham dự. Bãi cát được đào xới, ủi đùn lên thành một trường đua, những người đua xe chạy hết ga, đứng thẳng cả người lên khi họ vượt chướng ngại, tiếng xe chạy nghe như một đàn ong vò vẽ khổng lồ đang bay trong không gian, vang dội cả một góc trời, hòa với tiếng ồn của các loa phóng thanh đặt dọc theo bãi biển, cứ 100 mét lại có hai loa phóng thanh vặn hết cờ, tường thuật, kích thích, âm nhạc ầm ĩ.

Đua xe gắn máy trên bãi biển Berck. Photo: MTT

Trong khi tại Pháp, các chính khách mầu xanh và những mầu khác đang tìm mọi cách để hành hạ và móc túi dân chúng, nào là cấm xe diesel vào thành phố, nào là giá diesel bị thuế làm cho tăng vọt ngất ngưởng, bằng giá xăng, nào là giảm tốc độ cho phép xuống còn 80 cây số giờ trên đường làng, nào là giảm lương hưu, nào là tăng tỷ lệ đóng góp bảo hiểm của người về hưu, nào là tăng tuổi về hưu, chưa khi nào người về hưu bị bóp nghẹt như hiện nay, mà chính quyền lại tổ chức đua xe để đốt xăng, dầu và nhớt. Cái gì chứ tăng giá diesel là làm tăng tất cả mọi giá sinh hoạt, vì trong thời đại toàn cầu hóa, sự phân phối đến người tiêu thụ được thực hiện bằng tàu công tơ nơ chạy bằng dầu dày đặc trên biển và xe tải diesel, hàng ngàn, hàng vạn chiếc xe tải chạy nối đuôi nhau trên các xa lộ. Đổ 60 lít diesel phải trả gần bằng 100 oi rô. Người đi học, người đưa đón con cái, người đi làm, người bệnh…phải nhịn ăn để lấy tiền mà mua diesel cho cái xe cũ kỹ. Ai có tiền mà hai năm thay xe một lần ?! Không biết chính trị kiểu này còn đi đến đâu, nhưng mà sưu cao thuế nặng dân chúng than quá.

Toàn cầu hóa tiến triển một cách ì ạch vì vấn đề chuyên chở (logistic) có nhiều trở ngại và đắt tiền, hàng hóa mua qua mạng Internet không đến tay người nhận vì nhiều trang mạng lừa đảo, đến rất chậm vì con đường vận chuyển qua đường biển, đường bộ đến tận tay người tiêu thụ còn lắm gian nan, giá xăng dầu tăng liên tục khiến cho hàng bán qua mạng không rẻ hơn hàng hóa bán tại chỗ là bao nhiêu, đến và bị hư hỏng vì người vận chuyển và phát hành vô ý tứ. Người ta để ý thấy những trung tâm, những kho trữ hàng trung gian tại Pháp đang mọc lên để giải quyết vấn đề phân phối cho nhanh, vì người tiêu thụ khi mua hàng phải trả tiền trước, lại còn phải chờ đợi một tuần lễ, hai tuần lễ mới nhận được hàng chuyển đến nhà. Những điều này khiến người tiêu thụ lo ngại tiền mất tật mang, không mua hàng qua mạng.

Tôi rời Berck chỉ sau một cuộc đi dạo ngắn ngủi chưa đến hai tiếng đồng hồ và nghĩ người già không có tiếng nói trong xã hội tiêu thụ, chỉ có người trẻ có tiền mua xe chạy đua làm thú vui là có sức nặng.MTT

Le Relais du Roy, trạm bưu điện thời xưa, được xây dựng năm 1643 còn đứng vững. Montreuil-sur-Mer. Photo: MTT

Lỗ châu mai trong tường thành cổ. Photo: MTT

Cổng thành cổ. Photo:MTT

Thành cổ với hào sâu và giàn bắn đá. Photo: MTT

Một buổi sáng mùa thu ở Berck-sur-Mer. Photo: MTT

Hoài niệm với Nevers và Sainte Bernadette

15. octobre 2018

Hoài niệm với Nevers và Sainte Bernadette – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2018

Từ mấy năm rồi tôi muốn đi đến thành phố ấy, mà cứ lần lửa, hết việc này đến chuyện kia cản trở, bệnh tật, chắc chưa có duyên lành. Không xa lắm, 500 cây số thôi, nhưng cứ ngược đường tôi đi thôi. Tháng chín năm nay, một ngày đầu thu tuyệt đẹp, chúng tôi quẳng lên xe cái va li nhỏ, lên đường đi Nevers.

Bernadette Soubirous

Nevers là một thành phố nhỏ êm đềm bên bờ sông Loire. Trên đường đi Nevers, chúng tôi đi ngang qua vùng Champagne đang vào mùa hái nho, những triền núi thoai thoải đẩy những ruộng nho xanh ngát phơi mình dưới ánh nắng cuối hè đầu thu. Khi xưa Nevers nổi tiếng vì nghề làm hàng sứ cao cấp, bây giờ trong trung tâm thành phố chỉ còn lại cái bảo tàng đồ sứ và những xưởng thủ công làm đồ sứ ở những con đường nhỏ hẹp đã mai một, đánh dấu một thời huy hoàng của Nevers.

Đến Nevers để cảm ơn một bà cụ già đã đến thăm tôi một lần hơn ba mươi năm về trước và bà đã qua đời lúc nào tôi lơ đãng chẳng quan tâm. Đến bây giờ nhớ lại, bà cụ lọng cọng một mình xách theo cái va li nhỏ, lên xe lửa từ Nevers đi đến Paris, đổi xe lửa ở Paris để đi sang Đức, bà phải vất vả cả một ngày trời di chuyển mới đến được chỗ tôi ở khi ấy. Trong cái va li nhỏ ấy, bà đem theo một cái bánh ngọt tự làm, cái bánh truyền thống làm nhà của người Pháp, đến làm quà cho chúng tôi. Cái bánh quatre quarts rất ngon, và bà dạy tôi, cứ lấy 4 phần bằng nhau, bơ, trứng, bột, đường, mà làm cái bánh. Tôi vẫn còn trông thấy trước mắt dáng người nhỏ nhắn gầy gò của bà ngồi trong chiếc ghế bành duy nhất trong phòng của con gái mới sinh của tôi, im lặng, nhìn tôi thay tã, tắm rửa cho cháu. Bà là bà cố của cháu. Bà ở thăm chúng tôi vài ba ngày, bình yên, rồi lại đi xe lửa về Nevers. Lúc còn trẻ, năng động lại vô tâm vô ý, không biết rằng người già di chuyển khó khăn, mệt nhọc hơn bọn trẻ rất nhiều, không biết trân quý công khó và tình cảm của bà. Đấy là lần duy nhất mẹ con tôi được gặp bà. Lúc bà qua đời bà để lại cho tôi một đôi bông tai vàng và cái áo măng tô lông chồn của bà, nhưng bà nhỏ bé hơn tôi khiến tôi vẫn giữ cái áo quý ấy, không mặc được.

Tôi đến thánh đường của Nevers, thánh đường Saint-Cyr-Sainte-Julitte ngự trị trên một ngọn đồi cao nhìn ra sông Loire, đốt nến, thầm thì lời cảm tạ trễ nãi đến bà.

Đã đi đến Lourdes viếng Đức Mẹ thì không thể không đến viếng thánh Bernadette. Đến Nevers cũng để thực hiện lời thầm nguyện hứa của tôi ở Lourdes là sẽ đến thăm nơi chôn cất thánh Bernadette, người đã 18 lần trong vòng 5 tháng năm 1858 lúc cô được 14 tuổi thấy Đức Mẹ hiện ra tại Lourdes và truyền lại phải xây dựng một ngôi nhà thờ ở đấy.

Bản đồ của Lourdes và vị trí hang Massabielle năm 1858

Cũng năm 1858 vào tháng giêng, vài ngày trước hiện tượng Đức Mẹ hiện ra, Bernadette mới được vào lớp học vỡ lòng. Cô bé Bernadette Soubirous 13 tuổi có cha mẹ nghèo sát đất, không biết đọc và cũng không biết viết, khi ấy những trường học đầu tiên được dành cho con trai và chưa có nền giáo dục phổ thông bắt buộc, cô giúp đỡ cha mẹ bằng việc đi lượm những cành cây khô về làm củi, cô bị hành hạ bởi những cơn ho suyễn từ nhỏ, sau này cô bị thêm bệnh lao phổi vì sống trong điều kiện cực khổ, mùa đông không được sưởi ấm, sức khỏe của cô luôn luôn yếu kém.

Đọc những cuốn sách viết về cuộc đời và những huyền thoại thêu dệt chung quanh Bernadette, tôi càng hiểu rõ hơn sự kiện Bernadette 18 lần nhìn thấy Đức Mẹ hiện ra không giản đơn một chút nào cả, tính đến nay đã tròn 160 năm, người hậu sinh càng không thể kiểm nghiệm phải trái, đúng sai, chỉ là niềm tin. Có những điều mà người ta không thể cắt nghĩa bằng lý trí và kỹ thuật hiện đại tân tiến.

Trải qua bốn năm, từ 1858 khi cô bắt đầu công bố nhìn thấy Đức Mẹ hiện ra lần thứ nhất cho đến năm 1862 khi hang động ở Lourdes được chính thức tu sửa và công cuộc xây nhà nguyện bắt đầu, thì Bernadette đã chịu đựng nhiều sức ép từ nhiều phía do nhiều nguyên nhân và mục đích khác nhau.

Ngày 11 tháng 2 năm 1858, khi cô bé kể chuyện thấy hình dáng một cô gái trẻ tuổi mặc áo trắng, thắt lưng mầu xanh, dưới chân là hai đóa hoa hồng vàng hiện ra trên vách đá ở hang Massabielle, thì câu chuyện cô kể có một sức lan tỏa diệu kỳ đồng thời cũng đưa cô vào những tình cảnh khó khăn khôn lưởng với mọi người chung quanh, nhà thờ và với chính quyền.

