Aller au contenu principal

Trí nhớ ngắn

24. avril 2022

Trí nhớ ngắn – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2022

Nếu đổ thừa tại vì bởi thời tiết xấu mưa gió lạnh tuyết rơi người dân trốn nấp trong ấm áp không chịu đi bầu cử thì hôm nay ở vùng phía Bắc của Paris trời lại nắng đẹp, gió nhẹ hây hây, nhiệt độ lên cao 15°, dân chúng mải mê hóng nắng mùa xuân đi chơi cũng không chịu đi bầu cử tổng thống vòng một. Bầu làm chi, sắp đặt cả rồi, phe thắng phe thua đều biết.

Lại một lần nữa cuộc đối đầu Le Pen-Macron, và bà Le Pen lại thua. Đó là bản nhạc bi đát của những lần bầu cử tổng thống Pháp. Có phải dân chúng Pháp cầu an thân an phận, ban ngày chạy lo cơm áo gạo tiền, ban đêm ngồi trước cái ti vi lải nhải suốt ngày tuyên truyền theo lệnh của chủ, họ thiếu tha thiết đến vấn đề chính chị chính em, đến vận mệnh dân tộc, đến hòa bình và chiến tranh, chỉ lo sống qua ngày, lo cho cái nồi cơm của bản thân mình, gia đình mình mà chấp nhận mọi sự cai trị, quản lý, dẫn dắt, dù ai lên cũng thế ? Người ta trách móc nhẹ nhàng: dân Pháp có trí nhớ ngắn ! Nếu thế thì buồn quá.

Dân Pháp ? Thực ra cuộc bầu cử tùy thuộc vào tất cả công dân Pháp, có quốc tịch Pháp, được quyền bầu cử, gồm tất cả các thành phần ở các đảo của Pháp, thành phần sinh sống ở nước ngoài, thành phần lục địa với đủ mọi mầu da và tiếng nói.

Dân số nước Pháp theo thống kê năm 2021 gồm có 67,6 triệu người, kể cả luôn thành phần nhập cư tổng cộng gồm có 7 triệu người chiếm 10,3 % tổng dân số. Trong 7 triệu người nhập cư gồm có 2,5 triệu đã được nhập quốc tịch Pháp, 4,5 triệu người nhập cư có quốc tịch nước ngoài và 0,8 triệu trẻ em của người nhập cư sinh đẻ trên đất Pháp.

Tính về gốc tích thì có 47,5% đến từ châu Phi, 32,2% đến từ các nước châu Âu khác, 14,4% đến từ châu Á và 5,8% đến từ châu Mỹ và các lục địa khác. Riêng người Việt Nam, có hay không có quốc tịch Pháp, vẫn được xếp loại là người nhập cư, chiếm tỷ lệ 1,1% (thống kê Insee 2020) trong số 7 triệu người nhập cư này. Phương cách để có quốc tịch Pháp tốt nhất vẫn là hôn nhân với người Pháp hay người đã có quốc tịch Pháp, hoặc có ít nhất một đứa con sinh đẻ trên đất Pháp.

Chủ đề về nhập cư-di tản là một trong những chủ đề nóng bỏng, chính yếu, được khai thác vì những vấn đề liên quan như tôn giáo, khủng bố, bạo lực, ngôn ngũ, bình đẳng nam nữ … trong lòng xã hội Pháp.

Đến 17 giờ chiều con số cử tri đi bầu, trời vẫn nắng đẹp, nhiệt độ vẫn cao, chiếm tỷ lệ khoảng 65%, thua năm 2017 là 69,4% những 4,4%. Cử tri Pháp năm 2022 gồm có 47.311.876 người/phiếu bầu theo thống kê hiện tại của bộ Nội vụ Pháp. Trong số này có 11.892.648 không tham gia bầu cử, chiếm tỷ lệ 25,14%, tức là hơn 1/4 người được quyền bầu cử. Con số đi bầu là 35.419.228 người, tức 74,86% trên tổng số cử tri.

Đúng 20.00 giờ ngày 10.4.2022 truyền thông Pháp công bố kết quả bầu cử không nằm ngoài dự đoán, hai ứng cử viên Macron với 27,6% và Le Pen với 23 % dẫn đầu kết quả vòng 1 cuộc bầu cử tổng thống Pháp và sẽ vào vòng 2 quyết định.

Cánh tả với ông Jean-Luc Melenchon được 22,2 % số phiếu, xít xao với bà Le Pen. Người mới xuất hiện trong lần bầu cử này ông Eric Zemmour thuộc phái cực hữu được 7,2 % số phiếu. Đảng Xanh với ứng cử viên Yannick Jadot chỉ được 4,7 % và đảng cánh hữu/trung lập LR của bà Valérie Pécresse cũng thất bại, không vượt nổi 4,8%. Nhưng đảng Xã hội không ghìm được con đường đi xuống dốc của mình, bà Anne Hidalgo chỉ đạt được 1,7 % số phiếu bầu. Là thị trưởng Paris bà Hidalgo bị chỉ trích nhiều với đường lối quản lý thủ đô Paris của mình.

Ngay sau kết quả được công bố, các ứng cử viên Valérie Pécresse (đảng Cộng Hòa), Yannick Jadot (đảng Xanh), Anne Hidalgo (đảng Xã Hội) và cả Fabien Roussel của đảng Cộng sản Pháp, Jean-Luc Mélenchon (cánh tả) kêu gọi bỏ phiếu cho ông Macron chống lại bà Le Pen.

Cuộc chạy đua tay đôi Macron-Le Pen năm 2022 theo sự thăm dò và dự đoán của truyền thông Pháp và châu Âu sẽ đem phần thắng về cho ông Macron như năm 2017. Tóm lại, bản chất của cuộc bầu cử chỉ là « tả-hữu » tranh đua, đi đường vòng rồi lại về chỗ cũ, mặc dù sau năm năm lãnh đạo chính quyền Macron đã trải qua nhiều cuộc khủng hoảng làm rúng động dư luận ở Pháp ( vụ Benalla, người áo vàng, khủng hoảng quản lý y tế dịch Covid19…..) và ông Macron với phong cách cá nhân của mình đã bị chỉ trích nhiều là rất kiêu căng tự phụ, khinh thường dân chúng, nhưng….cử tri Pháp thì có trí nhớ ngắn, điều này cũng giúp cho sự thành công của ông Macron rất nhiều, ngoài sự hỗ trợ của thế lực tài chính.

Còn hai tuần nữa thì dân chúng đi bầu cử vòng 2 tại Pháp. Lần này trước hậu quả của cuộc chiến tranh Nga-Ukraine sẽ đem đến cho tổng thống Pháp có những quyết định chiến lược cho nước Pháp, vì hòa bình hay chiến tranh lan rộng, ngoài những vấn đề thời sự nóng bỏng trong nước như di tản/nhập cư, trật tự/an ninh, tuổi về hưu/lương hưu, năng lượng, y tế, giáo dục, tôn giáo, môi trường…. Thật không phải là một nhiệm vụ dễ dàng !

Cập nhật 24.04.2022

Đêm qua mưa gió bão bùng, sáng nay thức dậy tôi chả phải lo tưới cây, dù mệt mỏi nhưng tôi vẫn sửa soạn để đi với chồng tôi bầu cử tổng thống Pháp nhiệm kỳ năm năm 2022-2027.

Hầu hết tất cả các báo chí lớn tại Pháp đều cho rằng ứng cử viên Macron sẽ thắng cử với 56% số phiếu bầu, trên đà đi lên, bà Marine Le Pen chỉ đạt được 44% số phiếu bầu, trên đà xuống dốc, và thành phần không bầu cử sẽ chiếm kỷ lục hơn những năm trước. Tờ nhật báo Le Figaro đã có những bài bình luận trước về sự thắng cử nhiệm kỳ thứ hai của ông Macron trong số ra cuối tuần. Cuộc tranh luận tay đôi của hai ứng cử viên tổng thống vào tối thứ tư 20.04.2022 vừa qua bị cho là một thất bại lần thứ hai của bà Le Pen, yếu về khả năng tranh luận và thuyết phục cử tri trước một Macron trôi chảy và kiêu ngạo. Ông Macron đã chọn địa điểm Champs de Mars, trước tháp Eiffel để ăn mừng chiến thắng của mình vào tối nay, chủ nhật 24.

Trời sáng sớm còn hơi lành lạnh chúng tôi lên đường đi bầu cử. Nhà quê mùa này rất đẹp, tất cả các loài hoa xuân đều đã nở rộ khoe sắc. Những cây đào nhật, magnolia. lila, hoa tím, arcacia…xen lẫn với những cây táo, cây mận, cây lê, cây cerise….nở rộ những hoa là hoa, mầu hồng, mầu tím, mầu trắng, mầu vàng…tô điểm làng mạc thêm thơ mộng bên cạnh những thảm hoa dầu colza đang nở một mầu vàng rực rỡ.

Xuyên qua nhiều làng mạc, người đi bộ, người đi xe hơi tấp nập đến những điểm có phòng bỏ phiếu thường là nhà hành chánh làng, là một điều hiếm thấy, ngày thường thì chẳng có một con mèo con chó chạy rông ! Người nhà quê thức dậy sớm, nên mới có 8.30 sáng mà phòng bỏ phiếu đã nhộn nhịp người đến làm bổn phận công dân.

Sự chia rẽ trên báo chí bên cực tả và không cực hữu chống lại bên cực hữu và lời kêu gọi của những chính trị gia nhiều đảng phái ở Paris hãy bầu cho Macron để chặn đường cực hữu, làm cho một thành phần lớn dân chúng tức giận, bỗng nhiên thấy mình bị phân loại là « cực hữu ». Có hai nước Pháp chăng ?

Khái niệm « cực hữu/cực tả » thường được đề cập đến những hành động cực đoan và bạo động. Cực hữu là như thế nào ? yêu nước Pháp ? đòi lại tự do là « cực hữu » ? những bác sĩ, y tá, nhân viên y tế còn bị « phạt », bị treo giò mất việc làm vì chính sách y tế củ cà rốt-cái roi-và con lừa, đến hôm nay vẫn chưa được trở về hành nghề….và nhiều lý lẽ chi tiết khác.

Đối với dân tộc Việt Nam việc « yêu nước » vừa là bổn phận, vừa là trách nhiệm, vừa là đạo lý, vừa là đạo đức, vừa là lý tưởng…tất cả gộp lại trong một khái niệm « yêu nước », không lẽ người Việt lại toàn là những người « cực hữu » ?!

Trong bối cảnh chính trị hiện nay của nước Pháp bị chia làm hai cực thì vấn đề phân biệt tả/hữu, cực tả/cực hữu cần phải được nghiên cứu lại, nhất là khi hai đảng truyền thống bên tả, đảng Xã Hội Pháp (les Socialistes), và bên hữu, đảng Những người Cộng Hòa (les Républicains), đang suy sụp rõ ràng qua cuộc bầu cử này vì dân chúng đã mất niềm tin vào những lời hứa hẹn chính trị.

Hứa hẹn với những chương trình, những dự án trước bầu cử là một việc, nhưng hành động cai trị dân chúng sau bầu cử lại là một việc khác. Dân chúng bị đẩy đổ dồn vào một cực, sự chia rẽ giữa thành thị và thôn quê, giữa thành phần « élite » rất giầu có ở Paris và thành phần nghèo cho tới thành phần trung lưu, nhiều người chỉ có khoảng 800 € để sống mỗi tháng nổi rõ gay gắt. Ở Paris những căn hộ đắt đến 2, 3 triệu euros, tiền thuê nhà có thể lên đến 30.000 euros, người sống ở Paris và những thành phố lớn như là sống ở một thế giới khác làm cho nhiều người mơ tưởng ao ước. Bác sĩ ở vùng thôn quê phải từ chối thẳng thừng không nhận bệnh nhân để điều trị, từ lời thề Hypocrate biến thành hành động hypocrite, người có bệnh phải đi xa hàng chục hàng trăm cây số để tìm bác sĩ chữa bệnh.

Nếu cứ tiếp tục cho rằng khoảng 45% dân chúng là « cực hữu » và dùng bạo lực chính quyền để chống lại họ thì không phải là điều khôn ngoan chinh trị và hàn gắn lại sự đoàn kết quốc gia. Mới thấy sức mạnh của truyền thông đại chúng là rất có hiệu quả để thông tin hay đầu độc dân chúng tùy theo sự ủng hộ một chiều của họ, các mạng xã hội không có sức mạnh bằng.

Đến 12 giờ trưa báo chí Pháp thông báo con số tham gia bầu cử đạt 26,4 %, đến 17 giờ đạt 63,23%. Đúng 20 giờ ngày 24.04.2022 truyền thông Pháp loan tin sơ khởi người thắng cử là ông Emmanuell Macron với con số 58% số phiếu bầu ( 18 .779. 809 ) và bà Marine Le Pen đạt 42% số phiếu ( 13. 297. 728 ). Con số cử tri không tham gia bầu cử chiếm 28% ( 13. 656. 109 ) trên tổng số cử tri. So với năm 2017, ông Macron đã đạt được 66,10 % và bà Marine Le Pen đã đạt được 33,8 % thì những con số năm nay cũng đã nói lên được sự thay đổi chính trị trong lòng dân chúng Pháp.

poster_medias_francais_8060-v17-3

Ai sở hữu ai ? Poster về truyền thông Pháp của tờ Le Monde Diplomatique

27227

Tương quan lực lượng cử tri trong vòng 1 bầu cử tổng thống Pháp 2022

33DNDCNEYBG4PIURQ4YG5OSWUE

Tương quan lực lượng cử tri bầu cho ông Macron và bà Marine Le Pen trong vòng 2 ngày 24.04.2022

phpQH8dxn

Photo France Info

Những đoàn tàu biển toàn cầu hóa – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2018

13. avril 2022

Những đoàn tàu biển toàn cầu hóa – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2018

Toàn cầu hóa sẽ không thể thực hiện được nếu không có sự phát triển đi trước của những con tàu biển khổng lồ chở hàng hóa qua lại trên khắp đại dương, nó chính là công cụ mấu chốt chiến lược của toàn cầu hóa, và cùng với sự xuất hiện của những con tàu cargo này đẻ ra một hoạt những ngành nghề dịch vụ cho việc xuất nhập hàng hóa trên khắp các cảng biển quốc tế.

Ngành hàng không cũng có dịch vụ cargo nhưng vì khả năng giới hạn của nó, giá đắt, nên chỉ dùng để chuyên chở và trao đổi những món hàng quý hiếm khi khẩn cấp hay viện trợ nhân đạo, nhiệm vụ chính của nó là chuyên chở người, đóng góp trong việc phát triển du lịch thế giới là một trong những « vũ khí lợi hại mềm » của các nền kinh tế thế giới.

Lịch sử của những con tàu biển đã có từ lâu đời, tại Pháp những khám phá về đường vận chuyển hàng hải đã đi ngược lên 4.500 năm trước Thiên chúa giáng sinh, trong thời đại của Cesar các cảng biển ở vùng Bretagne và vùng vịnh Morbihan nước Pháp đã tấp nập thuyền ra thuyền vào. Thời ấy, họ vận chuyển những bình sứ đựng dầu ăn, ngói làm nhà, những thỏi đồng thỏi chì, thủy tinh, rượu, đồ gốm sứ…Mỗi khi có chiến tranh, những con tàu biển được dùng để chở người.

Những cảng biển vì thế mà trở nên rất giần có và góp phẩn không nhỏ vào việc phát triển những thành phố trong lục địa và phát triển về mặt văn hóa, tiếp xúc vởi thế giới. Người sống ở bến cảng thường cởi mở hơn, lịch lãm hơn vì họ có nhiều giao tiếp.

Lịch sử thế giới cũng đã ghi lại các đoàn thuyền biển đi xâm chiếm thuộc địa xa xôi, chiếm hữu nô lệ, và những trận đánh oai hùng nổi tiếng trên mặt biển.

Cho đến thời đại toản cầu hóa của chúng ta thì vũ khí chiến lược ít còn là súng đạn, mà trước hơn cả súng đạn là hàng hóa và sản xuất hàng hóa, và tài chính, chiếm lĩnh thị trường. Hai thế lực này, sản xuất và tài chính, chi phối xâu xa các nền kinh tế thế giới, có thể nói kể từ khi thỏa hiệp Bretton Woods vào năm 1944 và gần nhất là các hiệp ước thương mại đa quốc gia càng làm cho tiến trình toàn cầu hóa trở nên sâu sắc hơn. Trung quốc đã chẳng được gọi là « phân xưởng sản xuất của thế giới » nếu không có người đông, nhân công rẻ, lại thêm nguyên liệu rẻ, khiến cho giá thành sản xuất rẻ.

Toàn cầu hóa là cơ hội để các nước nghèo, đang phát triển đi lên khi tài chính thế giới tìm kiếm những cơ sở sản xuất rẻ và cạnh tranh nhau để đầu tư sản xuất, làm gia công, hợp đồng hay cung cấp thành phẩm. Ở những nước này, nông dân bỏ ruộng đồng cầy cấy để vào làm công nhân nhà máy không chuyên môn, hoặc được học nghề ngắn hạn. Đặc biệt, một số ngành nghề mũi nhọn được dành cho nhân công nữ như dệt may, da giầy.

Sự gia tăng sản xuất cho thị trường tiêu thụ kéo theo sự phát triển rộng lớn của cả xã hội : các ngành nghề phụ kiện, vận chuyển đường bộ, sửa chữa máy móc, hao mòn, cung cấp nhân lực, giáo dục ngành nghề, giáo dục ngoại ngữ, giáo dục phổ thông, y tế bảo vệ sức khỏe, bảo hiểm vật tư và bảo hiểm xã hội…

Trong khi đó, ở các nước đã phát triển thì tình hình xẩy ra ngược lại vì nền kinh tế còn tổn tại đến sau đại thế chiến thứ hai đã bị thay đổi trầm trọng từ thị trường sản xuất chuyển sang thị trường tiêu thụ là chính, cơ sở sản xuất bị dời đi làm cho số công nhân giảm dần, số người thất nghiệp dài hạn tăng cao. Tầng lớp trung lưu ở các nước phát triển bị phân hóa, một phần trở thành diện nghèo. Hễ có sản xuất (thế giới) thì phải có tiêu thụ, nhưng dân chúng (mảnh thị trường) lại nghèo đi vì thất nghiệp, lại thêm gánh nặng thuế má do chính phủ hiện hành đặt ra, thì lấy đâu ra mà tiêu thụ, đó là một trong những hậu quả của toàn cầu hóa. Dùng sức tiêu thụ của người nhà giầu để bù lấp khoảng trống thiếu thốn đó ?

Nhà báo Eric Zemmour viết trên tờ Le Figaro ngảy 26.01.2018 là « những con số giết người ». Số liệu của Oxfam đưa ra trước thềm hội nghị ở Davos giữa các nhà lãnh đạo các công ty tư nhân hàng đầu là 82% sự giầu có được gặt hái trong năm vừa qua đã lọt vào tay một thiểu số 1% cực kỳ giầu có trên toàn thế giới, nắm chiếm các thị trường. Chính phủ Pháp tiếp tục cứu gỡ tình cảnh nạn thất nghiệp bằng cách « tái phân phối » cho người nghèo mà số tiền để tái phân phối này lấy ra từ…nợ công. Dủ vậy, người dân sống lây lất, buồn bã, trầm cảm…

Nhiều người chống lại toàn cầu hóa vì hoàn cảnh, vì cách nhìn những vấn đề tiêu cực của nó. Đi kèm với hiện tượng toàn cầu hóa từ thập niên 1960 là trên bình diện xã hội hiện tượng phát triển chủ nghĩa cá nhân tuyệt đối, chủ nghĩa hưởng thụ, tiêu thụ… có đất phát triển, kéo theo những hậu quả xã hội đáng nói. Không kể ra ở đây những cuộc chiến tranh đang diễn ra trên thế giới thực chất là vì dầu hỏa, vỉ khí đốt, vì khoáng sản…

Toàn cầu hóa đang vướng vấp nhiều khó khăn khi thực hiện. Chỉ nói riêng về mặt vận chuyển hàng hóa, công cụ quan trọng nhất, nó cũng bị vướng mắc bởi hai yếu tố, đó là thời gian giao hàng từ người bán đến tận tay người mua còn quá lâu và sự thiếu ý thức lao động nghề nghiệp của những con người làm dịch vụ này, quan liêu, máy móc, thiếu sự nhạy bén…trong các công ty vận chuyển.

Hình ảnh những người phu bến cảng, phu bến tàu khuân vác nặng nhọc, lam lũ, lùi dần vào dĩ vãng, giờ đây trên các bến cảng họ làm việc với những phương tiện tin học hiện đại để thông tin, để xếp gỡ, để tải lên tải xuống.

Cho nên, các chính phủ tìm cách gỡ gạc bằng thuế nhập khẩu và một số rào cản bằng những biện pháp hành chánh làm khó cho việc nhập cảng. Ngành quan thuế trở nên rất quan trọng, « mở ra » hay « xiết lại » thì tùy thuộc vào tình hình riêng biệt của mỗi quốc gia, và phát triển tỷ lệ thuận theo cùng với sự phát triển của những đoàn tàu biển vượt đại dương.

Khả năng chuyên chở của cargo được tính bằng TEU (Twenty-foot Equivalent Units) tức là bằng số lượng của công tơ nơ 20 foot (ft) có thể chứa được (một tàu cargo 6.000 TEU có nghĩa là có sức trọng tải an toàn 6.000 công tơ nơ 20 foot ). Một công tơ nơ 20 ft, dài 6,058 mét, rộng 2,439 mét, cao 2,591 mét, có tải trọng tối đa là 30.400 kí lô, công tơ nơ rỗng nặng 2.200 kí lô, tức là tải trọng ròng là 28.200 kí lô.

Số lượng trao đổi hàng hóa trên thế giới được vận chuyển đến 90% bằng đường hàng hải, phần lớn vận chuyển bằng công tơ nơ. Tổng số của chỉ riêng cargo công tơ nơ lên đến 5.072 chiếc có trọng tải là 17,6 triệu TEU (thống kê vào tháng 2014), để thấy con đường hàng hải đặc nghịt những tàu vận chuyển. Kích thước của các công tơ nơ có nhiều cỡ : 20 ft, 40 ft, 48 ft và 52 ft.

Có nhiều loại tàu cargo vận chuyển. Người ta có thể phân biệt loại tàu chở hàng tổng hợp và chở hành khách ; tàu chở công tơ nơ đang phát triển rất mạnh ; tàu tải hàng rời như than, ngũ cốc, hạt, khoáng sản, xi măng, phốt phát, chở dầu, khí gaz ; tàu đông lạnh để chở trái cây, nước trái cây, thịt, cá… ; loại tàu há mồm « Ro-Ro » (Roll-On, Roll-Off) chuyên chở xe hơi…mỗi loại tàu được chế tạo khác nhau.

Những cơ sở đóng tàu cargo nổi tiếng thế giới nằm ở Nam Hàn, Nhật Bản, Trung Quốc, Đan Mạch.

Hiện tại, đã có 7 thế hệ phát triển của tàu biển. Từ năm 2006 người ta đã đóng những chiếc cargo khổng lồ dài 398 mét, rộng 56 mét, sức kéo nước là 16 mét, trọng tải hơn 14.000 TEU.

Ngoài kênh đào Panama ở châu Mỹ, kênh đào Suez ở Ai Cập nối biển Đỏ (Mer Rouge) với biển Địa Trung Hải là một điểm qua quan trọng trên đường từ châu Âu sang châu Á, để tàu biển khỏi phải đi vòng tuốt xuống châu Phi, bọc mũi Cap de Bonne-Ésperance (Mũi Hy vọng), rồi lại đi ngược lên hết chiều dài châu Phi để đến được miền biển Địa Trung Hải của châu Âu, tuyến đường đó rất xa, chứa đựng nhiều nguy hiểm, mất thời gian và rất tốn kém cho việc giao thông hàng hóa.

Trước kia, người ta đóng những con tàu cargo kích thước vừa đủ để qua lọt kênh đào Suez. Kênh Suez, nguyên thủy do Ferdinant de Lesseps khởi công xây dựng và do nữ hoàng Eugenie, vợ của Napoleon III, đi trên chiếc thuyền L`Aigle (Con Ó) khánh thành vào ngày 17.11 năm 1869, đã được nới rộng ra nhiều lần, lần cuối vào năm 2015. Hiện nay đoạn kênh đào từ Port Said (phía Bắc, giáp ranh với biển Địa Trung Hải tới Suez (phía Nam, biển Đỏ) dài 162 km, tàu cargo có sức kéo nước 22,5 có thể qua được, nơi đây là những tuyến chuyển hàng và phân phối quan trọng.

Tháng 6 năm 1967 nước Do Thái chiếm đóng bán đảo Sinai và kênh đào Suez, đóng cửa kênh đào Suez trong suốt tám năm đến tháng 6 năm 1975 thì được quân đội Ai Cập và Syrie giải phóng khỏi sự phong tỏa của Do Thái. 14 chiếc cargo cùng đoàn thủy thủ của nhiều quốc gia bị kẹt lại, giam hãm trong kênh đào Suez suốt tám năm. Sau khi được hải quân của quân đội Anh, Pháp và Mỹ tháo gỡ 45.500 mìn, 686.000 vũ khí chống xe tăng và người, 209 tấn chất nổ, kênh đào Suez được mở cửa thông thương lại cho thế giới. Trong tám năm đó 1967-1975, các tàu thuyền cargo đều phải đi vòng qua châu Phi.

Thời gian đi qua kênh Suez là từ 11 tiếng đến 16 tiếng đồng hồ. Mỗi năm có khoảng 20.000 tàu cargo qua kênh đào Suez, và nó đem lại cho ngân sách Ai Cập con số thu nhập là 5 tỷ đô la (thống kê 2013).

Tàu cargo chạy bằng dầu nặng nên khí thải của một chiếc cargo có thể tương đương với 50 triệu chiếc xe hơi.

Nói đến cargo là phải nói đến những công ty vận chuyển hàng hải là phần hồn của phần xác. Những công ty vận chuyển lớn nhất thế giới theo thứ tự là APM-Maersk (Đan Mạch) có 3.193.139 TEU, MSC (Thụy sĩ) có 2.782.861 TEU, CMA CGM (Pháp) có 2.278.407 TEU, COSCOCS (Trung quốc) có 1.552.894 TEU bỏ xa những công ty vận chuyển hàng hải có dưới 1 triệu TEU. Nhưng 20 công ty hàng hải lớn nhất thế giới này đã chiếm lĩnh hết 85% thị trường vận chuyển hàng hóa.

Cần phải biết phân biệt giữa người chủ cargo và người sử dụng cargo, tức là thuê cargo của chủ khác để chạy cho mình. Một công ty vận chuyển có thể có trong sở hữu một số ít cargo, nhưng thuê một số lượng cargo khác để vận chuyển hàng hóa cho mình.

Hơn thế nữa, các công ty lại còn liên kết với nhau để chiếm lĩnh mảng thị trường vận chuyển hàng hải, ba liên kết lớn nhất thế giới là liên kết Ocean Alliance tập hợp với CMA CGM, Cosco, Evergreen, OOCL có tổng cộng 350 cargo, chiếm lĩnh 37% thị trường, liên kết The Alliance tập hợp Hapag-Lloyd, « K »Line, MOL, NYK Line và Yang Ming có 244 cargo, liên kết 2M tập hợp các công ty Maerst Line, MSC, HHM có 223 cargo.

Từ năm 2008 các công ty vận chuyển bị áp lực từ khủng hoảng kinh tế thế giới. Đầu năm 2017 một thống kê của MSI cho biết là có 260 cargo với số lượng trọng tải là 297.000 TEU thất nghiệp nằm cảng, trước đó vào tháng 10 năm 2016 con số cargo thất nghiệp đạt mức kỷ lục vởi 1.591 triệu TEU. Họ hy vọng là 2018 sẽ là năm đi lên của ngành vận chuyển hàng hải.

Công việc tổ chức vận chuyển đường biển từ thuyền nhỏ đến các cảng tập trung gọi là Hubs sang thuyền lớn, rồi từ thuyền lớn lại chuyển sang thuyền nhỏ hơn để phân phối đến các cảng quốc tế ngày nay rất nhanh chóng nhờ vào kỹ thuật bốc dỡ, phân phối.

Một trải nghiệm lý thú mới đây giúp tôi tìm hiểu kỹ năng vận chuyển hàng hải. Công việc phải làm là đưa một cái thùng gỗ nặng 150 kí lô đi từ HoChiMinh-City sang đến Pháp, qua cảng Le Havre. Mọi chuyện ở thành phố Hồ Chí Minh thoạt đầu rất trôi chẩy, xe đến lấy hàng chở về cảng Cái Lái, thủ tục dễ dàng nhanh chóng, và giá lại rẻ nữa, lại đi ngay không mất thời gian chút nào. Công ty vận chuyển báo tin chuyển từ tàu con lên tàu mẹ ở Singapor, thế rồi biệt vô tin tức, không biết lên tàu nào, đi đâu. Sau những ngày hồi hộp trông ngóng cả tháng, thì được biết từ tàu mẹ đã chuyển xuống tàu chị và đang trên đường về cảng Le Havre. Tôi đỡ hồi hộp, thở ra.

Đến hồi thứ hai : làm thủ tục vào Pháp ! Tại Pháp, khâu này rất bực mình vì nhân viên làm dịch vụ theo kiểu hành chính mà hành là chính, khai báo đủ mọi thứ, chứng minh chỗ ở, chứng minh nhân dân…, rồi được ra lệnh phải đóng thuế cho nhà nước Pháp. Tiền thuế và tiền các khâu thủ tục tại Pháp tính bằng euros cho nên đắt gấp ba, gấp bốn lần các chi tiêu ở Việt Nam. Tàu đã đến mà hàng còn nằm ở cảng chờ phân phối. Thế rồi công ty phân phối lại hàng hóa báo tin ngày giao hàng. Mừng quá.

Đến ngày giao hàng, bỗng dưng bực mình thêm lần nữa, vì công ty đó, Intercargo, chỉ ra lệnh giao hàng tại mặt đường, không giao trước cửa nhà « Par contre le transporteur déposera la caisse sur la rue. En aucun cas il ne la portera jusqu’à votre porte ou votre maison . ».

Dịch vụ kiểu Pháp có khác, khách cần nó chứ nó chẳng cần khách , nó chẳng phải lo thất nghiệp, giống như là tình trạng « khách lẻ » trong các dịch vụ du lịch luôn là bị xem thường, đối đãi kém lịch sự hơn khách đoàn, dù là khách lẻ phải trả tiền đắt hơn. Thôi thì khách đến kho trung chuyển lấy về vậy dù là tiền vận chuyển và tiền thuế đã trả đủ hoàn toàn. Chi phí cho chuyến đi của cái thùng gỗ tổng cộng lại gấp hai lần tiền món hàng, còn về thời gian thì mất đúng một tháng là hàng đến cảng. Nhớ đến những người giúp nhau, xúm xít nhau đẩy cái thùng gỗ ở Việt Nam mà thấy thương họ vô cùng ! MTT

CP-Cảng-Cát-Lái-Thành phố Hồ Chí Minh

42970016_401

Vues aériennes du Terminal Port 2000

Vues aériennes du Terminal Port 2000 – Le Havre, France

Duy Tân: Duyên nghiệp của một vị vua bị lưu đày  – Nguyễn Trương Quý

11. avril 2022

Duy Tân: Duyên nghiệp của một vị vua bị lưu đày

Nguyễn Trương Quý

10/04/2022 07:20

Bài đã đăng trên tạp chí Khoa Học và Phát Triển ngày 10.04.2022

https://khoahocphattrien.vn/kham-pha/duy-tan-duyen-nghiep-cua-mot-vi-vua-bi-luu-day/20220407012850503p1c879.htm

Vai trò Duy Tân, như một con tin của nhiều phía, là hệ quả của một giai đoạn biến loạn của triều đình nhà Nguyễn. Cho dù vậy, tác giả Mathilde Tuyết Trần xác quyết, sau vị đầu triều Gia Long, Duy Tân là vị vua còn lại xứng đáng được ca ngợi của nhà Nguyễn.