Người ta không tin chuyện cô kể, cho là nói dối, chuyện bịa đặt để tụ họp dân chúng, lường gạt để làm giầu, họ gây sức ép với cô để cô chối bỏ những điều cô nói, họ cho là cô điên loạn, thấy ảo ảnh. Cô bé bị dọa nạt bởi người trong làng, bởi các bà sơ dạy học và trẻ con, bị tát vào mặt, bị thẩm vấn nhiều lần bởi những nhân vật có uy tín trong chính quyền, bị chửi rủa, dọa bỏ tù, lập hồ sơ bệnh án, thậm chí họ còn tính đến chuyện bắt nhốt cô vào viện tâm thần. Không biết cô có ý thức được hậu quả những điều cô kể hay không. Cô can đảm nói rằng, cô được chọn vì không ai nghèo hơn cô, không ai dốt nát hơn cô.

Nhưng điều lạ lùng là một mặt không tin Bernadette, một mặt kể từ khi Bernadette được Đức Mẹ hiện ra lần thứ 4 thì cô bé đã thu hút nhiều giáo dân đến cầu nguyện với cô tại hang Massabielle. Phần thì do hiếu kỳ, phần thì tin vào một sự kiện đã xảy ra nhiều lần.

Nhất là sau lần hiện ra lần thứ năm, ngày 25 tháng 2, Bernadette nghe theo lời dùng tay bới đất đúng vào nguồn nước và uống những giọt nước đầu tiên còn nhiều bùn và cô hái một lá cỏ để ăn. Khoảng 350 người có mặt cùng với Bernadette lúc ấy đều kinh ngạc, cho là cô điên. Tờ báo địa phương Lavedan tường trình sự kiện và cho là cô bị kinh giật. Nhưng cũng buổi chiều ngày hôm ấy, một số người trở lại hang Massabielle, khơi vũng nước, để lộ ra một nguồn suối có nước trong và kể từ ngày hôm đó những chai nước suối đầu tiên được đưa về làng.

Ngày 25 tháng 3, Bernadette hỏi hình bóng hiện ra trong nguồn sáng « Xin « Cô » cho biết tên gọi của « Cô » thì được trả lời « Ta là Vô nhiễm nguyên tội » (Que soy era Immaculada Councepciou).

Phép lạ đầu tiên của Louis Bouriette nhận được loan truyền đi khiến cho cả ngàn người từ xa đổ về Lourdes và những làng lân cận để tâm lưu ý.

Mọi người đểu biết lời hứa của Bernadette sẽ cầu nguyện tại hang Massabielle trong 15 ngày, nên đến ngày cuối cùng của lời hứa 15 ngày thì số giáo dân tìm đến Lourdes để chứng kiến Bernadette cầu nguyện tại hang Massabielle lên đến tám ngàn người, đứng chật ních, một viên cảnh sát phải mở đường cho Bernadette đi qua đám đông. Lúc ra về, Bernadette thấy một cô bé mù được cha mang theo, Bernadette đến gần cô bé mù Eugenie và hôn cô, cô bé cười, Bernadette hôn cô lần nữa, cô bé muốn nhìn thấy người hôn cô, mở băng mắt, và nhìn thấy Bernadette. Đám đông kêu ồ lên phép lạ.

Mới 14 tuổi, cô trở nên một nhân vật khác thường, người được trông thấy Đức mẹ «Vô nhiễm nguyên tội », giáo dân cũng gây sức ép với cô, họ săn đón cô hầu cắt được một lọn tóc, xé được một mảnh áo của cô, chạm vào người cô, cả đến sợi chỉ may váy cô mặc cũng là vật linh thiêng. Người ta cho tiền, cho quà cáp để được ban phúc lành, được gặp cô….cô đều từ chối, đến cả không nhận một trái táo.

Chỗ dựa duy nhất của cô là các cha sở tại, dần dần có niềm tin vào những điều cô kể qua 18 lần đối thoại với Đức Mẹ, và giáo dân, cùng với sự giản đơn, kiên nhẫn, thành tâm của chính cô. Các câu chuyện cô kể đã được đưa lên mặt báo, tiếng đồn xa về đến tận Paris, giáo dân các nơi lần lượt tìm về Lourdes hầu gặp Bernadette.

Theo truyền thuyết, Napoleon III, thể theo nguyện vọng của vợ là nữ hoàng Eugenie, vào ngày 9 tháng 9 đã cho truyền điện ra lệnh bãi bỏ việc ngăn cản giáo dân đến nguồn nước ở động Massabielle do chỉnh quyền sở tại và tỉnh trưởng Oscar Massy ban hành từ tháng 6. Đến ngày 5.10 thì hang Massabielle được mở vĩnh viễn để dân chúng tự do đến nguồn nước.

Sau một năm, có khoảng 30.000 người tìm đến Lourdes và ai cũng muốn gặp Bernadette, cô là nhân vật chính của sự tôn thờ, vì thế linh mục Peyramale phải tìm cách bảo vệ cô, nhưng cô vẫn muốn ở nhà để giúp đỡ cha mẹ. Nhưng đến tháng một 1860 mới tìm ra giải pháp để đem Bernadette vào tạm trú trong nhà thương của các bà sơ dòng Bác Ái và được theo học trong một lớp học của nhà dòng. Chính ông xã trưởng Anselme Lacade là người đứng ra bảo lãnh về tiền bạc cho cô.

Một đường xe lửa mới nối Lourdes và Pierrefit được mở ra và khánh thành năm 1865 để những chuyến tàu người hành hương được về đến Lourdes.

Bernadette ở Lourdes đến năm 1866 thì rời khỏi Lourdes vĩnh viễn để vào nhà dòng nữ tu Bác Ái (les sœurs de la Charité) tại tu viện Saint-Gildard ở thành phố Nevers, cách Lourdes hơn 700 cây số, ngày xưa đi xe ngựa, phải thay ngựa ở trạm bưu điện (relais de poste) mỗi khoảng 20 cây số, đi cả mấy ngày đường mới đến nơi.

Bernadette Soubirous

Lúc vào tu viện, Bernadette được 22 tuổi. Thời ấy, muốn vào tu viện thì phải có của hồi môn tùy theo gia đình giầu có nhiều hay ít, vài trăm hay vài ngàn quan tiền vàng, mà nạp vào tu viện. Bernadette không có một xu, được giám mục của Nevers, Théodore-Augustin Forcade, đặc cách bảo lãnh cho vào tu viện. Bởi bà hay đau ốm, không làm được việc gì nặng, nên trong tu viện bà được phân công chăm sóc người bệnh, « dù chỉ là đưa cho người bệnh chén trà ly nước ».

Khi mẹ bà mất, năm 1866, mới có 41 tuổi, và khi cha bà mất năm 1871 (64 tuổi) Bernadette phải ở tu viện, không về được.

Ở tu viện được 13 năm, bà về trời khi còn rất trẻ, năm 1879 mới có 35 tuổi đời vì bạo bệnh.

Bốn mươi sáu năm sau, bà được phong thánh và tháng tám năm 1925, thân xác thánh Bernadette được đặt trong hòm kính và đồng trong nhà thờ dòng nữ tu Bác Ái tại Nevers để mọi người đến viếng tự do.

Trong nhà thờ tu viện của các bà sơ dòng Bác Ái tại Nevers

Đã có nhiều người tìm cách « giải mã » những chuyện đã xẩy ra ở hang Massabielle theo lý trí và khoa học.

Thời Trung cổ những rặng núi cao, chập chùng như rặng núi Pyrénées có sức thu hút con người và trí tưởng tượng phong phú. Sự huyền bí, những phép lạ của Đức Mẹ đồng trinh, cũng những hang động bí ẩn, những con quỷ dữ…là một đề tài truyền thống được những người mê tín lưu truyền miệng cho nhau. Một tin phép lạ xuất hiện là lan tràn truyền miệng ngay tức khắc trong vùng, những người nghèo, người bần cùng, người cùng khổ luôn tin rằng sẽ được cứu nạn. Cô bé Bernadette, tuy không biết chữ, nhưng đã được ru trong những chuyện kể dân gian, địa phương.

Tầng lớp tăng lữ dần dà đứng về phía người dân, không còn thuộc về tầng lớp quý tộc và trưởng giả như trước cuộc Cách mạng dân chủ. Cha xứ nhà thờ ở Lourdes, Marie-Dominique Peyramale, sau một thời gian tỏ vẻ nghi ngờ, cuối cùng đã đứng về phía Bernadette, bảo vệ cho cô bé không bị đem đi nhốt vào nhà thương điên.

Nhiều người hỏi cắc cớ, hình bóng hiện ra nói ngôn ngữ nào, vì biết rằng Bernadette nói tiếng thổ ngữ, không nói tiếng Pháp, mà không hiểu rằng trong vấn đề tâm linh, các cuộc đối thoại không phải là nói lời ra cửa miệng, mà là đón nhận và hỏi cũng như trả lời trong tâm thức.

Giám mục Bertrand-Sévère Laurence của địa phận Tarbes, không mang vẻ khinh khi những gì đến từ nhà quê xa xôi như cũ, mà chấp nhận những sự kiện tâm linh vùng quê để biến nó thành một giải pháp quốc gia, một mặt ông đứng về phía công giáo bình dân, một mặt ông dựa vào thế lực của tầng lớp trưởng giả bảo hoàng.

Khi thẩm vấn Bernadette, sau một thời gian làm việc của hội đồng thẩm định kéo dài 3 năm rưỡi, giám mục Laurence ấn tượng bởi sự cương nghị trước sau như một, sự đơn giản và ngay cả sự « ngu dốt » của cô khiến cho cô không thể nói láo vì cô không biết chữ, và hàng chữ Que soy era Immaculada Councepciou do cô lập y lời cô đã nghe chứng tỏ cô không biết bịa đặt, mà khái niệm này bốn năm về trước đức Giáo hoàng Pie IX đã giảng giáo lý về Đức Mẹ đồng trinh. Giám mục Laurence nhận ra rằng câu chuyện của cô bé Bernadette sẽ là một kết nối tuyệt vời hình ảnh Đức Mẹ trong niềm tin công giáo thời đại mới, đồng thời cũng là kết nối giữa đức Giáo hoàng và con chiên ở khắp nơi, cho nên nhà thờ đã quyết định đứng về phía cô.