Đầu thế kỷ 20, ngay từ khi nhà Nguyễn vẫn còn tồn tại dưới sự bảo hộ của thực dân Pháp, đời sống của các vị vua đã trở thành đề tài truyền thông gây chú ý và được sách vở, báo chí khai thác, một phần do chủ ý thế tục hóa vương triều từ phía thực dân, một phần do sự nhận thức về dân chủ đã lan rộng trong quần chúng. Ở hầu hết các chân dung này, các vị quân chủ được khắc họa như những hình nộm hơn là những nhân cách sống động, thậm chí bị bài xích công khai như Phan Chu Trinh viết về Khải Định. Một vài hình tượng khác khiến công chúng chú ý, như bức ảnh vị vua nhỏ tuổi Duy Tân có khuôn mặt lo âu trong áo mũ cân đai quá khổ giữa các quan đại triều già nua, bí hiểm.

8d5So 14_Doc sach

Hai trong số 7 tác phẩm đã được xuất bản của Mathilde Tuyết Trần. Ảnh: NTQ

Nhưng công chúng không có nhiều cơ hội để khám phá họ như những cá nhân riêng biệt cùng những “duyên nghiệp” họ đã nếm trải với tư cách quân vương lẫn con người của kiếp sống vui buồn. Gần đây, những khảo cứu về các nhân vật này được xuất bản nhiều hơn, mà phần nhiều là nhờ những nỗ lực cá nhân. Sau cuốn Dấu xưa – tản mạn lịch sử nhà Nguyễn xuất bản cách đây 9 năm, tác giả Mathilde Tuyết Trần vừa ra mắt cuốn Vua Duy Tân – Prince d’Annam Vinh San: Duyên nghiệp 29 năm lưu đày 1916-1945 trên đảo La Réunion (Edition Mathilde Tuyết Trần, Pháp 2021).

43fVua_Duy_Tân_(1907)

Ảnh chụp vua Duy Tân năm 7 tuổi (1907), lúc mới lên ngôi. Ảnh: Wikipedia

Điều đầu tiên khiến tôi để ý là tác giả dùng từ “duyên nghiệp” để gọi hành trình của vua Duy Tân hay danh xưng chính thức bằng tiếng Pháp gọi người tù nhân bị đày ở hòn đảo giữa Ấn Độ Dương – “Prince d’Annam Vinh San”. Duyên nghiệp vốn là khái niệm phổ biến trong Phật giáo, việc dùng từ này ít nhiều gợi nên một sự kết nối giữa cựu hoàng với quê hương, thành phố Phật giáo tiêu biểu của Việt Nam. Nhưng cuộc đời của ông đã bị bứng khỏi cội rễ từ khi còn quá trẻ, 16-17 tuổi, và sự cắt lìa thông tin, văn hóa với cộng đồng cố hương cho đến tận lúc qua đời vì tai nạn máy bay năm 45 tuổi, khiến người đọc dành sự cảm thông cho một số phận đã phải trải qua ba thập niên lưu đày ở nơi tận cùng thế giới. Cuộc đời Duy Tân là hành trình dịch chuyển từ thuộc địa này sang thuộc địa khác. Liệu ông có thể làm gì với cửa hiệu sửa chữa đài vô tuyến điện trên hòn đảo Réunion, chỉ rộng bằng nửa tỉnh Thừa Thiên-Huế ngày nay?

Cuốn sách đã cung cấp nhiều thông tin từ du khảo thực địa; các tài liệu, thư từ của gia đình; phỏng vấn những người con của cựu hoàng cũng như các nguồn văn bản sách báo liên quan, để dựng nên một chân dung đời sống của “Vĩnh San, hoàng tử An Nam”, danh xưng chính thức lúc bấy giờ. Có thể tóm lược hành trình đó như sau: Vĩnh San là con trai của vua Thành Thái (tên húy Bửu Lân); được đưa lên ngôi lúc 7 tuổi với hiệu là Duy Tân, khi vua cha bị Pháp và triều thần phế truất và đưa đi an trí vì có động cơ chống đối nhà nước thực dân. Tuy nhiên, khi lớn lên, Duy Tân có ý muốn xem xét lại các điều khoản thuộc địa để giành được nhiều quyền tự chủ hơn, và năm 16 tuổi, đã được các văn thân Thái Phiên, Trần Cao Vân tiếp cận để tiến hành khởi nghĩa. Do bị chỉ điểm, phong trào đã bị dập tắt, Duy Tân bị phế truất và bị đưa đi đày cùng vua cha đến hòn đảo Réunion, một thuộc địa của Pháp nằm ở Ấn Độ Dương, cách xa bờ biển châu Phi vài nghìn cây số.

Trên hòn đảo này, để thích ứng với cuộc sống thiếu thốn do ngân khoản ít ỏi được cấp, Vĩnh San cố gắng hòa nhập vào đời sống bản địa, làm nhiều công việc khác nhau để kiếm sống, rồi gắn bó với công việc duy trì một cửa hiệu sửa chữa máy vô tuyến điện và lập một trạm vô tuyến cá nhân. Trong giai đoạn Chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, Pháp đầu hàng Đức, các lãnh thổ thuộc địa theo quy định của chính quyền Vichy phải hợp tác với phe phát xít. Trạm của Vĩnh San đã phát đi các tín hiệu kết nối với các trạm của Anh và phe Đồng Minh trong khu vực nhằm cung cấp tình hình trên đảo. Nỗ lực kết nối của Vĩnh San cũng đi đến kết quả khi chiến tranh kết thúc. Ông đã tới được châu Âu và được nhận vào lực lượng kháng chiến Pháp. Khi tiếp cận được tướng Charles de Gaulle, Vĩnh San thuyết phục ông ta hỗ trợ Việt Nam độc lập và muốn đảm nhiệm vị thế một lãnh đạo quốc gia hợp tác với Pháp. Dường như de Gaulle đã dự kiến dùng giải pháp Vĩnh San – Duy Tân trong các kế hoạch với Việt Nam trong bối cảnh các thuộc địa dấy lên phong trào giải phóng dân tộc. Trên chuyến bay trở về Réunion cuối năm 1945, máy bay chở Duy Tân bị rơi ở Trung Phi và cựu hoàng tử nạn. Vài tuần sau, de Gaulle từ chức. Gần bốn thập niên sau, một người bạn Pháp đã đi tìm mộ của Duy Tân ở nơi máy bay rơi, sau đó là nỗ lực đưa thi hài về quê hương đã được hoàn tất. Ngày 6/4/1987, nhà nước Việt Nam đã tổ chức nghi thức đón thi hài vua Duy Tân tại Đại Nội (Huế) và an táng tại An Lăng, nơi chôn cất các vua Dục Đức (ông nội) và Thành Thái.

Rõ ràng, cuộc đời của Duy Tân không phải là của một đế vương nhiều hiển tích, thậm chí ngược lại, là một ông vua bị giam cầm trọn kiếp. Mathilde Tuyết Trần chắp nối các ký ức và câu chuyện về con người cá nhân Vĩnh San để cho thấy, ông hoàng từ nhỏ đã phải chịu đựng một cuộc sống nhiều ràng buộc và áp chế từ những người thân, sự theo dõi dò la từ các quan đại thần khống chế quân vương kết hợp với tầng kiểm soát của người Pháp, cuối cùng là những âm mưu cung đình trong dòng họ Nguyễn Phước nhiều cạnh tranh giữa các hệ đế. Vai trò Duy Tân, như một con tin của nhiều phía, là hệ quả của một giai đoạn biến loạn của triều đình nhà Nguyễn.

Cho dù vậy, Mathilde Tuyết Trần xác quyết, sau vị đầu triều Gia Long, Duy Tân là vị vua còn lại xứng đáng được ca ngợi của nhà Nguyễn. Điều này có thể dấy lên những tranh cãi từ nhiều phía, song ít nhất cũng cho thấy sự can đảm của tác giả. Mathilde Tuyết Trần không ngại ngần nhận xét Hàm Nghi “an phận” với đời sống sung túc ở Algers trong thú vui vẽ tranh, nặn tượng và kết hôn cùng con gái nhà quyền thế Pháp ở Algeria, còn Thành Thái là một ông bố độc đoán và khó thay đổi để thích ứng với thời cuộc. Duy Tân đã phải chia tay người vợ đầu và cho cô về nước, nhưng ông không được ly dị. Do đó ba cuộc hôn nhân của ông với ba người phụ nữ Pháp sau đó ở Réunion đều là ngoại hôn, dẫn tới các con đều mang họ mẹ cho đến lúc ông tử nạn. Không có quốc tịch Pháp dù đã làm đơn nhiều lần, Vĩnh San – Duy Tân đã cố gắng cả quãng đời lưu đày tìm cách kết nối với thế giới, với các nhà chức trách Pháp ở chính quốc nhằm giành một sự công nhận hoặc có phương thức trở về quê hương, nhưng như tác giả cuốn sách đã cho thấy, ông vô cùng đơn độc. Người Pháp, cụ thể là những quan chức của Bộ Thuộc địa hay các cơ quan khác, đã lờ đi tiếng nói của một cựu hoàng An Nam. Triều đình An Nam với sự thúc thủ của mình, cũngnhư ngôi báu đã thuộc về dòng hệ đế cạnh tranh, không mặn mà gì với số phận cựu hoàng.

Cuộc chiến tranh thế giới rốt cuộc là cơ hội cuối cùng để tiếng nói của ông cất lên được trên truyền thông. Như câu chuyện đã diễn ra, Duy Tân đã có thể có cơ hội quay về với tư cách tái vương như lời de Gaulle đã viết trong hồi ký: “Tôi tiếp ông để tìm kiếm với ông, một cách bình đẳng, ngang hàng, những gì ta có thể làm chung với nhau” và lời Duy Tân nói với tướng de Boissieu, con rể de Gaulle: “Nhưng tôi chẳng cần phải ai đưa lên ngai vàng. Chính tôi là Hoàng đế. Tôi không có thoái vị. Tôi trở về đất nước tôi với tướng de Gaulle. …Vả lại, tất cả những điều ấy sẽ được trưng cầu ý dân, nếu người dân Đông Dương không muốn chấp nhận nhà vua hay phải thay đổi Hiến pháp”.

Tất nhiên lịch sử không có chữ nếu, nhưng nếu Duy Tân thành công trong việc trở về cố quốc thì sao?

Sự tranh thủ phương án de Gaulle đầy vội vã cũng là một nỗ lực nhiều phần rủi ro của Duy Tân khi ông không nhận thức được thời thế đã thay đổi khi Cách mạng tháng Tám đã diễn ra ở quê nhà và chế độ quân chủ cả nghìn năm đã chấm dứt. Vào thời điểm đó, các văn bản chính thức đều mất vài tháng mới từ Pháp về đến Réunion và thông tin về tình hình Việt Nam càng ít ỏi hơn. Ra đi từ lúc còn chưa đủ tuổi trưởng thành, lại bị cắt lìa với thế giới ở một hòn đảo giữa đại dương, hiển nhiên là Duy Tân không có điều kiện nhận thức toàn diện lẫn sự chuẩn bị tài lực vật lực cho một cuộc trở về ở phương diện chính trị. Đó là chưa nói đến việc Duy Tân tham gia quân đội Pháp (dù ở mức độ hình thức) nếu xuất hiện ở diễn đàn chính trị Việt Nam sôi sục năm 1945, chưa chắc đã có một hiệu ứng tốt khi ký ức về ách đô hộ của Pháp còn đậm nét. Bản thân chính trường nước Pháp hậu chiến cũng rơi vào tranh cãi trước vấn đề thuộc địa. Như quyết định năm 1916 của mình, năm 1945 Duy Tân cũng vẫn đơn độc và đồng minh là những người không có khả năng thực sự. Duy Tân chỉ còn là một cái tên đẹp đẽ trong dòng lịch sử, giờ được đặt cho đường phố, trường đại học, khách sạn ở Việt Nam, một cây cầu và đường phố ở thủ phủ đảo Réunion. Một câu hát cũ cũng gợi lại một ký ức đẹp đẽ: “Trả lại em yêu, khung trời đại học. Con đường Duy Tân cây dài bóng mát…” (Phạm Duy).

Điều chúng ta có thể nói thêm sau khi đọc những khảo cứu này là vua Duy Tân đáng trọng bởi sau nhiều thập niên bị đứt lìa vẫn cố gắng tìm cách khôi phục lại kết nối văn hóa, tập quán, chữ viết, các mối quan tâm chung đương diễn ra ở quê nhà, cho dù bằng một phương tiện mà ông chưa lường hết hệ lụy. Cuốn sách của Mathilde Tuyết Trần cùng với cuốn trước, như tác giả đã bày tỏ, “như một hạt cát trong sa mạc văn hóa của dân tộc”, là sự cần thiết cho những suy tư về những kết nối văn hóa của tất cả chúng ta.

Mathilde Tuyết Trần là bút danh từ năm 2003 của Trần Thị Tuyết. Chị sinh năm 1952 tại Sài Gòn, học tập và làm việc trong lĩnh vực thanh tra kinh tế hành chính công ở Đức, trước khi định cư và hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, hội họa, và âm nhạc ở Pháp. Chị đã xuất bản 7 tác phẩm, trong đó có cuốn Dấu xưa – Tản mạn lịch sử nhà Nguyễn do Nxb Trẻ ấn hành năm 2011. Đề tài lịch sử, đặc biệt những câu chuyện về triều đình Huế là mảng chủ đạo trong khảo cứu của Mathilde Tuyết Trần, trong đó chị bỏ công đi tìm dấu vết của các vị vua bị lưu đày như Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân.

Nguyễn Trương Quý

Thư gởi bạn Hoa trong mùa Xuân về sớm

3. avril 2022

Thư gởi bạn Hoa trong mùa Xuân về sớm – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2022

Năm nay mới qua giữa tháng hai sau ngày rằm tháng giêng âm lịch thì nàng Xuân đã vội vã trở về trên đất Pháp. Hôm nay vẫn còn âm hưởng của cơn bão biển mang tên Eunice mùa đông nơi đây, gió mạnh, trời âm u một màu xám đục nặng trĩu nước mưa chỉ chực rơi xuống. Giữa tuần chúng tôi còn ở bờ biển Bắc, trong một nhà thương nhỏ cách bờ biển chưa tới mười cây số, yên tĩnh, gió thổi vù vù suốt đêm suốt ngày đến nỗi cái xe nặng 1 tấn rưỡi mà còn phải rung rinh trong những cơn gió quật đến 150 cây số giờ. Ngoài biển sóng đánh dữ dội, chồng tôi thích chí lái xe chạy ra ngắm biển giận dữ, nhưng anh mau chóng lái xe chạy về, bảo gió thổi cát từ bãi biển tung lên đường thành đụn cát tứ tung, cát bắn rát vào mặt, miệng, mũi, hàng quán đóng cửa cả. Chính quyền phải ban bố tình trạng khẩn cấp, mấy chục ngàn nhà cửa bị đứt đường dây chuyển điện. Tôi ở bờ biển hai ngày điều trị, rồi chồng tôi lại lái xe chở về nhà, bỏ lại sau lưng những làng mạc, nhà thương trong cơn bão biển, nhà tôi chỉ cách bờ biển 80 cây số theo đường chim bay mà đường bộ chạy lòng vòng qua làng mạc thành phố kéo dài thành gần 200 cây số. Sáng nay đọc báo thấy đã có 16 người chết, nhà tróc nóc, gạch ngói rơi xuống, cây đổ đè người, xe tải đang chạy bị gió thổi đổ ngiêng trên đường, máy bay hạ cánh rất khó khăn….

prunus22_2Vậy mà trong cái thảm cảnh của bão, nàng Xuân đã rón rén trở về. Buổi sáng thức dậy đã nghe nhiều tiếng chim líu ríu hót, bên ngoài cửa sổ những cây hoa hồng khô khốc đã trổ những cái nụ, chiếc lá xanh bé tí, và năm sáu loài hoa báo xuân đã trỗi dậy trên mặt đất, mảnh vườn điểm màu lấm tấm. Từ mấy ngày trước những cụm hoa Perce Neige (hoa Xuyên Tuyết) trắng toát đã mọc lên vui tươi hớn hở trên đám lá mùa thu héo úa khô ẩm. Tôi khổ sở ngồi dậy, ra khỏi giường, đứng nhìn ra cửa sổ, ô kìa, cây đào đang ra hoa, từ những cành cây khô đã mọc ra những nụ hoa mầu đỏ. Sớm quá. Đáng nhẽ ra như thường lệ tháng hai là tháng lạnh nhất trong năm, sao sáng chằng chịt cả bầu trời xanh đen ban đêm. Chồng tôi bảo trời mưa bão mà lại ấm, nhiệt độ lên hơn mười độ mà em. Thảo nào, mấy chậu hoa mùa đông tôi trồng tuần trước đều mọc tươi tốt dưới hiên nhà. Mong cho đừng có những ngày băng giá trở lại như năm vừa qua, hoa mới vừa nở thì bị lạnh đã rụng hết nên không kết trái được. Thời tiết ấm như thế nhưng không có nắng, đàn ong vẫn đóng tổ kín mít như bưng, không bay ra, chúng cảm nhận được thời tiết.

Tôi thả hồn suy nghĩ miên man, chợt dừng lại ở một ý mà tôi vẫn thấy sao mà nó bạc bẽo vô duyên cực độ vừa lại mang một thực tế luôn đúng:  » không có mợ chợ vẫn đông !  » Ngày mai đây, khi tôi ngưng viết lách để làm mây trắng bay trên trời thì « chợ vẫn đông ». Nói thế chứ chợ lúc nào cũng đông, sức mình, điều kiện của mình chỉ có được đến thế, lớp hậu sinh khả úy ngày càng nhiều, càng giỏi, càng ưu việt hơn lớp đi trước, đó là điều đáng mừng cho mai sau.

Bạn Hoa gởi đến một bài đọc cho vui, tác giả viết về một câu hát nhại của con nít ngày xưa: « Bà già lý le ông già, chiều chiều dắt ra bờ sông, hai người nói chuyện tâm tình, ôm nhau té lọt xuống sình…. » . Ừ thì phụ nữ sống lâu hơn đàn ông, ừ thì phụ nữ đỏm dáng hơn đàn ông, ừ thì phụ nữ có nhiều « sáng kiến » để chài mồi hơn đàn ông, cho lọt bẫy êm thắm mà không biết…Tôi bỗng nhìn lại « ông già » bên cạnh mình. Mới có ba năm thôi mà anh ấy già đi trông thấy. Con tôi nó cũng nhìn ra bảo, ông đã bệnh mà còn lo cho bà quá mà, không già đi làm sao được. Tóc râu đều bạc trắng, đến nỗi cô tiếp tân khách sạn nơi chúng tôi ở cũng phải đùa cợt gọi ông là « le loup blanc » (như một con chó sói trắng) với ông già thích ham chuyện. Cái miệng hay tán gẫu với mọi người vẫn như thế, vẫn cười vui tươi, hết mình, nhưng đôi mắt tinh anh ngày nào đã mờ dần, nét mặt thay đổi. Cái tật hay quên, lẩn thẩn của người già đã bắt đầu bằng cái chuyện quên chùm chìa khóa, hôm kia thì nhớ là hôm qua, hôm qua thì nhớ là đã lâu…cái nhớ nọ sọ cái nhớ kia, cái nhớ đã có phần lộn xộn. Thậm chí anh nhớ lại mối tình đầu tiên lỡ làng của mình, rồi thương tiếc người yêu đầu tiên, một cô gái khá xinh đẹp, đã bạc mệnh, rồi để cho những giọt nước mắt lặng lẽ rơi. Nhiều khi, người đàn ông quên đi mối tình cuối hạnh phúc để nhớ để thương để khóc mối tình đầu lỡ làng duyên phận ! Giờ phút cuối cùng của đời mình anh gọi tên ai ? Chẳng ghen với quá khứ, vì anh vẫn ân cần săn sóc, lúc nào cũng ở bên tôi, lại có phần trìu mến hơn với tôi, người vợ cuối cùng đang lâm trọng bịnh. Anh quả là một người chồng chung thủy.

Ấy vậy mà đi đâu cũng kể chuyện mua vui thiên hạ. Có lần trong sảnh lễ tân của một khách sạn ở Sài Gòn, một bà cỡ tuổi tôi, thấy tôi ăn mặc giản dị bình thường, tưởng tôi là « guide » du lịch (phát âm Việt là « gai ») cho ông tây, sán lại hỏi tôi liền là « em ơi, em là « gai » của ổng hả, chị là tỷ phú đó em, nhưng đang ở một mình, em có muốn « nhượng » lại ông tây này đổi lấy 50 ngàn đô la không ? ». Tôi ngạc nhiên đến phát cười, chị ơi, rẻ quá, em không ham, ông này đáng giá lắm, chị có biết lương hưu của ổng là bao nhiêu không, và tài sản của ổng nữa…chị hỏi ổng đi coi ổng có chịu không ? thì chị không biết tiếng tây làm sao mà nói chiện được. Còn ở Hà Nội thì các bà chanh chua hơn, này chị vớ được ông tây này ở đâu thế, ông ngoan thế, tha hồ mà mua sắm, ông chịu khó ngồi chờ kiên nhẫn thế ! Xuất hiện ở đâu cũng thế, các bà các cô xông tới vuốt bụng bá vai ngả đầu để chụp hình, bất chấp tôi đứng bên cạnh, ổng thì không biết phản ứng thế nào, chỉ cười. Đó  » bà già lý le ông già  » cỡ đó đó, bạn Hoa tức cười không ?  Không ai vô tư, « chịu chơi », bất chấp búa rìu dư luận như mấy bà già nhỉ.

Bước sang tuần thứ ba của tháng hai, cuộc chiến tranh Nga-Ukraine bắt đầu ngày 22.2.2022, nước Pháp rúng động, dầu sưởi tăng cấp tốc đột biến từ 964 euros (01.12.2021) lên đến hơn 1.800 euros/một ngàn lít (07.03.2022), kéo theo giá xăng, dầu, gaz vượt mức lên hơn 2 euros/một lít. Tôi mua dầu sưởi hôm nay giá là 1,530 euros/lít, tương đương với gần 40.000 vnd/lít, 1.000 lít là 1.530 euros ! Cái bồn chứa dầu có dung tích là 1.500 lít. Đường phố vắng hẳn xe cộ như trong thời giãn cách, dân chúng lo sợ đây là màn khởi đầu của đại chiến thế giới lần thứ ba. Thực ra người dân Pháp đã bắt đầu gánh cùng gánh chung gánh nặng, chịu đựng sức ép kinh tế trực tiếp của cuộc chiến tại Ukraine từ ngày khởi đầu. Chi tiêu cho nhiệt liệu và di chuyển chiếm hết phần lớn của kinh tế gia đình thì còn lại được bao nhiêu tiền cho những thứ cần thiết khác ? Chồng tôi đi mua cấp tốc một cái lò sưởi than nặng hơn 300 kí lô hì hục khuân vác về, để đổi từ dầu sang than củi.  Chiến cuộc ở Ukraine mới được có một tuần thì khi tôi đến nhà thương điều trị đọc báo đã thấy những người di tản Ukraine sớm nhất đã đến được Pháp, một số người Ukraine chờ tại Pháp để được sang Anh. Họ ra khỏi nước họ nhanh thật, chỉ trong một tuần đã đặt chân lên vùng Pas-de-Calais nước Pháp và được dân Pháp đón tiếp tử tế, niềm nở, báo đăng. Nước Pháp lại đang bước vào giai đoạn quyết liệt của mùa tranh cử tổng thống nhiệm kỳ 2022-2026 với những nhiệm vụ nặng nề, chiến lược, giữ vững hòa bình hay chiến tranh lan rộng. Khổ rồi !

Ngày 15.03. Việt Nam mở cửa lại du lịch cho toàn thế giới, nhưng xu hướng năm nay là những chuyến đi gần vì sau đợt dịch covid 19 vừa qua là tình hình chiến tranh làm cho người ta lo ngại, đi xa thường phải trù tính sửa soạn từ cả sáu, bẩy tháng trước. Trường hợp có những người bị kẹt không trở vào được đất nước mình làm cho vấn đề lo lắng cho chuyến trở về địa điểm xuất phát của mình, rào cản ở cả hai đầu là một điều mới mẻ cho dân chúng đi du lịch, tự do bị hạn chế, tự do có điều kiện thấy rõ. Giá cả tăng, thuế tăng, đời sống rất đắt đỏ, giới trung lưu ở châu Âu bắt đầu thắt lại hầu bao, mọi người đều phải lo cái ở, cái ăn, cái mặc, di chuyển, công việc, con cái…hy vọng không làm giảm được sự ham muốn thư giãn, phiêu lưu, khám phá, tìm hiểu ở một chân trời xa lạ.

piti0322t0322Sang ngày « cá tháng tư » 01.04. , bão tuyết rơi trắng trời, những ngày lạnh lại xen về, đông xuân đan lẫn với nhau…, người ta đã mau quên một mùa xuân về sớm, tình hình thời sự đi nhanh hơn cả thời gian, Hoa ạ. Mong Hoa vui nhé, bọn mình chiến đấu tiếp tục….

prunus22_1

Nguyễn Ba 1938-2022

24. mars 2022

Nguyễn Ba 1938-2022

 

Tạm biệt hay vĩnh biệt ? nếu có niềm tin rằng, ở cõi tạm chợt đến chợt đi và những ai có duyên có nợ với nhau ắt gặp lại nhau dù dưới hình thức khác, thì những chuyến ra đi của những con người chỉ là một cuộc tạm biệt hẹn ngày gặp lại. Vĩnh biệt là lời chúc một linh hồn mãi mãi về cõi vĩnh hằng siêu thoát luân hồi. Anh Nguyễn Ba cũng thế, chợt đến chợt đi, tạm biệt anh hẹn ngày tái ngộ, hay vĩnh biệt anh, chúc cho hương linh anh mau siêu thoát về cõi vĩnh hằng là niềm gởi gấm của mỗi người đã từng quen biết anh khi được tin anh qua đời.

Hồi xửa hồi xưa, những cô cậu nào mới đến nước Đức, nghe những cái tên như Nguyễn Ba, Nguyễn Xuân Xanh, Bùi Văn Nam Sơn, Trần Thoại Duy Bảo, Đỗ Ngọc Quỳnh, chị Phượng, chị Thay…. là sợ thụt lưỡi. Sợ vì các anh chị là đàn anh, đàn chị, lớp đi trước dẫn đầu đàn em, vì nghe tên các anh chị trước khi được biết mặt các anh chị…Rồi dần dà được biết các anh chị qua những buổi họp mặt liên hội, những đêm văn hóa toàn hội….Hội khi ấy là mái nhà, cùng chung một mái nhà thì tình cảm ấm áp, đoàn kết với nhau, xem nhau như anh, chị, em….

Thời gian trôi qua, bao nhiêu là biến đổi, nhưng không có cái biến động nào mạnh như 1975 trong lòng người Việt. Sau 1975, một hôm tôi gặp anh Ba, tiếc là không còn nhớ là dịp nào, anh Ba nói là sắp có người về nước, muốn gởi thơ tay thì người ta mang dùm cho. Tôi hỏi lại anh Ba là muốn nhờ người ấy mang dùm một cái thơ và chút xíu đồ về cho ba má tôi được không, anh nói là chắc được vì anh nhờ dùm cho. Tôi bèn lấy một cái hộp kẹo ho cũ, bên trong tôi bỏ hết vào đó sợi dây chuyền chín hàng 1 lượng vàng cưới của tôi cùng với đôi bông tai, tấm lắc 1 lượng vàng tây và vài cái nhẫn vàng, dây chuyền vàng lỏn cỏn và một lá thư nhờ đem về cho ba má tôi. Sau đó thì bặt tin người đưa thơ. Tôi hỏi anh Ba thì anh Ba cũng không biết tin, không biết đâu mà tìm. Còn phần ba má tôi thì không nhận được gì cả của tôi gởi về. Anh Ba và cả tôi nữa đã tin người một cách mù quáng. Chuyện đi dần vào quên lãng. Thời gian trôi qua…

Đến năm 2009, tôi đã rời nước Đức từ lâu, một hôm bất ngờ nhận được thư điện tử của anh Nguyễn Ba, tôi rất ngạc nhiên, và lại còn ngạc nhiên hơn nữa là anh mời tôi về nước tham dự Hội Nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ nhất tổ chức tại Hà Nội trong phái đoàn Đức. Tuy ở Pháp đã gần chục năm, tôi không có đất dụng võ viết văn, trở thành lãng tử phiêu lưu lang bạt giang hồ một mình một cõi với trang mạng của mình thoạt đầu từ năm 2000 với TuyetTran.de, do cu Chí lập dùm cho. Tôi và Pierre nhận lời mời của anh Nguyễn Ba cùng tham dự trong phái đoàn của Đức. Đến hẹn lại lên, gặp nhau tại Hà Nội trong phái đoàn Đức ai nấy đều bỡ ngỡ vì có tôi, tính ra có đến gần 40 năm xa cách, lại có « ông Tây » đi cùng, mà lại không phải trong đoàn « Tây » mà lại là đoàn « Đức » ! Riêng anh Nguyễn Ba gặp lại tôi thì rất vui mừng, đối xử với Pierre cởi mở, thân tình, rất thật thà.

Sau lần đó, tôi và Pierre gặp anh Nguyễn Ba riêng ở Huế một lần nữa. Anh Ba mời vợ chồng tôi ăn món Huế bên bở sông Hương, và hôm sau nữa đi chơi ở biển Cửa Đại, những kỷ niệm êm đềm vui vẻ không thể quên.

Anh Ba muốn nói lên điều gì khi tìm đến tôi, muốn hàn gắn lại điều gì, tôi không đoán được, nhưng cũng cùng qua những nhận xét của Pierre, chúng tôi tin là tình cảm của anh Ba đối với chúng tôi rất thật thà và vô vụ lợi. Tôi nhận thấy tôi và anh Ba có chung một quan điểm là chỗ đứng của tôi không thuộc về chính trị, mà trên bình diện « cái tình », một chút tình yêu mến quê hương, xứ sở, cha mẹ, gia đình, người thân, bạn bè thân quý.

Nay người anh cả của phong trào yêu nước sinh viên Việt Nam những năm chiến tranh tại Tây Đức, như anh Thịnh đã nhận định, anh Nguyễn Ba, tiến sĩ toán học, đã ra đi ở Hannover, chúng tôi xin chia xẻ nỗi đau buồn mất mát của tang quyến và nguyện cầu cho hương linh anh được thanh thản nơi cõi hư vô, không ưu phiền, vĩnh hằng vĩnh cửu. Thêm một người trở thành một cụm mây trắng….bay trên trời xanh…

Tuyết và Pierre

tnp1

numérisation0014numérisation0013 (2)

MTT_NguyenBa2009

Thời trang và bước tiến của xã hội

10. février 2022

Thời trang và bước tiến của xã hội – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2022

Ngồi nhà đọc báo mạng ngày Tết Nhâm Dần, thấy hai sân bay Nội Bài và Tân Sơn Nhất « vỡ trận », « quá tải », theo những cách nói hiện nay của người Việt « mới », nạn dịch covid không còn thấy đâu tuy người dân vẫn đeo khẩu trang, tôi hãi hùng may mắn thay là không thấy mình ở trong cảnh đó. Cái cảnh kẹt xe miên man chứa đựng một điều gì quen thuộc: sống lại rồi, qua rồi, bình thường rồi, sau những ngày thành phố trống vắng lạnh lùng, sau những cuộc tháo chạy về quê nhà ồ ạt và gian nan của người dân lao động bằng xe máy hai bánh ra khỏi thành phố bị phong tỏa, sau những sự chờ đợi hoảng hốt và mỏi mệt còn hơn là « mắc dịch », như một câu mắng yêu của người miền Nam :  » Quỷ nè, cái đồ mắc dịch » !.

Tưởng tượng ra mùi hơi người của đám đông chen chúc nhau chờ một chiếc taxi, hành lý cồng kềnh đẩy xe, xách tay, khiêng vác, kéo lê trên mặt đất nặng nhọc, tiếng ồn ào gọi nhau như chợ chiều tan, tiếng con nít khóc, tiếng cửa xe đóng mở bùng bùng, rồi mùi khói xăng dầu bốc lên trong không khí ở 30°C, sức khỏe đã yếu, tôi muốn té xỉu. Nhớ những lần, anh K. hay anh L. ra đón ở sân bay Tân Sơn Nhất, phải đậu xe ở xa, bắt được vợ chồng tôi rồi mới đi lấy xe chạy tới, vất vả vô cùng, vợ chồng tôi mang ơn không hết ! Còn ở sân bay Nội Bài thì khi nào cũng thoải mái, rộng rãi, khoáng đãng, êm dịu, vợ chồng tôi được pick-up một cách thong thả ung dung bằng xe của khách sạn gửi đến. Sân bay Tân Sơn Nhất vì bây giờ nằm ở giữa thành phố phình ra cho nên tình trạng kẹt xe khó tránh khỏi. Bao giờ mới được về lại nhỉ ?