Những cuộc thẩm vấn của chính quyền thì đã để lại nhiều dấu vết qua các hồ sơ và báo cáo, ảnh chụp… từ cấp dưới lên cấp trên.

Bác sĩ Thérèse Valot cho rằng đó chỉ là hiện tượng tự kỷ ám thị quen biết trong môi trường bệnh án tâm thần học, đó là một sự trộn lẫn giữa di truyền, nguồn gốc gia đình, ảnh hưởng của tôn giáo và sự giản đơn của trình độ hiểu biết của một đứa trẻ con đối với thế giới bên ngoài, tính cách di truyền của sự nghiện rượu là chắc chắn.

Đó là những đánh giá của những người đương thời thế kỷ 19.

Cuộc đời của Bernadette Soubirous đã là đề tài cho nhiều nhà văn nổi tiếng như Emile Zola, Francois Mauriac, Franz Werfel, Joris-Karl Huysmans, Gilbert Cesbron…cũng như mười mấy cuốn phim ảnh.

Trong thời đại hiện tại, đã 93 năm qua, hàng ngày đều có những đoàn hành hương từ khắp nơi đến Nevers. Cả thành phố Nevers về kinh tế, nhất là khách sạn và nhà hàng, như chỉ sống nhờ vào sự hiện hữu của thánh Bernadette. Trước kia các bà sơ đón tiếp khách hành hương 365 ngày và 24/24 tiếng, nhưng nay thì điều kiện đón tiếp đó không thể tồn tại với nhân viên làm công, thay vào đó số lượng khách ghé thăm vài giờ rồi đi ngay tăng lên, khiến cho Nevers lúng túng trong phần khai thác số khách du lịch này. Khu vực tu viện nằm bên cạnh một công viên xanh, có nhiều cây cao vút, thì lại « hoang vắng » đối với du khách muốn cái gì cũng phải có ngay có sẵn, đi vào trung tâm thành phố thì ngại xa, dù là 15 phút đi bộ. Phải nói thêm khách hành hương đến Nevers đều là thành phần có tuổi, có bệnh.

Theo thống kê năm 2018 của báo chí thì hàng năm có khoảng 250.000 du khách đến Nevers để viếng thánh Bernadette, phần lớn đến từ rất xa như Ba Lan, Bresil, Nam Dương, Canada …, họ kết hợp trong một chuyến du lịch luôn cả hai địa điểm Lourdes và Nevers. Từ Paris có đường xe lửa đi về Nevers.

Trong khi đó số lượng khách hành hương tại Lourdes đạt đến trung bình 5 triệu lượt mỗi năm và thâu về khoảng gần 322 triệu €, nếu tính luôn cả chi phí chuyên chở của những đoàn hành hương thì số thâu lên đến 548 triệu €. Lourdes là thành phố thứ hai sau Paris có số lượng giường trọ lớn nhất nước Pháp, 22.200 giường, trước cả Nice.

Năm 1844 thì Lourdes chỉ là một điểm dừng chân dưới rặng Pyrénées, có một lâu đài cổ dùng làm nhà ngục đến thế ký 19 và khoảng hơn 4.000 dân, đa số làm nghề nông, thợ đục đá và một vài nhà máy xay bột bằng sức nước ở những con suối. Dân chúng nói tiếng thổ ngữ (occitan gascon) vả ít hiểu tiếng Pháp. Mẹ của Bernadette, bà Louise Casterot-Soubirous, sinh đến 9 lần, Bernadette là con cả, chỉ nuôi được 4 người con, số tử vong của trẻ sơ sinh rất cao, phụ nữ chết trẻ.

Dân số của Lourdes năm 2018 là 14.361 dân, Nevers có 34.228 dân không kể các vùng phụ cận. Lourdes được xây cất nhanh, trở nên giầu có, lộng lẫy, đã hết mất vẻ hoang sơ, nghèo khổ của thời Bernadette. Ai đến Lourdes cũng ráng sức mang nước của Lourdes về nhà. Uống tại chỗ thì nước mát lạnh, trong suốt.

Hiện nay hai thành phố Lourdes và Nevers vẫn tranh cãi với nhau về nơi đặt linh cữu bằng kính trong suốt của thánh Bernadette. Thành phố Lourdes vận động gia đình Soubirous hỗ trợ để đem thánh Bernadette về lại quê nhà, tất nhiên gặp phải sự phản kháng của Nevers. MTT

Biển cả và chiến thuyền L’Hermione

7. octobre 2018

Biển cả và chiến thuyền L’Hermione * ©Mathilde Tuyết Trần, France 2018

1280px-Hermione_Brest_10_08_2015_101

Chiến thuyền L Hermione tiến vào cảng Brest 2015

Đã từ rất lâu, các nhà có hiểu biết khoa học, biết rằng ba phần tư diện tích trái đất là biển  cả. Muốn chinh phục thế giới, chinh phục các lục địa, các quốc gia, các phần đất hoang vu xa xôi thì phải chinh phục biển cả. Quá trình chinh phục thế giới vì thế gắn liền với quá  trình phát triển hàng hải, hải quân và các ngành khoa học kỹ thuật phục vụ cho hải quân  như địa lý, thiên văn, chế tạo vũ khí…

Đối với các quốc gia có biên giới bờ biển thì hải  quân  là sự sống còn của quốc gia đó.  Muốn giữ nước thì phải có một lực lượng hải quân hùng mạnh. Một thí dụ còn  tồn tại trong trí nhớ hiện đại là cuộc đổ bộ trên bờ biển Normandie nước Pháp của quân  đội Đồng Minh và lực lượng kháng chiến Pháp vào ngày 06.06.1944, đưa đến sự tháo chạy  của quân đội Đức quốc xã, một trong những yếu tố kết thúc đại chiến thứ hai 1945.blog3__005796300_1643_08092014

Vàng, gỗ và sắt là ba nguyên liệu khơi dậy ham muốn tột cùng trong thời đại Trung cổ. Để  lên đường tìm vàng, con người nghĩ đến đường biển. Muốn thế, phải có thuyền to đủ sức  vượt đại dương. Muốn đóng thuyền thì cần gỗ tốt, sắt, đồng và kỹ thuật. Đóng được  thuyền rồi thì cần phải có hải quân và nhà địa lý, người vẽ bản đồ thế giới và địa phương,  định  phương hướng và cung cấp những thông tin sơ khởi, cơ bản về con người, mầu da,  tiếng  nói, tôn giáo, tập tục, phong thổ, khí hậu, đất đai, biên giới, sông lạch, biển hồ, núi  non,  đường xá, cách tổ chức xã hội, nông nghiệp, thương mại…  của những vùng đất họ  mới  khám phá ra, cho các triều đình vua chúa Âu châu.

Công xưởng La Corderie Royale ở cảng Rochefort, Pháp. Photo: MTT

Các cuốn sách địa lý cổ, tuổi đã mấy trăm năm, là những nguồn thông tin rất hấp dẫn, lý  thú. Bản đồ xưa nhất thế giới mà các nhà khảo cổ học tìm thấy có lẽ là những vạch khắc  trên đá của người da đỏ châu Mỹ mười ngàn năm trước Thiên Chúa. Từ đó, những kiến  thức mới mẻ về địa lý, thiên văn và công việc vẽ bản đồ không ngừng tiến triển, rất   được trọng dụng, được xem là những tư liệu tối mật,  có tác dụng chính trị và quân sự  làm thay đổi bộ mặt thế giới, có tầm quan trọng quốc gia, chỉ dành riêng cho vua chúa  và triều đình.

Con người biết đóng thuyền để di chuyển trên sông lạch biển hồ từ rất lâu, đến mấy ngàn  năm trước dương lịch. Các cuộc di dân từ lục địa này sang lục địa khác từ các thời cổ đại  làm cho các nhà khảo cổ học đặt câu hỏi về đường biển, dân di cư không thể vượt đại  dương bằng chân được , họ đã phải biết dùng thuyền. Tuy nhiên, những vết tích khảo cổ  học còn lại chỉ chứng minh được sự phát triển của ngành đóng tàu từ khoảng thời gian  hai ngàn năm trước dương lịch, và sở dĩ các dân tộc Hy Lạp, La Mã và Ai Cập trở thành  những cường quốc trước dương lịch chính vì họ đã có các đội thủy quân hùng hậu. Đến  thế kỷ thứ mười bốn, con người đã có kỹ thuật đóng những chiếc thuyền rất to, vượt  đại dương, có trang bị súng ống.

Các loại dây thừng to nhỏ sử dụng trên chiến thuyền. Photo: MTT

Thời Trung cổ các hoạt động thương mại liên lục địa theo đường bộ đã rất tấp nập.  „Con đường tơ lụa“ (la route de la soie, the Silk Road) – tên dịch theo nguyên gốc tiếng  Đức „die Seidenstrasse“ do nhà địa lý người Đức Ferdinand von Richthofen đặt ra sau  này vào năm 1877 – là „con đường“ thương mại nổi tiếng trên thế giới từ thời Marco  Polo trong thế kỷ thứ mười ba, xuyên từ châu Á sang châu Âu bằng đường bộ, một mạng  lưới hệ thống buôn bán chằng chịt từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam. Nhưng đường  bộ xuyên lục địa, xuyên qua biên giới lãnh thổ nhiều nước đem lại rất nhiều hiểm nguy  không biết trước và cũng không né tránh được, gây ra rất nhiều khó khăn, mất người  mất của trong việc mua bán chuyên chở hàng hóa, cho nên các nhà buôn từ Âu châu  tích cực tìm cách xây dựng đường biển trong vấn đề thương mại: biển cả không có  biên giới !