Nhưng ngắm đám hành khách máy bay tôi lại khám phá ra một điều thú vị: thời trang của các cô, các cậu. Nói chung, người Việt ăn mặc lịch sự, theo đúng mốt thời thượng. Các cô, đơn giản thì là một chiếc áo đầm đúng điệu, người thì khoác thêm cái áo măng tô (manteau), áo vét (veste) đúng mốt, đúng mầu camel của mùa đông 2021/2022, không thua gì nước ngoài. Cũng có bà mặc đồ bộ theo kiểu xưa và kiểu ở nhà, quần và áo cùng mầu sắc, lên máy bay. Các ông, các cậu cũng áo khoác ngoài, áo blouson, t-shirt, áo sơ mi (chemise), quần jean, quần tây mầu sắc nhã nhặn, lịch sự, giầy thể thao …xứng với quần áo của phụ nữ. Nhưng có điều, rất nhiều người đi dép lê, dép kẹp bằng cao su, dép nhựa… làm cho người ngắm cảm thấy có một điều gì trên dưới không tương xứng, chưa trọn vẹn. Đi các loại dép này cả ngày thì mau dơ chân, gan bàn chân và gót chân đen thui, không đẹp mắt. Thông thường, ở châu Âu không ai đi dép lê, dép lười ra đường. có lẽ cái khác nhau là ở nhiệt độ thời tiết. Ở nhà, nóng quá, ai cũng khoe mấy ngón chân xấu xí của mình ra ngọ ngậy cho mát. Ở châu Âu vì lạnh, phải đi giầy mang vớ, trong mùa đông thì đủ kiểu giầy bốt cao, giầy bốt ngắn.

Mọi người đều mặc mầu sáng, trái ngược lại với châu Âu đang mùa đông, hầu hết mọi người đều một mầu tối đậm đen như quạ. Trời thì mau tối sụp, mặc toàn đồ đen băng qua đường, nhiều người không nghĩ đến an ninh khi di chuyển của chính mình, vì mầu đen được cho là sang trọng, đúng điệu, ít thấy dơ bẩn.

MTT_Maman_Hanoi1939_re

Thiếu nữ Hà Nội 16 tuổi, ảnh chụp năm 1939

Hồi xửa hồi xưa những năm 1930, 1940, lúc ba má tôi còn độc thân, ở Hà Nội, các bà mà mặc cái áo bành tô, cái áo pa-đờ-xuy (par-dessus) bên ngoài chiếc áo dài là sang trọng lắm. Các ông ra giáng công tử Hà thành ra đường chỉ diện toàn com lê mầu trắng, như tây, từ đầu đến chân. Các tiệm chụp ảnh thường có loại áo này để cho khách hàng mượn mặc chụp ảnh.

Đến lượt tôi đi du học, má cũng cho tiền sang tiệm may Phúc Lợi may một cái áo măng tô cổ điển dài đến quá đầu gối, bác Phúc Lợi tự tay đo tay cắt từ tấm vải len dạ mầu xám đậm, may cẩn thận từ đường kim mũi chỉ cho đứa con gái hàng xóm đi du học, tôi tiếc là tôi đã mất chiếc áo này qua những lần dọn nhà.

Thời tôi mới lớn 1960-1970, các bà các cô thượng lưu ra đường mặc toàn là áo dài với quần trắng hay quần đen. Quần lụa đen chỉ mặc trong những ngày phụ nữ có kinh nguyệt. Người bình dân thì mặc quần áo bà ba, đồ bộ. Quần lụa mặc với áo dài đủ mầu sắc chói chang xanh, đỏ, tím, vàng, hồng….hoặc là tông-suỵt-tông (ton sur ton) đồng mầu với áo, hay là « chơi » tông chõi đối nghịch lại với mầu sắc của áo chỉ xuất hiện sau 1975.

Trong thành phố Saigon lác đác đã thấy giới trẻ học trường tây diện áo đầm, áo thung, quần tây. Hồi đó chưa có quần jean xuất hiện. Cậu ấm cô chiêu con nhà giầu phải đặt mua ở nước ngoài, thường là từ Pháp, những bộ cánh mốt theo tây để diện lấy le, làm lé mắt thiên hạ.

MTT_GiaLong1

Nữ sinh đệ Nhất C2 trường nữ trung học Gia Long: Tuyết và Diệu

Con gái đi học cũng mặc toàn là áo dài trắng. Thời tôi, khi tôi lên trung học, có trường dạy chương trình Pháp như trường Marie Curie, trường Colette …và có trường dạy chương trình Việt như trường Trưng Vương, trường Gia Long, trường Lê Văn Duyệt là nổi tiếng và dành cho con gái. Tôi còn nhớ, hồi đó có người khuyên ba má tôi nên cho tôi nhập trường Colette, nhưng trường này nhận học sinh trai/gái lẫn lộn, má tôi sợ tôi « mau hư » nên cuối cùng tôi phải dự thi tuyển để vào trường Trưng Vương có tiếng là trường của Bắc kỳ di cư, trong khi trường Gia Long là trường của xứ Nam kỳ tự trị. Muốn nhập học trường Gia Long, cũng như trường Trưng Vương, học trò phải qua một kỳ thi tuyển rất gắt gao. Tôi thi đậu vào trường thứ hạng hai tám trong sự thất vọng của bà giáo bậc tiểu học ! Sau này, lên đệ nhị cấp thì tôi chuyển sang trường Gia Long. Trung thành với truyền thống học trò, khi đi học tôi mặc áo dài trắng, đi chơi thì mặc áo dài tím. Cái tủ áo của tôi, mấy chục cái áo dài trắng vởi huy hiệu của trường, áo dài tím, quần lụa…sau khi tôi đi du học là mất hết. Má tôi giữ được mấy năm, sau thì bà cũng cho đi…một thời thương nhớ.

MTT_GiaLong2

Nữ sinh đệ Nhất C2 trường nữ trung học Gia Long trong sân thể thao giờ ra chơi

Trường « áo tím », xuất thân từ École Primaire des Jeunes Filles Indigènes de Saigon được thành lập từ năm 1913 dưới thời Pháp thuộc theo đề nghị của ông Hội đồng Quản hạt Nam kỳ Bùi Quang Chiêu và vợ chồng Tổng đốc Đỗ Hữu Phương (cha mẹ của Đỗ Hữu Vị), chính là trường nữ trung học Gia Long sau này, mới đầu thì cho học sinh mặc áo mầu tím, mầu tượng trưng cho « tính đoan trang, kín đáo và khiêm nhường của người thiếu nữ Việt Nam » . Nhưng vì có nhiều vải vóc mầu tím rất khác nhau và sau nhiều lần giặt giũ áo bị phai nhạt mầu dần dần thành ra đủ mọi mầu tím từ nhạt phếch đến đậm tùy theo áo cũ hay áo mới, không đồng nhất. Đến năm 1918-1919 trường được đổi tên là Collège des Jeunes Filles Indigènes, vẫn giữ đồng phục áo dài mầu tím, ngôn ngữ chính trong việc giảng dạy là tiếng Pháp. Cho đến năm 1940 trường bị quân Nhật chiếm đóng, và kể từ đây đổi tên lại là Collège Gia Long. Mầu áo tím được duy trì đúng 40 năm thì đến năm 1953 đồng phục của học sinh được đổi thành mầu trắng, có gắn tên trường Gia Long với phù hiệu hoa mai bằng vải trên áo, chương trình học cũng chuyển hoàn toàn sang tiếng Việt với hai sinh ngữ, Pháp (6 giờ học một tuần) và Anh (2 giờ học một tuần), nếu học sinh chọn tiếng Anh là sinh ngữ 1 thì hệ số trên được đảo ngược lại (6 giờ Anh và 2 giờ Pháp).

MTT_GiaLong3

Nữ sinh lớp đệ Nhất C2 trường nữ trung học Gia Long: Tuyết ngồi trên hai sợi dây leo trong sân thể thao

Tuổi học trò dậy thì đầy mộng mơ, trường Gia Long được gán cho trường Petrus Ký và trường Trưng Vương, mặc dù nằm ngay bên cạnh trường Võ Trường Toản, thì được gán cho trường Chu Văn An. Cô giáo dạy Pháp văn ở trường Gia Long có lẽ ghét tôi lắm, lúc tôi đến chào cô để đi du học, cô rủa tôi « học như em, không đều, ở nước ngoài không thi đậu được đâu ». Nhờ lời nói ấy, như một gáo nước lạnh dội lên bao nhiêu là hy vọng, là mơ mộng của tuổi trẻ mà tôi quyết tâm, khó bao nhiêu, khổ bao nhiêu cũng phải học cho ra trường. Quả thực, tôi học không đều, vì hoàn cảnh, nhưng tôi vẫn thi đậu ra trường đại học ở nước ngoài và trong một thứ tiếng không phải là tiếng Pháp mà là tiếng Đức ! Sau 1975 trường nữ trung học Gia Long đổi tên lại thành trường Nguyễn thị Minh Khai.

Bây giờ ngồi nhà ngắm quần áo thiên hạ, tôi thấy chiếc áo dài đã biến mất ra khỏi khung cảnh, chỉ còn có những cô tiếp viên VietNamAirlines đang làm dịch vụ là mặc áo dài xanh, áo dài vàng mà thôi.

Đọc các bài báo trong nước, thỉnh thoảng tôi được « mãn nhãn » bởi những kiểu õng ẹo khoe từng mảnh vải từng phân da phân thịt, khoe rún, khoe đùi, khoe mông, khoe….chẳng cần mặc quần áo chi cho lùng thùng tốn kém vô ích của các mỹ nhân đương độ xuân thì « sao » này « sao » kia, đến những màn khoe túi xách hàng hiệu đắt tiền cả chục cái, giầy hiệu, nước hoa chưng đầy cả một bức tường…của những có người danh tiếng như ca sĩ này ca sĩ nọ …., khoe biệt thự lộng lẫy, khoe xe xịn xe sang, khoe chồng tây chồng ấn, khoe hạnh phúc bắt được trong tầm tay với không chút khó khăn của một thành phần siêu giàu. Xã hội nào thì cũng thế, có một thành phần siêu giàu chỉ tay năm ngón, không làm cũng ăn mà ăn mạnh ăn ngán đến chán ngấy, hay họ là những người biết nắm bắt được thời cơ trục lợi, và những con người không biết làm gì để có ích lợi cho xã hội hơn là khoe của khoe giàu. Người Pháp xem vậy mà họ cẩn thận hơn, càng có của họ càng kín đáo.

Ở Pháp, quần áo bán rẻ nhất là ở trong các siêu thị, dù là chạy theo mốt từng mùa, một cái quần mới giá có 15 euros, một cái áo mới 20 euros. Trong khi đó, ở những cửa hàng bán quần áo, mode, thời trang giá cả tùy tiện khác nhau từ mấy chục đến mấy trăm, mấy ngàn euros một cái áo hay một cái quần, may ở RPC (China), Bangladesh, Indonesia, Turkey hay ở Ukraine….hay ở VietNam. Mùa nào thì mầu ấy, ai mà mặc ngược mầu đang mốt thì là mặc đồ cũ, không có tiền mua đồ mới.

Trên thực tế, người ta lo tiền thuê nhà, tiền ăn, tiền học con…cả trăm thứ tiền phải trả hàng tháng, mua một bó hoa tươi chưng nhà cũng là « chơi sang » rồi, ngắm được ba, bốn ngày thì hoa tàn dục vô thùng rác, dư dả thì mới nghĩ đến chuyện mua quần áo mới, mua xe, đi du lịch…Nhiều gia đình vì tiêu thụ hơn mức kiếm được thành ra mang công mắc nợ è cả cổ….

Vì thế, một xã hội có một lớp trẻ khỏe mạnh, tươi tắn đang lên, ăn mặc lịch sự, di chuyển bằng máy bay từ nơi này sang nơi khác, có điều kiện, tất là xã hội ấy đã có phát triển về kinh tế. Nhưng không biết, họ có ý thức được điều đó hay không, trong quá trình phát triển của lịch sử, của cả một dân tộc. Tổ chức những chuyến xe 0 đồng cho người đứng ở mức thấp nhất trong xã hội về quê ăn tết là một trong những biện pháp như giọt nước trên hòn đá nóng để cứu vãn tình trạng chênh lệch không thể nào hiểu nổi giữa giàu và nghèo. Một trong những lợi thế của Việt Nam ngoài thiên nhiên đẹp, giầu khoáng sản tài nguyên thiên nhiên, là mức nhân công rẻ và mức sinh hoạt thấp so với các nền kinh tế khác trong thời đại toàn cầu hóa. Nhưng để phát triển lâu dài, thiết nghĩ nên đầu tư vào mảng giáo dục ngành nghề, nâng cao kiến thức, dân trí và trình độ chuyên môn, khuyến khích bổ túc học vấn vừa làm kiếm tiền nuôi gia đình, vừa học thêm của phần lớn bộ phận công nhân lao động. MTT

 

Hoài niệm nhớ Tết

30. janvier 2022

Hoài niệm nhớ Tết – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Bài đã đăng trên số báo Xuân Nhâm Dần 2022 của Hội Nhà Báo thành phố Hồ Chí Minh

Hầu như hoài niệm tuổi thơ là một điều bắt buộc của ký ức con người trong tuổi già, tôi cũng nằm trong sự bắt buộc đó, như xem một cuốn phim chạy ngược. Trong cuộn phim của tôi, có những hình ảnh chiến tranh của ba, bốn thập niên nhưng xen lẫn với những khoảng khắc êm đềm hạnh phúc thời niên thiếu. Đất nước tôi để lại trong tâm khảm là một đất nước rất đẹp, có bờ biển dài, có những người dân cần cù lao động, những người mẹ rất thương con, thương chồng và những người cha chạy ngược chạy xuôi lo miếng cơm manh áo. Nhớ cảnh và nhớ người quyện lẫn vào nhau. hoinhabao (2)

Cái nhớ của tôi bắt đầu bằng nhớ những con đường ở Sài Gòn, nhớ những chuyến đò chèo ngang qua sông Sài Gòn để đến bờ bên kia là Thủ Thiêm, khu vực của người nghèo ở. Hồi đó Thủ Thiêm là một vùng có nhiều nước, nhiều ao, nhiều cầu khỉ bắc để đi từ nhà này qua nhà nọ. Gọi là nhà cho oai, đó là những nhà sàn bằng ván gỗ, mọc trên cọc, bên dưới nhà là nước, bùn sình, mái tôn, vách ván, cửa nẻo liêu xiêu. Trời mưa, tiếng mưa rơi trên mái tôn như nước đổ lên một cái trống âm thanh vang dội nghe rất to và rõ từng hạt mưa rơi xuống đùng đùng như sấm sét. Cầu khỉ ráp bằng hai, hay sang hơn, ba thanh gỗ tròn lại với nhau, trơn tuốt luốt, không biết đi là té xuống nước đen ngòm, cá bu lại. Vậy mà các bà bồng con bồng cháu đi tới đi lui như một nghệ sĩ giữ thăng bằng. Nhà chỉ có một buồng duy nhất, không có bàn ghế gì cả, một cái chõng tre, một cái tủ đựng tất cả vật quý giá của chủ nhà, tất cả mọi sinh hoạt trong gia đình đều diễn ra ở đó, lại không có nhà vệ sinh như bên kia thành phố, tất cả đều đổ xuống sông, xuống nước, mà sống trong nước đen ngòm đó là những loài cá, nhiều nhất là cá trê, cá tra…, chúng quẫy thành những vòng tròn trên mặt nước. Cái cảnh đó rất ấn tượng đối với một đứa con nít nhỏ là tôi, được bà vú dắt lên đò chèo lênh đênh ngang qua sông Sài Gòn, chuyên chở khẳm người và xe đạp, đưa về thăm nhà ở bên kia bờ sông. Khỏi phải nói, khi về tôi « mét » lại má, tôi nhớ như in, má tôi được một phen hú hồn hú vía, sợ đứa con gái cưng rớt xuống sông theo « bà Thủy » !

hoainiemnhotetTôi giã từ tuổi thơ với một hình ảnh thơ mộng của đôi bạn gái nhỏ ngày cuối cùng của lớp Nhất tiểu học. Tôi được lãnh hai phần thưởng thật to, phần thưởng học sinh giỏi toàn trường và phần thưởng hạnh kiểm toàn trường, gói trong giấy bóng kiếng mầu đỏ cột nơ, nặng chình chịch, gồm mấy cuốn tự điển, sách giáo khoa và hộp phấn màu viết bảng độn cho cao. Nhưng chỉ có hai tay thì làm sao ôm hai cái phần thưởng đó về nhà. Ba tôi lại chưa đến đón, vì chúng tôi lãnh thưởng xong là tan học sớm. Con bạn đề nghị đưa tôi về nhà, thế là hai đứa nhỏ, mỗi đứa ôm một cái phần thưởng to tướng che hết cả mặt ra về. Tôi dắt nó đi ngược đường xe để ba tôi thấy. Đến giờ tôi vẫn không quên hình ảnh hai đứa nhỏ song đôi, chầm chậm bước đi trong nắng sớm lung linh còn mát chưa nóng lắm, dưới những tán cây me cao ngất hai bên đường. Đoạn đường từ trường về nhà không dài, xuôi xuống ngang qua Dinh tổng thống, nhưng hôm đó sao nó dài lê thê, hai cánh tay mỏi rã rượi. Về đến nhà, má tôi tròn mắt, sao con không đi xích lô về, lại bắt bạn đi cùng ?!. Ngó qua ngó lại, định hỏi bạn xem bạn có khát nước không thì bạn tôi biến mất lúc nào không hay. Mấy chục năm rồi, bạn có còn nhớ tôi không ? Đó là những năm 50. Trường cũ của tôi thì đã bị phá vỡ, xây lại mới, đổi tên.