Trong thời đại Toàn cầu hóa của chúng ta ngày nay, ở vào thế kỷ thứ 21, những suy tính của thời Trung cổ chưa hề bị mất tính thời sự. Nhân công rẻ, sử dụng tài nguyên thiên nhiên tại chỗ và chiếm hữu đường biển để chuyên chở hàng hóa là 3 điều kiện tiên quyết để phát triển giầu có, mà công cuộc phát triển công nghệ, khoa học kỹ thuật cũng không ngoài mục đích phục vụ cho một mục đích tối hậu đó. Thay vì nô lệ thời Trung cổ, nền khoa học kỹ thuật tiên tiến đang chế tạo Robot và sử dụng những hệ thống tự động trong sản xuất để thay thế sức người. Từ những thế kỷ cũ cho đến hiện đại thì tiền và quyền lực là trên hết, đó là chiến lược, là chính sách, là mục đích.

Cỗ máy bện dây thừng. Photo: MTT

Ý đồ này phù hợp với chính sách quân sự và chính trị đế quốc của các triều đình châu Âu,  đôi bên cùng có lợi, cho nên sự phát triển về đường biển được hai thế lực chính, thương  mại và hải quân, thúc đẩy rất nhanh chóng. Các cuộc thám hiểm bằng đường biển trở  thành một cuộc chạy đua với thời gian. Đường biển, xem ra thì mênh mông, chứa đựng  nhiều nguy hiểm vì thiên nhiên, nhưng lại ít nguy hiểm vì con người.  Con đường ra biển cần phải có nhiều đầu tư và kỹ thuật.

Vào đầu thế kỷ thứ mười lăm, nhờ sự tiến bộ về hàng hải, người Bồ Đào Nha đã bắt đầu  những cuộc thám hiểm bằng đường biển, khám phá ra những vùng xa xôi trên trái đất,  và qua đó bắt đầu đặt nền tảng cho đế quốc Bồ Đào Nha. Họ đem các sản phẩm địa  phương đặc sắc khắp nơi về trình triều đình Bồ Đào Nha. Chính các thuyền biển của Bồ Đào  Nha  đã cập bến Việt Nam, trước người Pháp, nhưng sau này họ đồng ý „nhượng quyền“  khai  thác Việt Nam cho Pháp. Có thể nói, hai nước thực hiện chính sách thực dân sớm  nhất,  trong mục đích bảo đảm độc quyền sản xuất và thương mại các sản phẩm đặc biệt  của các thuộc địa, thông qua chiêu bài truyền đạo Thiên Chúa là Bồ Đào Nha và Tây  Ban Nha. 1) 2)

Một cuộn dây thừng

Từ ham muốn đi tìm vàng, người Âu châu khám phá thêm một nguồn lợi bóc lột khác:  nô lệ, và nhiều nguồn lợi khác, không có trên đất của họ. Công việc buôn bán nô lệ được  Giáo Hoàng Léon X chính thức cho phép vào năm 1517.

Từ đầu thế kỷ mười sáu, các quốc gia Anh, Hòa Lan, Pháp và Ý tranh dành quyền lực  trên biển với Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, nhiều trận hải chiến nổi tiếng đi vào lịch sử… Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha mất dần ưu thế và xuống hàng thứ yếu. Trước thế lực và sự  bành trướng của ba đế quốc Anh, Pháp, Đức từ thế kỷ 17, nước Mỹ cũng tìm cách trở  thành  một thế lực mạnh nhất toàn cầu, mua Alaska của Nga năm 1867 với giá là 7,2 triệu đô la Mỹ, và đi tìm chiếm hữu thuộc địa, chủ yếu các vị trí chiến lược mới trên vùng  biển Thái Bình Dương, Ấn độ dương và Đại tây dương.

Vào đầu thế kỷ thứ mười bẩy, các thương nhân giầu có ở Pháp, với sự ủng hộ đặc biệt của  Jean-Baptiste Colbert, xin được đặc quyền của vua Louis XIV và triều đình thiết lập công  ty  hàng hải để buôn bán với các nước ở châu Mỹ và châu Á. Họ dùng vị trí địa lý của Ấn  Độ làm trung tâm và đặt tên hai công ty hàng hải cho hai hướng khác nhau: Compagnies  des  Indes occidentales thành lập năm 1664 để buôn bán với châu Mỹ và Compagnies  des Indes orientales thành lập cùng năm 1664 để buôn bán với châu Á.

Muốn chiếm hữu thuộc địa và chuyên chở tài nguyên, hàng hóa khắp nơi trên thế giới,  Colbert thúc đẩy phát triển lực lượng hải quân và hàng hải thương mại, mộ quân lính,  nỗ lực đóng tàu, xây dựng cảng, các kho hàng khổng lồ, kho súng ống đạn dược – vũ khí  là  một loại hàng xuất cảng của Pháp rất được hâm mộ bởi các nước còn kém phát triển  về  kỹ thuật – cho nên

Rất nhiều giây thừng nhỏ bện lại thành giây thừng lớn. Photo: MTT

Colbert cũng được xem như cha đẻ ra quyền lực hải quân của  Pháp,  đồng thời cũng là người  thúc  đẩy chính sách chiếm hữu thuộc địa.

Cùng thời đại với Colbert và triều đình vua Louis XIV, ở nước ta là thời „một vua hai chúa“  và „Trịnh-Nguyễn phân tranh“, tức là đời thứ ba của dòng chúa Nguyễn, Nguyễn Phúc  Nguyên tục gọi là Chúa Sãi, 1613-1634, triều đình vua Lê Kính Tông (Lê Duy Tân) và chúa  Trịnh (Trịnh Tùng  1570-1623, Trịnh Tráng 1623-1657).

Các chúa Nguyễn mở đường mở đất xuống phía Nam, nhà Hậu Lê dần dà suy yếu, các cuộc  nội chiến giữa hai quân quyền Trịnh-Nguyễn và các cuộc chiến tranh Nam tiến tuy củng  cố thế lực của nhà Nguyễn nhưng làm cho cả ba quyền lực lãnh đạo Lê-Nguyễn-Trịnh quên công việc nhìn ra bên ngoài biên giới nước Việt, nhất là về hướng Âu châu,  thấy hiểm họa các thế lực đế quốc Âu châu đang trên đường thực hiện chính sách chiếm  hữu thuộc địa. Con đường Nam tiến của các chúa Nguyễn là con đường chiến lược đúng  đắn,  nhìn xa trông rộng lâu dài.

Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tại Âu châu, được đánh dấu bởi phát minh ra máy chạy  bằng hơi nước của James Watt (1736- 1819), đồng thời đại với chúa Định Vương Nguyễn  Phúc Thuần tại Việt Nam (1754-1777) 3). Trong khi Âu châu và Mỹ châu bắt đầu đi vào  thời đại kinh tế tư bản với sự phát triển nhanh chóng mạnh mẽ của tất cả mọi ngành  nghề  kỹ thuật cao cấp, nặng và nhẹ, thì nước ta còn trần ai khổ ải trôi nổi trong các cuộc  nội chiến giữa ba thế lực Lê-Trịnh-Nguyễn và sự xâm lăng của nhà Thanh bên Tàu, khi  vua Lê Chiêu Thống chạy sang Tàu cầu cứu với mục đích muốn khôi phục lại ngôi báu nhà Hậu Lê.

Biểu diễn bện dây thừng theo phong cách cổ xưa. Photo: MTT

Nếu lấy cuộc Cách mạng dân chủ 1789 tại Pháp làm mốc thời gian, thì kể từ ấy, cuối thế kỷ  mười tám, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật dần dần hình thành rõ nét, các phát minh,  sáng chế cải thiện sản xuất và đời sống nối đuôi nhau xuất hiện, các nước Âu châu thoát  ra  khỏi thời kỳ nông nghiệp, để trở thành những quốc gia phát triển kỹ nghệ. Các cường  quốc  Âu châu Anh, Pháp, Đức, Hòa Lan, Ý…sôi sục tranh dành nhau chiếm hữu thiết lập  thuộc địa, phân chia bản đồ thế giới vì họ đều cần tài nguyên thiên nhiên sắt, thép,  than, dầu hỏa, vàng, bạc, chì, kẽm…và nhân lực, ít hay không có tốn kém.

Giữa thế kỷ 19, Phó đô đốc hải quân Charles Rigault de Genouilly đã với sự giúp sức của quân  Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng (Tourane) vào ngày 01.09.1858, mở đầu mở đầu cho công  việc chính quyền thực dân Pháp chiếm hữu Việt Nam làm thuộc địa.

Lịch sử ngành đóng tàu bắt đầu từ mấy ngàn năm trước dương lịch, người Ai Cập, La Mã,  dân Wiking Bắc Âu của thời thượng cổ đã đóng những chiếc thuyền lớn chèo bằng nô lệ  và có buồm vải. Nhưng vấn đề đặt ra khi ấy là làm thế nào để đóng những chiếc thuyền đủ  sức ra biển khơi sóng cả mà không vỡ tan ra từng mảnh hay chìm lỉm chỉ vì một con  sóng  dữ, và lênh đênh nhiều ngày trước khi cập được đất liền.

Cụ bà hơn 80 tuổi còn hăng say biểu diễn bện dây thừng bằng tay theo phương pháp cổ. Photo: MTT

Tuy rằng đứng trên bình diện kỹ thuật, các thuyền đóng ở Trung Hoa vào thế kỷ mười ba vượt trội hơn nhiều loại thuyền đồng thời của Âu châu, nhưng sự ra đời của chiến  thuyền Caravelle đã đem lại một bước ngoặt và một ưu thế vô cùng to lớn cho người Âu  châu trong mục  đích thám hiểm vòng quanh trái đất và chiếm hữu thuộc địa.

Thuyền Caravelle (tiếng Pháp) là kết quả của một sự phát triển về kỹ thuật đóng thuyền xây dựng trên những mẫu thuyền đánh cá đã có từ nhiều thế kỷ trước, chủ yếu dùng để  di  chuyển trên sông  lạch hay ven biển.

Chiến thuyền này đáp ứng được mọi nhu cầu cần thiết: ra được biển khơi, lướt nhanh sóng  cả, chịu gió, đủ lớn để chứa lương thực và nước uống dự trữ cho nhiều ngày, có trang bị  súng cà nông. Tên Caravelle, tiếng Bồ Đào Nha là Caravela, xuất hiện trong sử sách từ năm  1226.  Đến cuối thế kỷ thứ 15 thì chiến thuyền Caravelle được đóng với chiều dài từ 30 đến 35 mét, có ba cột buồm thay vì hai buồm như trước kia, sức chuyên chở vào khoảng 63,5 tôn nô, và thủy thủ đoàn cần có đến 60 người, thay vì 20 người trước kia. Cuối thế kỷ thứ 16, chiến thuyền  Caravelle được đóng với sức chuyên chở đến 158,5 tôn nô. Hậu thân của chiến thuyền  Caravelle là loại thuyền Galeone.

Bài viết này đơn cử thí dụ chiếc chiến thuyền mang tên L‘Hermione, thuộc hàng chiến  thuyền nhẹ (frégate), chiều dài tổng cộng 65 mét, bề ngang bên trong rộng hơn 11 mét,  có sức trọng tải  1.116  tôn nô (tonneaux) và 255 người, chứa 26 khẩu súng cà nông bắn đạn 12 livres (khoảng 6 kí lô một viên đạn) và 8 khẩu súng cà nông bắn đạn 6 livres  (khoảng 3 kí lô), có ba cột buồm, cột buồm chính cao 54 mét, giăng một diện tích buồm là  1.500 mét vuông.

Photo: MTT

Năm 1778 chính tại cảng Rochefort, nơi có công xưởng la Corderie Royale nằm gần sát bờ  sông, chiến thuyền nguyên thủy được đặt tên là  l’Hermione đã được cấu tạo.

Cảng Rochefort nằm kín đáo, dễ phòng thủ và khó bị tấn công, trên cửa sông Charente đổ ra biển (Bretagne) là một cảng nhỏ, đóng và sửa chữa  tàu truyền thống của hoàng gia Pháp từ thời Colbert, thế kỷ thứ 17. Ngay tại cảng có công xưởng la Corderie Royale là nơi chế tạo các sản phẩm phục vụ ngành đóng tàu như  dây thừng, buồm vải…và các vật dụng linh tinh khác.

Tầng dưới boong tàu trong chiến thuyền Hermione đang được xây dựng. Photo: MTT

Chiến thuyền l’Hermione do kiến trúc sư Chevillard Aîné thiết kế mẫu, cùng được đóng một lúc tại Rochefort với ba chiến thuyền khác mang  tên là la Courageuse, la Concorde và la Fée. 18 ngành nghề thợ thuyền với tổng cộng 286  người chuyên nghiệp đã tham dự đóng tàu. Phí tổn đóng chiến thuyền L‘Hermione lên đến 476.932 quan tiền vàng (livres), tương đương với  4.006.229 quan Pháp năm 1987.  Ngày 14.05.1779 sĩ quan và thủy thủ đoàn tổng cộng 272 người lên chiến thuyền L‘Hermione mới tinh, dưới đáy thuyền là thực phẩm đủ ăn cho 5 tháng và 60  thùng nước uống.

Thời ấy, với một đội ngũ nhân công rất đông đảo, luôn cả tù nhân bị làm việc khổ sai,  công việc đóng một chiến thuyền, xử dụng gỗ của hơn 2.000 (hai ngàn) cây sồi (chêne),  chỉ  xảy ra trong một thời gian gấp rút là 11 tháng.

Từ năm 1666 đến 1926 cảng Rochefort đã đóng khoảng 500 chiến thuyền mới. Năm 1779  l‘Hermione được chỉ huy bởi thuyền trưởng  Louis-René Vassor de la Touche.

Chiến thuyền L‘Hermione đi vào lịch sử hàng hải vì đã đem Gilbert du Motier, được người  đời biết đến qua cái tên Hầu tước La Fayette (marquis de La Fayette, sinh ngày 06.9.1757  tại Chavaniac, qua đời ngày 20.05.1834 tại Paris) trở lại châu Mỹ vào năm 1780 để giúp đại  tướng Washington đánh quân Anh dành lại độc lập, dưới thời vua Louis XVI.  4)

Chiến thuyền Hermione được xây dựng trong một hào cạn, gồm có ba tẩng. Photo: MTT

Trước đó, từ năm 1977 cho đến 1779 La Fayette tự nguyện chiến đấu trong hàng ngũ của Washington. Năm 1779, lúc ông chỉ mới có 22 tuổi, La Fayette trở về Pháp để thuyết phục  vua  Louis XVI trợ giúp quân sự cho Washington.

Được sự đồng ý của vua Louis XVI, hầu tước La Fayette, mới có 22 tuổi, lên chiến thuyền  L‘Hermione vào ngày 21.03.1780 vượt Đại Tây Dương trở lại Mỹ. La Fayette cập bến Boston  sau 38 ngày lênh đênh trên biển, rồi cùng với đạo quân của hai tướng Pháp lừng danh  Rochambeau và de Grasse, chỉ huy trận đánh chiếm Virginia.

Quân Anh đầu hàng tại Yorktown vào năm 1781. La Fayette trở về Pháp trong vinh quang,  ông được Washington trọng thưởng, dân da trắng châu Mỹ mang ơn, và vua Louis XVI  hậu  đãi. Tuy nhiên chiến phí của nước Pháp để giúp Washington lên đến 2 tỷ quan tiền  vàng  thời ấy, đưa đến bất mãn trong dân chúng Pháp vì sưu cao thuế nặng, một trong  những  tiền đề cho cuộc Cách mạng dân chủ Pháp  năm 1789.

Chiến thuyền Hernione được đóng hoàn toàn bằng gỗ sồi. Photo: MTT

Cùng thời này, ở Việt Nam, theo tác giả Nguyễn Thanh Lợi, dân ta ở miền Trung thường  đóng ghe bầu, cột buồm chính có cái cao 9 mét (22 thước ta), sức trọng tải trung bình từ 2  đến 14 tấn, riêng ghe bầu Mũi Né dài 30 mét, ngang khoảng 6 mét, sâu 4 mét, tải trọng  120  tấn.  Ông cho độc giả biết là: 5)

Trong lực lượng thủy quân của Nguyễn Ánh, có hẳn một loại thủy binh ghe bầu với 1.600  quân,  đây là lực lượng vận tải quân lương của chúa.

Theo biên niên nhà Nguyễn, từ 1778 đến 1819, Nguyễn Ánh đã đóng 235 ghe bầu (kiểu prau) ,460 sai thuyền (thuyền chèo loại lớn hơn), 490 chiến thuyền (thuyền buôn nhỏ không mui),  77 đại chiến thuyền, 60 thuyền lớn nhỏ kiểu phương Tây hay thuyền buồm dọc, 100 ô thuyền (thuyền sơn đen) và 60 lê thuyền (thuyền chạm vẽ trên cả đầu và đuôi)  trong tổng số 1.482  chiếc. ) „

Chứng tỏ rằng các chúa Nguyễn biết đường biển là con đường sống còn của đất nước, dân  tộc, và lịch sử cũng đã cho thấy, tất cả các trận tấn công đánh chiếm của quân Pháp tại  Việt  Nam đều do  đường biển, do lực lượng hải quân Pháp thực hiện.

Lạy Trời cho cả gió nồm

Cho thuyền chúa Nguyễn căng buồm ra khơi.

Từ năm 1997 một hội tư nhân mang tên Hermione-La Fayette, trong mục đích tưởng  nhớ công trạng của La Fayette cũng như nhắc nhở sự hy sinh của triều đình vua  Louis XVI  để giúp Hoa Kỳ dành độc lập, đã tiến hành dự án góp công góp của để đóng lại  chiến thuyền  L‘Hermione  theo y như mẫu cũ tại cảng Rochefort.

Vương hiệu trang trí trên tàu Hermione

Chiến thuyền L‘Hermione nguyên thủy, được mang danh hiệu Frégate de la Liberté  (Chiến thuyền Tự Do), đã bị chìm ngày 20.09.1792 tại vùng biển Croisic phía nam  Bretagne  nước Pháp.

Dự án và công việc đóng thuyền mới kéo dài từ năm 1997 đến ngày 7 tháng 7 năm 2014  mới được hạ thủy ra biển lần thứ nhất, trễ hai năm  so với dự tính. Hội Hermione-La Fayette tận dụng nhiều phương cách thương mại để gom tiền đóng thuyền như thâu  phí  tham quan nơi đóng thuyền, bán các sản phẩm như quần áo mang tên Hermione, sách vở, quà lưu niệm, thâu phí hội viên (25€/người/năm), bán một chữ ký trên cánh buồm 10€…, đến năm  2011  đã có hơn 250.000  người đến thăm công xưởng Hermione.

Tôi đến tận nơi, cảng Rochefort bên bờ biển Đại Tây Dương để thăm công việc đóng chiến thuyền Hermione theo mẫu xưa. Chương trình tham quan đặc biệt cho vào tận lòng  thuyền để xem xét, trong lúc các thợ đang làm việc. Thuyền có ba tầng, lúc tôi đến thì còn  thấy cả vỏ thuyền, chưa có khép đáy, đáy thuyền là một công trình nghệ thuật bằng gỗ  đẹp  tuyệt diệu .

Biếm họa dí dỏm gà và vịt là đầu bếp trên chiến thuyền ngày xưa, dễ di chuyển, dễ nuôi và dễ ăn thịt. Photo: MTT

Điều thú vị là trên thuyền, mọi người đều phải giăng võng nằm ngủ trong tầng dưới boong thuyền, chỉ có hai sĩ quan chỉ huy và một thượng khách là có « phòng riêng » ở phần phía sau thuyền. Gọi là « phòng riêng » nhưng thật ra đó chỉ là một cái giường rất hẹp,  rộng  bằng chiều ngang của một người, có cửa đóng kín như một cái hộp gỗ. Nhà vệ sinh cho  mọi người nằm ngay ở mũi thuyền, còn cho sĩ quan chỉ huy thì ở mạn thuyền phía sau,  thật ra chỉ là một cái lỗ mà bên dưới là mặt biển. Trên boong thuyền phía sau, đúng như  mẫu cũ, là một cái  chuồng gà nuôi gà đẻ lấy trứng. Chỉ có sĩ quan chỉ huy mới được  ăn trứng gà và thịt gà tươi.