Con đường Lê Thánh Tôn, cũng là con đường từ trường về nhà và từ nhà đến trường, đi vào đời tôi như một định mệnh. Đầu thập niên 60, con đường đi học của tôi rất an bình. Từ ngã tư Catinat trở lên hướng Sở thú, đi dọc theo vườn bông củ cải, qua khỏi ngã tư Hai Bà Trưng là cửa hàng thưa thớt dần để qua đoạn chỉ có nhà ở, rợp bóng cây mát rượi. Tan học về buổi trưa thì nắng đã lên cao, tôi tung tăng nhảy lò cò theo những hoa nắng lung linh lay động xuyên qua lá cây chiếu trên mặt đường. Ngang qua Trung tâm văn hóa Pháp, nơi tôi trau dồi thêm tiếng Pháp mỗi chiều và nhà thương Grall mang nhiều kỷ niệm. Đi dọc hết Tòa Đô chánh dài ngoằng chiếm hết một khúc đường từ đường Tự do qua đến đường Pasteur, không có cây xanh bóng mát, thì tôi về đến nhà.

Bây giờ và ngồi đây, trong bầu không khí xám đục vì sương mù hay nước mưa dầm, trời chỉ sáng mờ mờ từ 9 giờ sáng đến 4 giờ trưa, lạnh ngắt, tôi thèm cái nắng của quê nhà, đói nắng. Nắng không như nắng. Nắng mùa xuân, nắng mùa Tết thì dịu mát, nắng trưa hè oi bức, nắng thu vàng êm ả, nắng mùa đông sưởi ấm áp lòng người…bao nhiêu lời tả ánh nắng trên quê hương chưa đủ, như một câu hát trữ tình xao xuyến kết hợp hai miền Nam Bắc  » Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát, bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông, anh vẫn yêu mầu áo ấy vô cùng…« . Đến tuổi dậy thì, tôi chỉ thích mặc áo dài lụa mầu trắng khi đến trường, áo lụa mầu mỡ gà, áo lụa mầu tím khi dạo phố, đi chơi với bạn bè, ngày Tết…và muốn được « người ta » yêu tha thiết như trong câu hát. Đó là những ấn tượng an bình cuối cùng trước khi những kỷ niệm về cuộc chiến xâm chiếm tuổi niên thiếu của tôi. Kỷ niệm đời học trò trong vòng tay bảo bọc của cha mẹ, trong vòng tay thân thiết của bạn bè dừng lại trong quãng thời gian đó, nhưng làm hành trang tâm hồn cho suốt một đời người.

Thấy các cô gái bây giờ che người kín mít, nào là mũ, là khẩu trang, nào kính to quá khổ, là găng tay, là váy che nắng để giữ cho làn da trắng như gái Tây, vợ chồng tôi bật cười, da ngăm đen càng có duyên chứ sao, nhỉ.

Rồi những mộng mơ lãng mạn ngày xưa phải lùi bước trước thực tế của đời sống hiện tại. Năm nay, năm thứ ba của dịch covid 19, tại Pháp trong cao điểm mùa Giáng Sinh và Tết Dương lịch 2022 dân chủng sống có vẻ uể oải hơn những năm trước. Những tháng cuối năm khả năng tài chánh của mọi người oằn mình gánh đủ mọi thứ thuế phải trả cho hết, những hóa đơn chất chồng, khoản tiền dành cho tiêu thụ, quà cáp ngày càng eo hẹp hơn. Những đôi vợ chồng già, người già cô đơn, lọm cọm chậm chạp lưng còng, xuất hiện nhiều hơn trong các siêu thị, cũng như chúng tôi, con cháu người thân đều ở xa cả, không ai giúp đỡ công việc hàng ngày như chợ búa, cơm nước…Không khí buôn bán mùa Noel ở nhà quê thì ảm đạm, hàng hóa dư thừa, dù là siêu thị ở vùng quê chỉ có nhu yếu phẩm, thịt cá, trái cây giá bán lại tăng cao, chỉ có ở trong thủ đô Paris là nhộn nhịp người đi xem các cửa hàng trang trí rất đẹp, mua bán. Đợt dịch thứ năm với con vi khuẩn Omicron theo truyền thông đang có vẻ đe dọa con người.

Lại thêm một năm tôi bị bắt buộc « ăn » một cái Tết xa quê hương trong đời. Người nào mà không nhớ quê hương vào dịp Tết thì không phải là người Việt, tôi tự nghĩ…vì rằng  » Dù ai đi ngược về xuôi… », tự khắc nhớ nhà nhớ Tết.  » Tết nhất làm chi, ai bày Tết nhất làm chi, không tiền tiêu Tết, vậy thời, vậy thời… tính sao ? « , bài hát vui nhộn của ban AVT khi xưa má tôi rất thích vẫn vang lên trong tai tôi. Thời khắc chuyển đổi đêm Giao thừa là thiêng liêng thơm mùi nhang khói, Tết là đã khắc sâu vào tâm khảm. Mùi Tết, hương vị Tết, không gian Tết, thời gian Tết, âm thanh Tết, ba ngày Tết…chỉ có ở quê nhà. MTT.

Tết cuối cùng ở Đền Cuông, Nghệ An, trang thờ Mỵ Châu Công Chúa, 2019:

P1000480 (2)

Bonne Année du Tigre, MTT chante

29. janvier 2022

Chúc mừng năm mới – Bonne Année du Tigre, la fête du Tết Nhâm Dần ©Mathilde Tuyet Tran, France 2022

daotet

A l’occasion de la fête du Têt 2022, l’année du Tigre, et pour faciliter vos recherches, Mathilde Tuyet Tran vous offre quelques chansons que vous pouvez télécharger gracieusement.

box-copy-4-1642410957082378731966

Ảnh báo Tuổi Trẻ 2022

Jeune, la voix était claire, limpide en soprano. Mûri, le timbre est devenu plus chaud plus touchant. Et en vieillissant, sa voix atteint une légère gravité, devient alto. Entre le trémolo, le legato et autre technique de chants à la façon vietnamienne, elle cherche sa place dans l´équilibre, ce qui ne plaît pas à une large audience vietnamienne trop longtemps habituée aux pleurs de guerre et leurs amours brisés. Pas parfaitement au point de vue technique et artificiel, mais elle chante droit au cœur avec sa voix naturelle.  

Son expression et interprétation est composée d´une certaine légèreté, certaine douceur, à travers les sujets importants de la vie, tels que l’amour et le sacrifice d´une mère, l´amour et la tristesse de séparation entre homme et femme, la pluie, les rayons du soleil, le printemps…. même la neige et le froid en ne quittant pas une joie de vie infaillible. Grâce à la différence d´époque d´enregistrement, vous noterez que les accompagnements, les styles sont aussi différents.

Les chansons ont été enregistrées dans deux studios à Ho Chi Minh Ville (Saïgon) et un studio en Allemagne, avec une quinzaine de musiciens professionnels.  On se souvient souvent du violoniste, jeune, venu en short, chemisette et basket parce qu´il fait trop chaud en cet été mais lorsqu’il joue, il se fond dans la musique, sans répertoire en papier devant ses yeux, le son qui sort du violon est propre, d´une profonde tristesse incroyable d´un amour brisé dans Ngăn Cách, ou le pianiste, virtuose dans Ne me quitte pas de Jacques Brel.

Vocal : Mathilde Tuyet Tran 1a286211371991d1-photo-full

Synthesizer: Hữu Hậu, Yên Lâm

E-Guitar: Quốc Phúc, Phan Trat Quan

E-Basse: Hiền

Guitar solo: Hoàng Minh, Phan Trat Quan

Violon: Hy Đạt

Harmonica/Piano : Đức Thịnh

Batterie: Dũng

Background vocal: Diễm Phương, MTT

Ingenieur de son/Mixed by: Quốc Phúc, Hữu Hậu

Arrangement * : Phan Trat Quan

et les musiciens partipants du studio BR, studio MPU à HoChiMinh-Ville, studio Breuer en BRD

©Mathilde Tuyet Tran, Producteur.

Tombe la neige:

Ne me quitte pas:

Les amants de Saint Jean:

Ma solitude:

Ma jeunesse fout l´camp:

Je t´aime * :

Lòng mẹ * :

Nắng chiều:

Ngăn cách:

Anh cho em mùa xuân:

46c684ee1c39ca48-photo

Điểm sách « Tìm bình yên trong gia đình » của Thích Nhất Hạnh

22. janvier 2022

Điểm sách « Tìm bình yên trong gia đình » của Thích Nhất Hạnh – Mathilde Tuyết Trần, France 2022

Anh bạn nói thật đúng, việc gì cũng phải có cái duyên của nó, không duyên là không thành, gặp cản trở. Tôi vừa đọc xong cuốn sách « Tìm bình yên trong gia đình » của Thích Nhất Hạnh thì tin từ Huế bay sang sáng nay khi bật máy là Sư Ông đã viên tịch lúc 0 giờ. Mặc dù tôi ở Pháp, và đã có đến Làng Mai hai lần, nhưng không có duyên gặp ai, chỉ gặp một sư cô trẻ măng mới từ Việt Nam qua, mời uống một tách trà, vài chú tiểu canh chùa, thiền viện trống không, phong cảnh đẹp hững hờ. Nhưng cũng nhờ vào những lời khuyên bảo của Sư Ông và tập thể Làng Mai viết trong sách tôi ngẫm nghĩ lại đời mình có gì đúng có gì sai mà rút ra bài học cho mình, sửa chữa những gì còn sửa chữa được trong tấm lòng sám hối lặng thinh.

Cuốn sách do một cô em gái trẻ từ Việt Nam tặng đến tay tôi trong tuần này thì đã quá muộn, vào cuối đời tôi. Đáng nhẽ ra phải đọc cuốn sách này từ đầu đời, từ lúc bắt đầu gặp khó khăn hay vấp ngã. Trong tấm lòng tưởng nhớ Sư Ông tôi viết bài giới thiệu sách « Tìm bình yên trong gia đình« . Điều Sư Ông giảng về thuyết Luân Hồi thật là dễ hiểu, nhục thể đã hoàn thành nhiệm vụ trên trần thế, nhưng linh hồn vẫn sống mãi trong tâm của những người thân, những người trung thành, chung thủy với mình, truyền từ đời này sang đời khác. Bây giờ, nhìn mây trắng bay trên trời, cầu mong Sư Ông về nhà Phật an bình, thong dong, « Đường xưa Mây trắng« , nhớ thêm tên của một người, một vị thầy Phật giáo.

Câu hỏi làm thế nào để sống vui sống khỏe lúc tuổi già ở đây, xa quê xa người, mà đặt ra vào thời điểm ai nấy đã già thì thật là không đúng thời điểm, như một sự ngạo mạn cho những ai không thể có được niềm vui sống khỏe, vì muốn được như thế thì cái nhân gieo trồng cho tuổi già phải được thực hiện từ khi tuổi trẻ, về già mới được hưởng thành quả vật chất của suốt một đời lao động và tinh thần, tâm linh, tôn giáo…với điều kiện: trong một khung cảnh xã hội bình an yên lành.

Hiện tại, tập thể nhỏ bé của người Việt sống trên xứ người đang chao đảo trong nạn dịch Covid19 có vẻ tách rời ra hoàn cảnh chung của xã hội nước cưu mang. Bạn có biết những biến động trong lòng xã hội người ta ? Bạn có cảm thông trước những khó khăn của dân sở tại ? Bạn có sống hòa đồng cùng nhịp điệu với dân sở tại ? Hay bạn đứng trên núi này mơ về núi nọ, nếu đã chọn nơi này là quê hương thứ hai ? Nếu bạn chọn ở đây với tính cách như một người ở đậu, sống bên lề, nay đến mai đi không quyến luyến thì xin phép được miễn bàn. Đó là một quan điểm sống ích kỷ, trục lợi, thiên vị, sống như một tập thể trong lòng một tập thể khác đã cưu mang mình, và đó cũng là những điểm mấu chốt làm tiền đề cho những người dân sở tại chống nhập cư của người nước ngoài. Bạn thấy, từ việc này nó kéo sang việc khác như mắt xích. Thân phận nhập cư tôi càng thấy rõ hơn khi vào bệnh viện điều trị, từ cô y tá cho đến người bác sĩ đều muốn biết tôi đến nước họ ở từ bao giờ, năm nào. Họ làm cho tôi phải hiểu, một giường bệnh dành cho tôi là giảm đi một giường bệnh dành cho người bản xứ, nhất là trong lúc họ, trong thời đại Covid các bệnh viện đều thiếu nhân viên, thiếu bác sĩ, thiếu giường vì chính sách giảm thiểu y tế của chính phủ đã được thực hiện từ nhiều năm qua.

Chủ đề này cũng được đặt ra trong những câu hỏi cho Làng Mai, là làm thế nào để giáo dục con cháu trong một môi trường « lạ », văn hóa « lạ » của người. Riêng tôi thấy, sống trong lòng một xã hội « lạ » thì những cái mốc hội nhập đã được xã hội ấy cắm sẵn từ khi con mình chưa biết nói đã phải đi nhà trẻ cho cha mẹ đi làm, đi học. Rồi dần dần thế hệ hai của chúng ta hội nhập nhiều hơn chúng ta, những cái cây đã có gốc từ Việt Nam bứng qua trồng trong xã hội châu Âu. Cho thế hệ thứ hai, thứ ba…sự việc tiếp thu văn hóa nước người là điều tất nhiên phải đến. Trách móc con cái không biết nghe theo cha mẹ, bè bạn xấu, tình duyên cũng đôi lần gãy gánh giữa đường…cũng là những đại họa hậu quả phải xẩy ra mà không có một sự cảm thông, thấu hiểu và trao đổi giữa hai thế hệ với hai « background » khác nhau.

Hạnh phúc của tuổi già là một sự vun trồng của một đôi vợ chồng từ cả mấy chục năm trước. Cái khổ, cái bệnh, cái xui không gọi cũng đến, có ai mà muốn mình chết dần chết mòn trong túng thiếu và bệnh tật ? Cuộc đời chỉ là một đường thẳng tắp, vô tư lự, một vợ một chồng ăn sung mặc sướng, suốt một đời dài không có đau khổ, lên voi xuống chó ? Chân thành chúc mừng bạn, gia đình bạn thật có phúc.