Chiến thuyền trôi nổi theo sóng biển, nhồi lên nhồi xuống, lại còn phải nằm võng đong  đưa, thì người đi thuyền phải có sức chịu đựng rất lớn.  Thuyền Hermione mới còn có gắn hai máy thuyền theo yêu cầu bảo đảm an toàn hiện đại.

Công xưởng la Corderie Royale đã được tu sửa lại rất đẹp, hoành tráng, tại đây, khách tham  quan sẽ được xem biểu diễn cách làm dây thừng, làm buồm, may buồm… cho tàu thuyền.  Nghệ nhân biểu diễn xe giây thừng có cả những bà cụ tám mươi tuổi, đã học và lao động  theo lề lối truyền thống  xưa.

Hội Hermione-La Fayette dự tính sẽ tổ chức một chuyến vượt biển Đại Tây Dương như  xưa với thuyền Hermione sau khi hạ thủy, thủy thủ đoàn sẽ là người của Hải quân Pháp, còn người tham dự thì sẽ được bốc thăm vì có quá nhiều ghi danh.  Tuy không thể so sánh hai công việc đóng cùng một mẫu thuyền với nhau, vì điều kiện  thực  hiện quá khác biệt, nhưng thí dụ này cho thấy rằng, ngành kỹ thuật đóng thuyền  vào thế kỷ thứ mười tám tại Pháp đã phát triển rất mạnh. Họ làm việc nhanh chóng  dù là mọi công việc  đều bằng tay chân, thủ công, vì ngoài sự xử dụng công  sức của thợ các ngành nghề chuyên môn, họ sử dụng tù nhân trong những công việc phục dịch  rất nặng nề, không những không được trả công, mà tù nhân lao dịch đuối sức chết thì bỏ, thay thế bằng tù  nhân khác.  Mỗi khi hạ thủy thuyền xuống nước họ dùng tù nhân để làm vật cản dưới  đáy   thuyền, khi cắt dây thả thuyền, chiến thuyền nặng cả ngàn tấn tuột trong nháy mắt  xuống  nước đè chết dí những người tù nhân dùng làm vật cản ngay tại chỗ, không một ai  tiếc thương.

Nhà ga xe lửa cảng biển Rochefort. Photo: MTT

Ngày 18 tháng 4 năm 2015 chiếc Hermione lên đường viếng thăm nước Mỹ, đi lại chặng  đường lịch sử của hầu tước La Fayette và trở về bến chính Rochefort hơn 5 tháng sau, ngày 29.08.2015.

Năm 2018 Hermione đã đi một hành trình ngắn trong vùng biển Đại Tây Dương và Địa  Trung Hải.

Ước mơ của những người tích cực trong hội Hermione-La Fayette đã thành sự thật sau 17 năm kiên trì, còn  mình thì mơ ước phải chi mình đóng lại được một  chiếc chiến thuyền của chúa Nguyễn.

MTT, kỷ niệm ngày 11.11.2011, bổ xung 7.10.2018

 

Chiến thuyền Hermione được tiếp đón và hộ tống bởi chiến hạm USS-Mitscher khi vừa đến bên kia bờ Đại Tây Dương nước Mỹ

Chú thích :

* Trích Dấu xưa – Tản mạn lịch sử nhà Nguyễn, chương I, xuất bản tại Pháp, 2010

1) Vua Ferdinand và nữ hoàng Isabella của Tây Ban Nha đồng ý cung cấp điều kiện cho  Christoph Columbus (1451-1526) lên đường đi tìm Ấn Độ. Ngày 12 tháng 10 năm 1492 đoàn  thuyền của Columbus cập bờ biển một hòn đảo mang tên Guanahani, hiện nay thuộc Bahama, tiếp theo đó  Columbus khám phá ra Cuba và Hispaniola  (ngày nay là Haiti và Republique Dominique)  thuộc châu Mỹ, nhưng cho đến ngày cuối cùng củacuộc đời, Columbus vẫn tin chắc rằng đã  đến châu Á, cũng không ngờ rằng, cùng với sự khám phá châu Mỹ của ông, một thời đại mới  đã được mở ra, thời đại của chính sách đế quốc thuộc địa, mà các nhà sử học cho rằng, thời  đại này mới được chấm dứt bởi trận Đại chiến thứ hai năm 1945, cách chúng ta không lâu.  Cuối cùng, châu Mỹ – America – mang tên của Amerigo Vespucci (1454-1512), một thương  nhân người Ý đại lợi (Florence) đã viết một bài cho rằng vùng đất mới thám hiểm ra ấy là  một lục địa riêng biệt. Tên America được hainhà thiên văn học người Đức tên là Martin  Waldseemüller và Matthias Ringmann đặt ra khi vẽ bản đồ thế giới năm 1507.

2) Năm 1518 Ferdinand Magellan (Bồ Đào Nha) nhất định lên đường tìm cho ra hòn đảo có  đinh hương, một loại gia vị quý hơn vàng ngọc châu báu. Sau hơn một năm lênh đênh trên  biển,cùng với đoàn thuyền năm chiếc Magellan đi dọc vùng biển châu Mỹ la tinh xuống tận  mũi phía nam vào ngày 28.11.1520. Nhưng cũng nhưtrường hợp của Columbus, vì một sự  nhầm lẫn trong cách tính đường đi, Magellan tình cờ lọt vào vùng biển Thái bình dương, đặt  chân lên  vùng quần đảoPhi luật tân, nơi ông muốn đến.  Đoàn thuyền năm chiếc của Ferdinand Magellan mang tên Trinidad, San Antonio, Concepción, Victoria và  Santiago lúc khởi hành đem theo rất nhiều lương thựcdự trữ: hơn 10 tấn bánh mì khô, gần 6  tấn thịt muối, 200 thùng cá mòi, 984 bánh phómát, 253thùng rượu, hành, tỏi, bột, đậu khô  các loại và gạo, vũ khí: 50 cây súng, 1.000 cây dáo, 200 cây dùi, và hàng hóa để trao đổi lấy  đinh hương: 20.000 giây và chuông nhỏ, 900 tấm gương nhỏ, 5.000con dao, kéo, đồ trang  sức phụ nữ bằng đồng và 40 bao tải đựng hạt thủy tinh  tròn. Tuy thế, khi  chưa đến được bờ biển Phi luật tân, cạn lương thực, mọi người phải ăn mọt gỗ và chuột trên thuyền để sống sót.

3) Chúa Nguyễn Phúc Thuần, xưng là Định Vương, miếu hiệu là Duệ Tông, chỉ thọ có 24 tuổi  (1754-1777), là con của Võ vương Nguyễn Phúc Khoát và công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Cầu, bị quân nhà Tây Sơn bắt và giết chết. 

4) Vua Louis XVI, 1754-1793, lên ngôi năm 1774 lúc hai mươi tuổi, bị chặt đầu bởi Cách mạng dân chủ Pháp tại quảng trường La Concorde,Paris, vào ngày21.01.1793, trị vì được mười tám  năm.

5) Trích Nguyễn Thanh Lợi, Ghe bầu miền Trung, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển – Sở Công  nghệ Thừa Thiên-Huế số 2(67)/2008 

Chùa Keo Thái Bình

5. octobre 2018

Chùa Keo Thái Bình – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2018

Về Thái Bình mà không ghé thăm Chùa Keo là rất uổng phí cho chuyến đi. Tôi lại thích đi chùa những khi chùa vắng vẻ, không vào những ngày lễ, tết, đông người chộn rộn, nói cười ồn ào. Cảnh chùa tĩnh mịch yên ắng mới thấy hết vẻ đẹp của chùa – vốn là nơi chốn trang nghiêm thoát tục – lồng trong khung cảnh chung quanh. Những chùa lộng lẫy quá thì chẳng hấp dẫn được chân tôi.

Chùa khác nhà thờ nhiều lắm, nhất là những ngôi chùa cổ. Kiến trúc của nhà thờ vươn lên cao, bề thế, lộng lẫy. Kiến trúc của chùa trải dài trải rộng, ẩn nấp sau những lùm cây tán lá, nếu chùa có tháp chuông thì không cao bằng tháp chuông nhà thờ. Nhà thờ xây bằng gạch, đá, chùa cất bằng gỗ, vôi vữa, rơm rạ, ngói đỏ. Nhà thờ thường được xây dựng giữa làng giữa chợ đông đúc người qua lại, tiện đường tiện xá, chùa ở nơi hẻo lánh xa chốn phồn vinh lợi lộc gần với thiên nhiên bao bọc.

Chùa Keo là một ngôi chùa cổ từ thế kỷ thứ 17, đã tồn tại trải qua 400 năm, và có một tháp chuông độc đáo. Khung cảnh chùa Keo đúng với trí tưởng tượng của tôi, nằm giữa không gian rộng lớn xanh rì của làng quê miền Bắc, có quán nước đầu chùa, có đường đê trẻ em tan học đạp xe về nhà, có đàn vịt trắng bơi lội tung tăng bì bõm trên ao, có hồ bán nguyệt, có sân rộng…như trong văn thơ người Việt.

Đường làng vào chùa Keo với quán nước

Nơi tôi đến thăm là chùa Keo (Thượng) nằm ở xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình. Có chùa Keo Thượng, tên chữ là Thần Quang tự, thì tất nhiên có chùa Keo Hạ, tên chữ là chùa Hành Thiện tự, nằm ở xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định.

Tương truyền chùa Keo do thiền sư Không Lộ Nguyễn Minh Không xây dựng từ năm 1062 dưới thời vua Lý Thánh Tông ở hương Giao Thủy, phủ Hà Thanh nay thuộc về tỉnh Nam Định, đặt tên là Nghiêm Quang tự. Chùa nằm bên sông Hồng, nên năm trăm năm sau, năm 1611 bị trận lụt lớn, nước sông Hồng lên cao, dân làng Giao Thủy tản cư làm hai nhánh, một về Nam Định, một qua Thái Bình, mỗi nhánh lập ra một chùa Keo của làng mới, dân bên tả ngạn sông Hồng lập ra làng Dũng Nhuệ và chùa Keo thượng trên đất Thái Bình. Kiến trúc cả hai chùa chính đều giống nhau là chùa anh em.

Chùa Keo Thái Bình được xây dựng năm 1630 và hoàn thành xong 1632, đến nay đã được gần 400 năm, hoàn toàn bằng gỗ, lợp ngói và đã được trùng tu nhiều lần. Trong sân chùa là hai cột cờ bằng gỗ, cao, cờ bay phất phới trong gió mùa đông, bởi vì tôi về chùa vào giữa tháng mười một, tiết trời mù mù âm u.

Cảnh chùa Keo

Điểm đặc biệt của chùa Keo Thượng là có lầu chuông ba tầng vuông vắn bằng gỗ lim, lợp ngói đỏ, chạm trỗ rất công phu bởi các nghệ nhân điêu khắc gỗ thời Hậu Lê, cao 11,04 mét, có 3 tầng mái, kết cấu theo hình dáng hoa sen, ở tầng hai treo quả chuông đồng cao 1,30 m, đường kính 1m đúc năm 1686, hai quả chuông khác nhỏ hơn cao 0,62 mét, đường kính 0,69 mét treo ở tầng ba và tầng thượng được đúc năm 1786.

Chùa Keo có một diện tích kiến trúc rộng khoảng 58.000 mét vuông, gồm nhiều cụm nhà thấp, hiện nay còn lại 17 công trình. Hai bên chùa chính là hai gian hành lang dài tới 24 gian, rất ấn tượng, để cho khách hành hương sửa soạn sắm lễ vào chùa lễ Phật và lễ Thánh. Đôi cánh cửa chùa chạm rồng cũng bằng gỗ lim là một tuyệt tác kiến trúc thời Hậu Lê. Đời nay, một bộ cánh cửa nhỏ bằng gỗ lim chạm trỗ bình thường giá 200 triệu đồng là còn rẻ.

Vườn cây trước chủa Keo

Chùa Keo gồm có ba nhà nối vào nhau, nhà trong cùng thờ Phật, cả chùa có hơn 100 pho tượng cổ bằng gỗ sơn son thếp vàng rất tinh xảo, khuôn mặt diễn tả linh động. Thiết kế trong một ngôi chùa bằng gỗ như chùa Keo vừa tinh tế, vững chãi lại vừa giản đơn, các tượng thờ chỉ được đặt ngay ngắn trên bàn thờ, trên bệ riêng, khách tham quan có thể ngắm nhìn tất cả kèo cột xà khung bằng gỗ lim và mái ngói từ bên trong.

Chùa không có một bóng người, nhưng trong nhà ngoài ngõ đều rất sạch sẽ, không có rác rưởi ngổn ngang, trong chùa mọi thứ đều ngăn nắp, không có lấy một mạng nhện, một tí bụi.

Ở một bề thế như vậy, chứng tỏ chùa Keo là một nơi tôn giáo quan trọng trong quá khứ, ở những thế kỷ trước. Bây giờ, ngày mồng 4 tháng giêng âm lịch dân làng Keo mở hội xuân ngay trong khuôn viên chùa, lại còn có hội thu vào tháng chín âm lịch.

Về thăm chùa Keo, tôi rất ấn tượng bởi khung cảnh tĩnh mịch thơ mộng êm đềm thanh bình của làng quê miền Bắc, chưa bị bê tông vây kín chung quanh. Vào đây mà trút bỏ hết những mê muội trần tục, những giây phút tĩnh tâm.

Nhìn quán nước bên đường vào chùa, có những lon nước của thời hiện đại, nhưng vẫn còn ấm chè khi xưa. Tôi tiếc là đã thăm chùa vội vội vàng vàng, còn những chỗ khác phải đi, thầm hẹn chùa sẽ trở lại lần nữa. Chùa Keo Thái Bình xứng đáng là di tích quốc gia, phải được bảo tồn cho các đời sau. MTT

Tháp chuông chùa Keo

Chùa Keo

Chùa Keo gồm ba công trình hợp lại, chùa sau cùng thờ Phật

Cảnh chùa vắng vẻ, tĩnh mịch. Phía xa là hành lang dài 25 gian, lợp ngói đỏ

Các pho tượng cổ bằng gỗ chạm khắc rất tinh xảo và linh động

Tượng được tạc trong một tư thế rất tự nhiên

Một tác phẩm nghệ thuật gỗ của thời Hậu Lê, cách đây đã gần 400 năm

Trong chùa có cả sư nữ

Bàn thờ Phật

Bàn thờ vua quan

Trợ cấp xã hội ở Pháp năm 2018

7. septembre 2018

Trợ cấp xã hội ở Pháp năm 2018 – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2018

Nếu tin rằng ai ở một cường quốc châu Âu như Pháp đều giầu có thì đó chỉ là một ảo tưởng. Trên thực tế quốc gia nào cũng có kẻ giầu người nghèo.

Người ta có thể nghèo hoặc nghèo đi vì thiếu may mắn trong cuộc đời mà điều kiện của bản thân không cho phép, không nói đến những bất công của xã hội là những yếu tố bên ngoài để tạo nền tảng cho một sự bình đẳng thật sự, thí dụ như qua giáo dục chẳng hạn. Do đó, những bất công đã có khi một đứa trẻ được sinh ra. Những tấm gương phấn đấu đổi đời, đổi số phận có nhưng mà hiếm so với số đông.

Tại một quốc gia đã phát triển về khoa học kỹ thuật như Pháp hiện nay thì sự học vấn là tiền đề cho sự phát triển của bản thân. Làm cái gì cũng phải có bằng cấp chuyên môn. Giai đoạn sau chiến tranh, không có thời gian cho giáo dục, bởi thế ai biết gì thì làm cái ấy của thế hệ sinh năm 40-50, không cần bằng cấp đã qua rồi. Bây giờ việc đơn giản như cắt tóc, làm bánh mì cũng phải có bằng cấp. Những người trẻ chán nản đến trường và không chịu học hành là những người chịu thiệt thòi nhất trong xã hội. Những công việc chân tay đơn giản trong các xí nghiệp dần dần bị tự động hóa, không cần lao động của con người nữa.

Với đà phát triển toàn cầu hóa, đạo quân thất nghiệp tăng lên nếu họ vì lý do nào đó không thể kịp đổi nghề được. Trong quá trình toàn cầu hóa, người quan sát thấy rõ sự phân chia xã hội thành hai cấp bậc thượng tầng và hạ tầng rõ rệt, tầng lớp trung lưu đang dần tan biến. Người nghèo ngày càng cảm thấy mình bị xã hội đào thải.

Thí dụ xe hơi: ngày nay người ta khuyến khích mua xe mới (mà phải có điều kiện cần và đủ là có tiền mới mua được !), xe hư, thợ chuyên môn sửa xe thiếu thốn, không có đồ phụ tùng thay, chính phủ lại xiết luật môi trường cho xe cũ (độ phế thải khí độc) xe bị hạn chế chạy trong thành phố…thì người nghèo có đâu ra mà mua/đổi xe mới, trong khi cần cái xe vào thành phố để đi làm !

Thậm chí trong một thống kê về mức độ hài lòng với cuộc sống thì tám trong mười nhân viên cao cấp tại Paris không muốn làm việc và sống tại Paris nữa vì nhiều lý do: nhà ở quá đắt đỏ, mức sinh hoạt quá cao, thời gian di chuyển quá lâu, hai vợ chồng phải có địa vị kiếm tiền tương xứng trên dưới 10.000 euros mới đủ sống, đồng thời đẻ ra một nghề mới đổi với xã hội Pháp, nghề vú em ban đêm, để cho hai vợ chồng có thể ngủ thẳng giấc để sáng hôm sau có sức mà làm việc.

Những nghề về phục vụ con người thì thường là tại chỗ, không thể « dời » đi được (delocalisation), cho nên xu hướng có khả năng phát triển như các nghề nghiệp phục vụ cho quý bà quý ông (cắt tóc, làm móng tay móng chân, cạo râu, thẩm mỹ nhân tạo, làm bếp, phụ việc nhà, vú em, quản gia, giao đồ, đưa đón trẻ em, trông nhà, làm vườn…). Nhưng cho dù con số công việc làm không di dời được, khả năng cạnh tranh của những nước xuất khẩu lao động để làm những công việc hạ tầng này lại lớn.

Nói tóm lại, những công việc « giải phóng » thượng tầng để cho hạ tầng « giải quyết ». Còn mọi thứ về kỹ thuật: xài một lúc thì vất bỏ mua cái mới, đó chính là cái đích của xã hội tiêu thụ.

Trong xã hội tiêu thụ hiện nay, nếu người ta không « mua », không có tiêu thụ, thì nền kinh tế sẽ xuống dốc, khủng hoảng. Cái thời mà bóng đèn điện cháy cả mười năm vẫn sáng đã bị chấm dứt, hiện nay họ sản xuất ra bóng đèn chỉ xài được có mười tháng họa may là chết ngắc, phải mua cái mới.

Điều này chứng tỏ, mọi phản ứng chính trị về môi trường chỉ là nói dóc, đánh lừa dư luận cho vui, vì bảo vệ môi trường thì đi ngược với mục đích của xã hội tiêu thụ, chỉ tiêu: phải bán, phải mua, phải xài, phải vất bó.

Mới đây dư luận xôn xao về nhà thời trang Burberry của nước Anh bị lộ trong báo cáo của năm 2017/18 đã đốt cháy hàng hóa trị giá 32 tỷ euros, để khỏi phải bán giảm giá hàng hóa, sợ mất giá trị thương hiệu. Tờ báo Fortune tính ra là trong năm năm đã qua Burberry đã tiêu hủy cả trăm triệu euros hàng hóa không có người mua.

Tại Pháp, riêng lẻ có chủ ra lệnh cho nhân viên phải đổ xăng dầu lên thực phẩm khi vất đi như thịt, rau quả quá hạn để bán, để cho người khác không lượm về ăn được.