Cuốn sách « Tìm bình yên trong gia đình » đi tìm những nguyên nhân bắt nguồn gốc rễ của những nỗi khổ của cuộc đời từ trong cái nôi của mình và nói rộng ra cái nôi của xã hội, của nhân loại, từ mổi tương quan giữa cha mẹ con cái anh em chị em. Những câu hỏi là những ray rứt rất thật của cuộc đời, những số phận lao đao, không may, là những sự tìm kiếm nguyên nhân và lời giải, được chia thành 6 chương, chương 1 là « Những khó khăn trong gia đình« , chương 2, 3 là những tâm sự của cha mẹ và con cái, chương 4 « Thiết lập niềm tin trong cuộc sống« , chương 5 « Truyền thông với người đã mất » và chương 6 « Thực tập chánh niệm trong gia đình« .

Đứng trên bình diện rộng hơn, xã hội hay chính trị, thì một xã hội có khi cần phải có một sự « giận dữ » tột độ thì mới thực hiện được một cuộc cách mạng, nói khác đi là « lòng dân đã chín mùi », nhưng đứng trên bình diện tình cảm, cá nhân, tâm linh và tôn giáo thì sự giận dữ, xuất phát từ hoàn cảnh trái ngang, đau khổ càng làm cho bản thân người đó mất thăng bằng, đau khổ chồng chất, nối tiếp.

Có những cô gái trẻ phải phá thai, cảm thấy mình bị phản bội, đau khổ, dằn vặt, mất niềm tin vào tình yêu đôi lứa. Có những người chịu bạo lực trong gia đình « vì cái mặt của con rất khó ưa, không ai muốn trông thấy con. Cả mẹ cũng thế. Mỗi lần thấy bóng con là mẹ cầm chổi, cầm roi quất vào con… » và giáo dục bằng bạo lực « thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi » nhiều hơn là giải thích, thông cảm. Có những người thấy gia đình mình « đang đứng trên bờ vực thẳm vì nghi kỵ, suy nghĩ cực đoan, giận hờn » không biết đường nào gỡ mà hàng ngày lại tiếp tục nuôi dưỡng hạt giống giận hờn. Có những bậc cha, mẹ từ bỏ, hắt hủi con cái vì chúng nó không sống và làm theo ý mình « mày sống làm gì, chết đi cho rồi »…, thật là tàn nhẫn quá. Lớn lên, trưởng thành trong những hoàn cảnh như thế thì cái « vốn liếng » của một con người chỉ là cảnh khổ, tâm và vật chất. Tham, sân, si ở đây được « dịch » ra từ những tham vọng « phải thành đạt », tham vật chất, danh vọng, phải mua nhà, phải lập cơ nghiệp, phải có lương cao, phải có chồng/vợ đẹp đôi, con khôn, ganh ghét người khác, nhục mạ, phỉ báng, vu khống….., quên đi rằng « Cờ đến tay ai người đó phất« , việc gì cũng phải có cái Duyên mới làm nên. Trong vòng thân thuộc của chúng ta, những người kém may mắn nhất là những người chưa được từng « phất cờ » một lần trong đời, nên thông cảm và thương xót cho nghiệp chướng của họ.

Những lời giải của Sư Ông và tập thể Làng Mai (ban biên tập và các sư nữ) đều toát ra tinh thần « hiểu và thương« , « có hiểu thì mới thương« , rồi xây dựng lại niềm tin vào chính mình, tha thứ cho mình, sám hối và một sự bắt đầu, đi lại từ đầu như là một sự chuyển hóa năng lượng từ tiêu cực sang từ bi, cũng như thực tập chánh niệm.

Bài học về con đường của Bụt chỉ lối ra cho vấn đề « khổ đau ở đâu cũng có, vấn đề là mình biết cách xử lý khổ đau như thế nào để những khổ đau đó trở thành hữu ích, trở thành một cơ hội cho mình học hỏi và lớn lên, giống như sử dụng bùn để trồng hoa sen vậy đó. «  Nuôi dưỡng niềm tin nơi cuộc sống, nơi tình yêu, và tìm những điều kỳ diệu ngay trong chính bản thân mình, hiều chính mình để thương chính mình, thì mới hiểu được người khác và thương họ, môi trường chung quanh mình. Đó là một sự tiếp nối trong nhiều tiếp nối của thầy Thích Nhất Hạnh. MTT

Bài hát « Bài hát Cài Áo », thơ: Thích Nhất Hạnh, nhạc: Phạm Thế Mỹ, qua tiếng hát của Bằng Kiều:

xomha7

Làng Mai – Xóm Hạ (trên) Xóm Thượng (dưới) – Photos: MTT

xomthuong1

Une rose sur mon revers – Bông hồng cài áo, Thích Nhất Hạnh, bản dịch của MathildeTuyetTran (MTT)

22. janvier 2022

Une rose sur mon revers – Bông hồng cài áo

Préface : Un matin, mon beau-frère m´a appelé au bureau, pour me dire que ma mère venait de décéder à Saigon quelques heures auparavant. Ce fut comme une bombe explosant dans mon cœur, car j’avais déjà le billet d´avion dans mon sac. J’ai déjà écrit à ma mère pour lui dire, que dans deux semaines j´allais la  revoir  après onze ans d´absence. Mais elle m´a quitté soudainement avant mon retour. J’ ai pris l´avion aussitôt pour rentrer,  pour voir son cercueil déjà fermé, au milieu des fleurs et des encens. J’ai compris ce que ma mère a fait pour chacun de nous dans la famille: je la voie comme elle était, avec des remords immenses, jusqu’à ce jour.

Aujourd’hui, en lisant le texte « Bông hồng cài áo »  du Maître Thích Nhất Hạnh, écrit en 1962, déjà traduit en anglais et allemand, j’ai pris le temps de le traduire en français et vous l´envoie comme un petit cadeau pour vos Fêtes des Mères et la fête VU LAN.

Mathilde Tuyet Tran, En Picardie – France 2004,

republié en 23 Mai 2013 et 22 Janvier 2022

Cette année 2013 la fête Vu Lan, le 15e jour du septième mois lunaire, tombe le 21.08. Vu Lan est une fête bouddhiste pour manifester le regret des péchés commis, célébrer la résipiscence en faisant des offrandes et des prières au bénéfice des défunts de la famille et des âmes errantes.

Le Tableau "La Liberté" (la rose blanche), peinture à l'huile sur toile de MathildeTuyetTran, 120 cm x 140 cm

Le tableau « La Liberté » (la rose blanche), peinture à l’huile sur toile de MathildeTuyetTran, 120 cm x 140 cm

La notion  » Maman » ne peut être séparée de la notion « Amour ». Et l´amour est une matière sucrée, douce et délicate. Sans avoir connu l´amour un enfant ne peut pas évoluer, un adulte ne peut pas complètement se développer. Sans amour nous sommes faibles et assoiffés.

Le jour, òu ma mère est morte, j’ai écris dans mon journal: le plus grand malheur de ma vie est arrivé. Même une personne âgée ne se sent pas prête pour cet événement. Elle sent, qu´il est encore trop tôt pour être  seule, tout d´un coup. Elle se sent abandonnée, comme un orphelin.

Tous les chants – écrits pour célébrer les Mamans – sont jolis, naturellement jolis. Chaque poète et compositeur – même peu talentueux – s´engage de tout cœur dans ce travail. Et tous ceux qui chantent ou récitent ces œuvres ressentent une émotion profonde, s’ils n’ont pas déjà perdu tôt leur Maman, pour pouvoir reconnaître cet amour maternel. Les chants et les poèmes existent depuis que le monde est monde et il y a encore et toujours de nouvelles œuvres.

Quand j’étais petite, j´écoutais un poème simple sur la perte de la Maman. Ce poème sonne aujourd’hui encore dans mon cœur. Si vos Mamans sont encore vivantes, au moment vous lisez ce poème en ressentant un doux sentiment, vous allez – même si le moment n’est pas encore arrivé – avoir peur de cet instant inévitable.

Dans l’année ou ma mère m´a quitté,

j’étais si jeune et je ressentais

d´être un orphelin abandonné.

On pleurait autour de moi,

seul, je souffrais en silence.

Tant que je laissais mes larmes couler,

ma douleur s’ affaiblissait.

Le crépuscule enveloppait le cercueil de ma mère

Les cloches de l´église sonnaient doucement dessus du cimetière

Je ressentais la perte de ma Maman

Comme la perte de tout mon univers.

Pendant plusieurs années Maman nous imprègne de sa tendresse et de son amour. On s´y se sent bien mais on ne s´en rend pas compte. C’est seulement, quand tout est déjà trop tard, que l’on s´en aperçoit. Les gens de la campagne ne sont pas habitués a s´exprimer comme les citadins. Ces derniers, décrivant une mère comme une « richesse d´amour », s´expriment de manière trop sophistiqué pour les gens de la campagne.

Les paysans du Vietnam, comparent la Maman avec les bananes qui sentent bon, avec le miel le plus fin, avec le riz sucré de la nouvelle récolte ou avec le meilleur sucre d´orge. Ils expriment leur amour d’une façon très simple et directe. Pour moi,

Maman est une bonne banane,

un bon riz gluant

ou une délicieuse canne à sucre !

C’est si délicieux !

Parfois, quand tu as la fièvre, tu as un mauvais goût dans la bouche et tu discerne plus les bons goûts.

Seulement quand ta Maman vient, te couvre jusqu’au cou avec une couverture, met sa main sur ton front brûlant (c’est sa main ou la soie du ciel ?) et murmure très doucement « mon pauvre chéri « , tu sens l´aide et le soin, tu te sens entouré de l´amour sucré maternel. Son amour sent bon comme une banane, comme le nouveau riz, comme le meilleur miel et la canne à sucre. Son amour est immortel et inépuisable.

Le travail du père est énorme, grand comme un montagne. L´amour de la mère est l’eau de la source. L´amour de la mère est le premier goût d´amour, l’origine des sentiments amoureux. La Maman est le premier professeur, qui nous enseigne l´amour – l´essentiel dans la vie. Sans la Maman, nous ne savons pas aimer. Grâce à elle on peut aimer ses proches. Grâce à elle on peut aimer les êtres vivants. Grâce à elle on a appris d’avoir la compréhension et la compassion  pour les autres. Maman est l’origine de l´amour, et c’est pourquoi la notion « Mère » domine la notion d´amour dans les religions qui enseignent le devoir « aimer « .

La plus part des religions portent connaissance et béatifient la mère, comme Marie ou Kuan Yin. Aucun bébé ne pleure, sans que la maman – courant au berceau – le console. Maman apparaît comme un ange qui fait oublier tous les malheurs et les problèmes. Seul le mot « Maman » remplit le cœur d´amour. Et la distance entre l’esprit aimer de façon religieuse à acte de compassion n’est pas si loin. En occident on n’a pas la fête Vu Lan comme chez nous, mais on célèbre au mois de mai «la Fête des Mères« . Je suis de la campagne et je n’ai jamais entendu parler de cette fête. Un jour, alors que j’étais avec le moine Thien An pour une visite dans le quartier Ginza de Tokio, nous avons rencontré un groupe d´étudiant japonais devant une librairie, qui était de ses amis. L’une d’eux lui posa une question discrètement et ensuite elle a sorti de son sac une fleur blanche et l´accrocha à ma robe de moine. J’étais étonné et j´avais honte en même temps. Je n’avais aucune idée du sens de ce geste mais je n´osais pas poser de question. J´essayais de me comporter normalement en me disant que cela devait être une coutume de ce pays.

Quand ils eurent terminé leur conversation, nous rentrâmes dans la librairie et Maître Thien An me confia qu´aujourd’hui c’était la Fête des Mères. Si la mère est vivante – d’après la coutume japonaise – on se mets une fleur rouge sur le revers et on est fier d’avoir encore sa Maman. Si la Maman est décédée, on se mets une fleur blanche. Je regardais ma fleur blanche et je me sentais soudain très malheureux.

Je suis donc un orphelin abandonné et malheureux comme tous les autres orphelins abandonnés et malheureux. On ne peux plus avoir la fierté de porter une fleur rouge. Ceux qui portent une fleur blanche portent la douleur et ne peuvent pas s´ empêcher de penser à leurs Mamans. Ils ne peuvent pas oublier qu’elle existait. Ceux qui portent une fleur rouge sont heureux, car ils savent que leur Maman est encore là. Ils ont donc encore la possibilité de lui faire plaisir, avant qu’il ne soit trop tard.

Je trouve cette coutume est très jolie et souhaite qu’on introduise les fleurs rouges et blanches pour notre fête de piété Vu Lan.

La Maman est une source intarissable d´amour, un trésor inépuisable. Malheureusement on oublie cela trop facilement. Elle est le plus grand cadeau de la vie pour nous,  pour ceux qui l’ont eu et ceux qui l’ont encore.

Si vos mères vivent encore, n´attendez pas jusqu´après leur mort pour vous dire « Mon Dieu ! j’ai vécu pendant des années à coté d´elle, sans vraiment la voir. Sauf parfois, un regard furtif et quelques mots pour lui demander mon argent de poches ou quelques choses d´autres «.

Tu t´ est collé à son corps pour te réchauffer, tu pleure tous tes malheurs avec elle et tu te fâche contre elle, tu lui cause des soucis, pourtant elle s´occupe de toi en oubliant même sa santé. A cause de toi elle se lève tôt et se couche tard.

Il y a des mamans qui meurent tôt pour leurs enfants. On attend pendant toute la vie, qu’elle nous fasse la cuisine, lave notre linge, fasse le ménage proprement, pendant que nous sommes occupés à nous faire des soucis sur les notes et les carrières. Notre Maman n’a pas suffisamment de temps pour regarder au fond de nous et nous sommes très occupés pour la voir précisément.

C’est seulement quand elle n’est plus là, que l´on se rend compte, d’avoir eu une Maman.

Ce soir, quand tu rentres de l’école ou du travail, ou quand tu habites loin d´elle – la prochaine fois quand tu lui rends visite – rentre dans sa chambre et assieds toi  en souriant doucement à coté d´elle. Elle va arrêter son travail sans un mot. Regard dans ses yeux, longtemps et profondément.

Fais cela, pour voir ta Maman et pour voir qu’elle est là, vivante à côté de toi. Prend sa main et pose lui une petite question « Maman, tu sais.. « pour attirer son attention. Elle s´ étonnera et sourira et te répondra « quoi, mon chéri ? «. Continue à regarder doucement dans ses yeux en lui disant  » Tu sais, Maman, que je t´aime ? » Pose lui cette question sans attendant sa réponse. Même si tu as trente ans, quarante ans ou beaucoup plus vieux, pose lui cette question étant son enfant.

Ta maman et toi éprouverez un sentiment de bonheur, prenant conscience que vous vous aimez. Et demain, si elle te quitte, tu ne dois pas te reprocher, que tu ne lui a pas dit ces mots. Au Vietnam nous avons la tradition d´écouter à la fête Vu Lan (Ullambana – l´histoire et légende de Mandagalyayama ) l´amour de l’enfant, le travail du père, la sacrifice de la Maman et la piété des enfants envers les enfants. Chaque enfant prie pour la longue vie des parents – s’ils sont décédés – pour une heureuse incarnation sur un haut niveau.

Nous croyons, qu’un enfant qui n’aime pas ses parents, n’a lui-même aucune valeur. De la piété de l’enfant pour ses parents nait l´amour. Mais sans l´amour, la piété jouée vis à vis des parents, n’est qu’une hypocrisie, pauvre, maladroite et fatigante. Quand l´amour existe, il ne faut pas ajouter quoique se soit – cela suffit comme ça.

Aimer sa Maman, c’est suffisant. Cela n’est pas un devoir, c’est une chose naturelle comme boire de l’eau quand on a soif. Chaque enfant a sa Maman et aime naturellement sa Maman. La mère aime l’enfant et l’enfant aime sa mère. L’enfant a besoin de sa mère et sa mère a besoin de lui. Si la mère n’a pas besoin de son enfant et l’enfant n’a pas besoin de sa mère, elle n’est pas mère et l’enfant n’est pas l’enfant. C’est dont une violation des mots « Mère » et « Enfant ».

Quand j’étais jeune, me demanda mon professeur « que dois tu faire, si tu aimes ta Maman ? ». Je lui répondais « je dois lui obéir, l´aider, m´occuper d´elle quand elle sera vieille et prier pour elle. Je vais m´occuper de son autel, quand elle disparaîtra derrière les montagnes. « . Aujourd’hui je sais, que cette question était mal posée.