Trong sự bàn luận về trợ cấp xã hội sắp tới, mà theo cách phát ngôn có vẻ « diễu cợt » của tổng thống Macron là « tốn rất nhiều tiền bạc » (coutent un pognon de dingue), bộ Y Tế Pháp đưa ra những con số « chính thức » thống kê 2018 mới nhất đáng chú ý sau đây để tổng thống quyết định về chương trình « xóa đói giảm nghèo » của Pháp:

1. 8,9 triệu người dân Pháp sống dưới mức nghèo đói ( tức là 14,2 % dân số ). Những người nói trên có dưới 1.015 euros một tháng để sống.

2. Trợ cấp xã hội giúp cho con số người nghèo ở mức 14,3%, nếu không có nó thì sẽ tăng lên thành 22,4%, gần 1/4 dân số Pháp. Những thành phần được đặc biệt trợ cấp gồm có những gia đinh đơn lẻ một mẹ có ít nhất hai con, người trẻ dưới 20 tuổi, và người tật nguyền.

3. Người độc thân không có việc làm nhận trợ cấp 760 euros. Người có lương tối thiểu 1.152 euros/tháng được trợ cấp thêm 156 euros, như vậy thu nhập hàng tháng của người ấy được tăng lên thành 1.307 euros/tháng.

4. 4,15 triệu người nhận trợ cấp xã hội tối thiểu vì lý do già cả, thất nghiệp, bệnh tật…. Cộng thêm với những thân nhân cùng sống chung với những người này thì con số lên tới 7 triệu người, tức là 11% dân số Pháp phải sống với trợ cấp xã hội tối thiểu.

5. Cuối năm 2015, số người nhận trợ cấp xã hội dù đang có công việc làm như hợp đồng ngắn hạn và dài hạn, hợp đồng được giúp đỡ, hợp đồng làm việc giờ là 12%.

6. 20 % số người nhận trợ cấp thất nghiệp đã 10 năm. Ít nhất cũng có 49% đã nhận trợ cấp thất nghiệp từ 4 năm rồi.

Tại cơ quan Lao động, sở hỗ trợ tìm việc làm và trợ cấp thất nghiệp:  » Tất nhiên chú mày không có lấy một chút xíu nào may mắn cả ! Nhưng chúng tôi muốn thấy – đồ chết tiệt – là chú mày có cố gắng ! « 

Những con số nói trên là con số « chính thức » đã được « làm đẹp » cho chính phủ đương nhiệm, lại dựa vào thống kê của năm 2015 nên tình hình thực tế của năm 2018/2019 không phản ánh được. So sánh các con số thống kê của những thời điểm khác nhau và dựa trên những sự phân tích khác nhau thí dụ như là đứng về mặt dự án, kế hoạch hay là tổng kết, hoặc đứng trên bình diện kinh tế, chính trị hay xã hội là một điều khập khiễng, tuy nhiên không thể tránh khỏi.

Trên nguyên tắc, các chính phủ của một xã hội dân chủ và bình đẳng phải thực hiện nghĩa vụ « tái phân phối » lại cho những người kém may mắn, bị xã hội tiêu thụ đào thải vì bất cứ lý do gì vì con người sinh sống trên một đất nước, một lãnh thổ quốc gia có  » quyền được sống  » dù là ở mức tối thiểu so với giá sinh hoạt của quốc gia đó. Chính phủ một cường quốc giầu có, xa xỉ, mức thâu thuế cao nhất châu Âu như nước Pháp lại càng không thể để cho dân chết vì đói, vì lạnh, cùng quẫn tự tử.

Nhưng, ngân sách nước Pháp chỉ dành có 2% PIB cho trợ cấp xã hội, tính vào đây cả luôn là những chi phí về nhân sự, vật liệu cho bộ máy quản lý hành chính xã hội, và cả những « hành động nhân đạo » như cứu người ty nạn chẳng hạn

Vì thế, người ta tức giận khi một chuyến bay công vụ từ Tokyo-Paris của thủ tướng Pháp Edouard Philippe tốn kém đến 350.000 euros, một chuyến bay nội địa đến vùng Hautes-Alpes tốn 150.000 euros và những xa hoa phung phí khác của chính quyền.

PIB (produit intérieur brut) của Pháp là 2.291,7 tỷ euros trong năm 2017. Từ năm 2008 đến 2014 thì con số tiền dành cho trợ cấp xã hội lên từ 17,3 tỷ euros thành 24,8 tỷ euros. Một phần ít ỏi, chỉ độ hơn 1% PIB. Nhìn tổng thể thì người ta hiểu được cái phát ngôn « một đống tiền » của tổng thống.

Trong khi đó, trên bình diện kinh tế thì người ta lại tính rằng cho người nghèo một đồng thì họ xài hết một đồng, không để dành được đồng nào cả, có nghĩa là người nghèo tiêu thụ nhanh hơn, vòng quay của tiền nhanh hơn, số tiền phát ra lại trở về nền kinh tế.

Theo thống kê chính thức của năm 2018 thì dự tính khối lượng thu thuế của Pháp lên đến 404 tỷ euros. Con số này được phân chia ra các loại thuế như sau:

  • Thuế giá trị thặng dư (TVA) là loại thuế gián thu đánh trên bất kỳ một tiêu thụ nào của dân chúng chiếm 152,8 tỷ euros (52,9 % tổng số thuế thu được)

  • Thuế thu nhập (IR) là loại thuế đánh trên lương bổng của người đang có công ăn việc làm lẫn người lãnh lương hưu trí chiếm 72,7 tỷ euros (25,2 % tổng số thuế thu được)

  • Thuế công ty (IS) là loại thuế đánh trên lợi nhuận sau khi đã trừ hết tốn phí của các công ty chiếm 25,3 tỷ euros (8,8 % tổng số thuế thu được)

  • Thuế tiêu thụ các sản phẩm dầu hỏa (TICPE) đánh thêm trên sự tiêu thụ các loại xăng, dầu xe, dầu sưởi …của dân chúng chiếm 13,3 tỷ euros (5,6 % tổng số thuế thu được). Chỉ riêng mức thuế này đã làm cho giá xăng dầu tăng lên gấp đôi.

  • Các loại thuế khác như thuế tài sản nhà giầu, thuế tem, thuế rượu, thuế thuốc lá, thuế thừa kế tài sản, thuế cho tặng tài sản….:  chiếm 24,6 tỷ euros (8,5 % tổng số thuế thu được)

Một bài báo của Le Monde ngày 21.12.2017 thì cho một con số khác về ngân sách, tức là mức chi tiêu, sau khi các dân biểu đã biểu quyết chấp thuận cùng ngày là ngân sách của Pháp của năm 2018 sẽ đạt mức 711 tỷ euros.

Trong con số này thì ngân sách dành cho giáo dục là lớn nhất vởi 72 tỷ euros cộng thêm với 28 tỷ cho nghiên cứu, kế đến là quốc phòng an ninh 63 tỷ euros, lương hưu cho công chức các ngạch và dân thường chiếm 58 tỷ euros, trả nợ công 42 tỷ euros, đóng góp cho Liên minh châu Âu 20 tỷ euros, trợ cấp xã hội và thất nghiệp 20 tỷ euros, môi trường 18 tỷ euros, nhà ở và thành phố 17 tỷ euros, lao động 15 tỷ euros và các khoản chi tiêu khác như ngân sách nông nghiệp, văn hóa, kinh tế, thể thao, đặc biệt ngân sách dành cho người tỵ nạn, nhập cư được dự tính với 1,38 tỷ euros.

Tựu chung những con số do báo Le Monde đưa ra phù hợp với những con số thống kê về chi tiêu cho trợ cấp xã hội của chính phủ trong những năm trước, tức là khoảng 24/25 tỷ euros. Nếu so sánh trên bình diện ngân sách thì con số dành cho trợ cấp xã hội các thứ chỉ tốn kém khoảng 4% ngân sách quốc gia. Một con số rất khiêm nhường để nuôi sống cả 25% dân số.

Đầu có một hạt sạn: Người di tản

Hành chính Pháp, thì còn hơn là hành là chính, phải nộp đủ thứ giấy tờ trong đơn xin trợ cấp, rồi kiểm soát nghiêm ngặt tiếp theo, không phải là dễ. Người nghèo cùng quẫn quá « lừa đảo » 400/500 € trợ cấp xã hội thì bị truy nã cho đến cùng, trong khi ông lớn ăn tiền triệu xong rồi chùi mép thì chẳng sao. Nhiều gia đình cứ đến khoảng ngày thứ 20 thì hết tiền, phải ăn khoai tây chấm muối mà sống. Thế mà họ càng nghèo thì lại càng che dấu cái nghèo của mình trong mặc cảm.

Không phải thất nghiệp « ăn » xã hội là « sướng » mà thất nghiệp luôn mang đến một sự đau khổ tinh thần, mặc cảm nhất là chung quanh mình người ta nhớn nhơ ăn chơi, xài tiền như không hề thiếu thốn. Thế mà các thế lực chính trị cứ thích đánh lên đầu những người mang tiếng là « ăn bám xã hội, tỵ nạn, nhập cư » những khi cần thiết để nổi lên.

Mùa thu 2018 và đầu xuân 2019 hứa hẹn nhiều thay đổi xâu xa trên hạ tầng cơ sở nước Pháp, người lãnh lương hưu bị bóp chắt cực kỳ, dự án cắt giảm lương hưu của người góa, mà đa số là phụ nữ góa chồng được lãnh 50% lương hưu của chồng, đang được ấp trứng, dự án thâu thuế thu nhập trực tiếp của toàn thể dân chúng được quyết định thực hiện vào tháng 1/2019, nhiều hồ sơ bí ẩn như vụ Benalla còn đang trong vòng tiếp diễn. Theo thông tin của báo chí Pháp cho đến nay thì vụ Benalla có nhiều mờ ám, Benalla là một cận vệ thân tín của tổng thống Pháp, có mức lương căn bản chính thức là 10.000 euros/tháng, có xe công vụ, có nhà ở công vụ tại trung tâm thủ đô Paris, ông ta bị tố cáo là lạm quyền, vô phép tắc đánh người biểu tình. Người ta ngày càng có cảm tưởng là những người lèo lái xã hội Pháp đang đi con đường « chắt dưới, nâng trên », cho đến lúc nào thì không chắt được nữa ? MTT