Quand tu aimes ta mère, tu ne devrais rien faire. Tu l´aimes, et cela suffit. Aimer sa mère n’est pas une question de moral ni de bon caractère. S´il te plaît, ne pense pas que je suis en train de te donner une leçon de moral. Aimer sa mère est pour toi une question de profit. Ta Maman est la sources des eaux les plus claires, le miel le plus fin, la canne à sucre le plus délicat, le meilleur riz. Si tu ne sais pas profiter de ta Maman, c’est dommage pour toi.

Je voudrais seulement te donner un conseil pour t´aider à éviter, qu’un jour tu te plaignes, qu’il ne te reste plus rien de ta vie. Si tu n’es pas content de la présence de ta Maman, tu ne serais pas même content si tu étais Président d’une grande nation ou Seigneur de l´Univers.

Je voudrais te raconter une histoire. S´il te plaît, ne pense pas que je me disperse. Je n’aurais pas du être Moine et ma sœur ne serais pas mariée : Dans les deux cas, nous avons quitté notre Maman, ma sœur, pour vivre avec son mari, et moi, pour suivre mon idéal.

Dans la nuit précédent le mariage de ma sœur, Maman s´ occupait de mille choses, elle n’avait pas l’air triste. Lorsque nous étions à table pour manger un peu, en attendant l´ arrivée de la famille du marié, j´avais remarqué que Maman ne mangeait rien. Elle disait « dix-huit ans elle a mangé avec nous à table – aujourd’hui c’est la dernière fois. Demain elle sera dans une autre famille et elle mangera avec eux «. Ma sœur pleurait. Penchée sur son assiette, disait ma sœur « Maman, je ne me marierai pas «. Mais elle s’est mariée. J’ai quitté Maman pour être Moine.

Je félicite tous ceux qui quittent leurs familles pour être Moine. Ils suivent leur chemin d’esprit, mais je ne suis pas fier de cela. J’aime ma mère – mais j’ai mon idéal de vie – et pour suivre mon idéal j’ai quitté ma mère, même si cela me faisait mal au cœur.

Parfois il est nécessaire de prendre une telle décision. C’est difficile, mais si on veut se développer, on doit accepter de souffrir. Tu ne peux pas tout avoir dans la vie.

Je ne regrette pas d’avoir quitté ma mère pour être Moine, mais il me coûte d’avoir pris cette décision. Il ne m’est plus possible de profiter de ce trésor inépuisable.

Chaque nuit je prie pour ma Maman mais il m’est plus possible de profiter de la banane délicieuse, du riz gluant excellent et la canne à sucre délicat.

Ne pense pas que je te conseille, d´abandonner ta carrière pour rester à la maison à côté de ta Maman. Je te l´ai déjà dit, je ne veux pas te donner une leçon de moral. Je veux juste te rappeler que ta Maman est comme la banane délicieuse, le riz gluant excellent et la canne à sucre délicat, elle est l´amour.

Elle est AMOUR et DOUCEUR – alors mes frères et sœurs bien-aimés – n´oubliez pas cela, s´il vous plaît ! Si vous oubliez cela, vous aurez des douleurs immenses inévitables. Je vous souhaite, de ne pas être malheureux à cause de votre Inattention et de votre Ignorance.

Je suis heureux, quand je peux vous mettre une fleur rouge, cette rose, et que vous en êtes heureux, c’est tout.

Si je pouvais vous faire la proposition suivante:

Ce soir, quand tu rentres de l’école ou du travail, ou quand tu habites loin d´elle – la prochaine fois quand tu lui rends visite – rentre dans sa chambre et assieds toi en souriant doucement à côté d´elle. Elle va arrêter son travail sans un mot. Regard dans ses yeux, longtemps et profondément.

Fais cela, pour voir ta Maman et pour voir qu’elle est là, vivante à côté de toi. Prend sa main et pose lui une petite question « Maman, tu sais.. « pour attirer son attention. Elle s´ étonnera et sourira et te répondra « quoi, mon chéri ? «. Continue à regarder doucement dans ses yeux en lui disant « Tu sais, Maman, que je t´aime ? Pose lui cette question sans attendant sa réponse. Même si tu as trente ans, quarante ans ou beaucoup plus vieux, pose lui cette question étant son enfant.

Ta maman et toi éprouveront un sentiment de bonheur, prenant conscience que vous vous aimez. Et demain, si elle te quitte, tu ne dois pas te reprocher, que tu ne lui a pas dit ces mots.

C’est le refrain, que je vous donne pour chanter ce soir, mes frères et sœurs bien-aimées, s’ils vous plaisent, chantez le, pour que vous ne viviez pas dans l´ignorance et l´inattention.

Je vous mets cette rose rouge et soyez heureux.

(traduit par MTT)

Eine Rose für Dich

Der Begriff « Mutter » kann von dem « Liebe » nicht getrennt werden. Liebe ist süß, zart und delikat. Ohne Liebe kann ein Kind nicht blühen, ein Erwachsener sich nicht voll entwickeln. Ohne Liebe sind wir schwach und verwittern. An dem Tag, als meine Mutter starb, machte ich folgende Eintragung in mein Tagebuch: Das größte Unglück in meinem Leben ist geschehen. Selbst ein älterer Mensch fühlt sich darauf völlig unvorbereitet. Er fühlt, daß die Zeit noch nicht reif ist und er plötzlich alleine ist. Er fühlt sich verlassen wie ein Waisenkind.

Alle Lieder, die die Mutter preisen sind schön, ungezwungen schön. Selbst jene Poeten und Liederschreiber, die wenig Talent besitzen, gehen mit ganzem Herzen an diese Arbeit. Jene, die diese Lieder und Stücke vorführen, empfinden dabei tiefe Rührung, wenn sie nicht die Mutter schon zu früh verloren haben, um zu wissen was Mutterliebe ist. Lieder und Gedichte, die die Mutter lobpreisen, gibt es schon seit Anfang aller Zeiten und wird es wohl immer geben.

Als ich noch ein Kind war, hörte ich ein einfaches Gedicht, über den Verlust der Mutter. Es ist noch heute tief in meinem Herzen. Wenn eure Mutter noch lebt werdet ihr, wann immer ihr es lest, ihr gegenüber ein zärtliches Gefühl empfinden, und ihr werdet den, wenn auch noch nicht gekommenen, so doch unvermeidlichen Zeitpunkt fürchten.

In jenem Jahr, als meine Mutter mich verließ,

war ich noch so jung und fühlte,

daß ich ein verlassener Weise war.

Alle um mich haben geweint,

nur ich habe in Stille gelitten.

Als ich den Tränen ihren Lauf ließ,

da linderte sich mein Schmerz.

Die Dämmerung umhüllte Mutter’s Sarg,

leise klangen die Glöckchen vom Friedhof.

Mir wurde bewußt, daß die Mutter zu verlieren,

den Verlust des ganzen Universums bedeutet.

Für so viele Jahre taucht sie uns in eine Welt voll Zärtlichkeit und Liebe. Wir fühlen uns wohl darin und bemerken es gar nicht. Erst wenn es zu spät ist, wird es uns bewußt.

Die Leute vom Lande verstehen sich nicht so sehr darin, sich gewählt auszudrücken, wie die Leute aus der Stadt. Bezeichnen die Stadtmenschen eine Mutter als einen unermeßlichen Reichtum an Liebe, so ist das schon zu kompliziert für sie.

Die Leute vom Lande in Vietnam, vergleichen die Mutter mit den duftendsten Bananen, mit feinstem Bienenhonig, mit leckerem süßen Reis von bester Qualität oder mit bestem Rohrzucker. Sie drücken ihre Liebe auf diese einfache, direkte Weise aus. Für mich ist die Mutter wie eine BA HUONG Banane von bester Qualität, wie bester NEP MOT süßer Reis, wie der allerleckerste MIA LAU Rohrzucker!

Manchmal, wenn du Fieber hast, hast du einen bitteren, flauen Geschmack im Mund und nichts schmeckt dir. Nur wenn die Mutter kommt, dir sanft die Decke übers Kinn zieht, ihre Hand auf deine brennende Stirn legt (ist es wirklich eine Hand oder ist es himmlische Seide?) und sanft flüstert « mein armer Liebling », fühlst du Hilfe und Pflege, umgeben von der Süße mütterlicher Liebe. Ihre Liebe ist so duftend wie eine Banane, wie süßer Reis, bester Honig und Rohrzucker.

Vater’s Arbeit ist enorm, so groß wie ein Berg. Mutter’s Respekt ist überflutend wie eine Quelle. Mutterliebe ist der erste Geschmack von Liebe, der Ursprung aller Liebesgefühle. Die Mutter ist der erste Lehrer, der uns Liebe lehrt – das wichtigste im Leben. Ohne die Mutter, wüßten wir nicht – wie zu lieben. Dank ihrer können wir unseren Nächsten lieben. Dank ihrer können wir alle Wesen lieben. Durch sie haben wir gelernt Verständnis und Mitgefühl zu entwickeln. Mutter ist das Fundament aller Liebe. Die meisten Religionen anerkennen dies und verehren Mutterfiguren, wie Mutter Maria oder Mutter Kuan Yin.

Kaum ein Baby beginnt zu weinen ohne eine Mutter, die auf die Wiege zuläuft, um es zu trösten. Mutter ist sanfter, süßer Geist, der alles unglücklich sein und sorgen vergessen läßt. Nur das Wort Mutter zu hören, läßt das Herz mit Liebe erfüllen.

Im Westen wird im Mai der Muttertag gefeiert. Ich komme vom Lande, in Vietnam und habe noch nie von dieser Tradition gehört. Eines Tages als ich mit dem Mönch Thein An zu Besuch im Ginza Bezirk in Tokyo war, trafen wir vor einem Buchladen einige japanische Studenten, die seine Freunde waren. Einer von ihnen fragte ihn diskret eine Frage. Daraufhin zog er eine weiße Blüte aus der Tasche und heftete sie mir an die Robe. Ich war überrascht und etwas beschämt. Ich hatte keine Ahnung was diese Geste zu bedeuten hatte, traute mich aber auch nicht danach zu fragen. Ich versuchte mich so natürlich wie möglich zu verhalten und dachte bei mir, daß es wohl ein einheimischer Brauch sei. Als sie ihr Gespräch beendet hatten, gingen wir in den Buchladen und Thien An verriet mir, daß heute Muttertag ist. Ist die Mutter noch am Leben, so ist es in Japan der Brauch, daß man sich eine rote Blume ansteckt, stolz darauf, noch eine Mutter zu haben. Ist die Mutter schon verstorben, so steckt man sich eine weiße Blüte an.

Ich sah auf die weiße Blüte an meiner Robe und fühlte mich plötzlich sehr unglücklich. Ich war ein genauso unglückliches, verlassenes Waisenkind wie jedes andere unglückliche Waisenkind. Wir konnten nicht mehr stolz eine rote Blume tragen. Diejenigen die weiße Blüten tragen leiden und sie können nicht vermeiden, daß ihre Gedanken zurück zu ihrer Mutter schweifen. Sie können nicht vergessen, daß sie nicht mehr da ist. Diejenigen, die rote Blüten tragen, sind so glücklich, denn sie wissen, daß ihre Mutter noch lebt. Sie haben noch die Möglichkeit, ihr eine Freude zu bereiten, bevor es zu spät ist. Ich wollte wir könnten auch in Vietnam und im Westen, einen solchen Brauch einführen.

Mutter ist ein nicht enden wollender Quell von Liebe, ein unerschöpflicher Schatz. Unglücklicherweise vergessen wir das nur zu leicht. Ist eure Mutter noch am Leben, so wartet nicht bis nach ihrem Tode, um zu sagen: « Oh Gott! Ich habe jahrelang neben ihr gelebt, ohne sie je richtig anzusehen. Manchmal ein kurzer Blick und ein paar Worte, um etwas Taschengeld oder sonst was von ihr zu erbitten. »

Du hast dich an sie gekuschelt, um dich zu wärmen, hast dich bei ihr ausgeweint und warst ärgerlich auf sie. Sie hat sich um dich gesorgt und dabei ihre eigene Gesundheit vernachlässigt. Deinetwegen ist sie früh aufgestanden und spät zu Bett gegangen.

Viele Mütter sterben ihrer Kinder wegen. Ihr ganzes Leben erwarten wir von ihr, daß sie für uns kocht, wäscht und hinter uns sauber macht, während wir damit beschäftigt sind, an unsere guten Noten und unsere Karriere zu denken. Unsere Mütter haben keine Zeit mehr tief in uns hineinzuschauen und wir sind viel zu beschäftigt um sie genau anzusehen. Erst wenn sie nicht mehr ist, werden wir uns dessen bewußt, eine Mutter gehabt zu haben.

Heute abend, wenn du von der Schule oder von der Arbeit nach Hause kommst, oder wenn du weit von ihr entfernt wohnst – das nächste mal wenn du sie besuchst, geh in ihr Zimmer und mit ruhigem, sanftem Lächeln setze dich zu ihr. Ohne zu sprechen, laß sie selbst ihre Arbeit niederlegen. Dann sieh ihr lange und tief in die Augen. Mach das, um sie zu sehen, um zu sehen, daß sie da ist, sie lebt neben dir. Nimm ihre Hand und frage sie diese eine kurze Frage, um ihre Aufmerksamkeit zu erwecken: « Mutter, weißt du was? » Sie wird etwas überrascht sein und vielleicht lächeln, wenn sie dich fragt: « Was, mein Liebes? »

Schau ihr weiterhin sanft in die Augen und sag ihr: « Weißt Du, daß ich dich liebe? »

Frag sie diese Frage ohne auf eine Antwort zu warten. Selbst wenn du schon dreißig, vierzig oder mehr Jahre alt bist, frag sie diese Frage als ihr Kind. Deine Mutter und auch du wirst glücklich sein, in der Bewußtheit daß ihr einander liebt. Und morgen – wenn sie dich verläßt – wirst du dir nicht vorwerfen dies versäumt zu haben.

In Vietnam haben wir die Tradition am Ullambana Festtag den Geschichten und Legenden über Mandagalyayama, über kindliche Liebe, die Arbeit des Vaters, die Ergebenheit der Mutter und die Pflichten der Kinder zu hören. Jeder betet für ein langes Leben der Eltern – oder wenn diese schon verstorben sind – für deren glückliche Wiedergeburt in höheren Daseinsebenen.

Wir glauben, daß ein Kind, daß seine Eltern nicht liebt, nichts wert ist. Auch die Zuneigung des Kindes zu seinen Eltern entspringt der Liebe. Ohne Liebe ist Respekt gegenüber den Eltern nur gekünstelt. Ist Liebe vorhanden, so muß nichts mehr zugetan werden – es ist dann recht so.

Die Mutter zu lieben ist genug. Dies ist keine Pflicht, sondern so natürlich wie trinken wenn man durstig ist. Jedes Kind muß eine Mutter haben und es scheint nur natürlich sie zu lieben. Die Mutter liebt ihr Kind und das Kind liebt seine Mutter. Das Kind braucht seine Mutter und die Mutter braucht ihr Kind. Braucht die Mutter ihr Kind nicht, so ist dies keine Mutter und es ist kein Kind. Es wäre ein Mißbrauch der Wörter Mutter und Kind.

Als ich noch jung war fragte mich einer meiner Lehrer: »Was sollst du tun, wenn du deine Mutter liebst? » Ich antwortete ihm: »Ich muß ihr gehorchen, ihr helfen, mich um sie kümmern wenn sie alt ist und für sie beten. Ich muß mich um den Ahnenaltar kümmern, wenn sie für immer hinter dem Berg verschwunden ist. » Heute weiß ich, daß die Frage « was » unangebracht war. Wenn du deine Mutter liebst, so mußt du überhaupt nichts tun. Du liebst sie – das ist genug. Die Mutter zu lieben, ist keine Frage von Moral und Tugend.

Bitte denke nicht, ich hätte dies geschrieben um dich moralisch zu belehren. Deine Mutter zu lieben ist eine Frage von Profit. Die Mutter ist wie eine Quelle reinsten Wassers, wie feinster Honig, wie delikater Rohrzucker, wie süßer Reis von bester Qualität. Wenn du es nicht verstehst von ihr zu profitieren, so ist dies schade für dich.

Ich möchte dich bloß darauf aufmerksam machen, dir helfen es zu vermeiden, daß du dich eines Tages beschwerst, daß dir nichts im Leben geblieben ist. Stellt dich ein Geschenk wie die Anwesenheit der Mutter nicht zufrieden, so würdest du selbst als Präsident einer großen Gesellschaft oder als Herrscher des ganzen Universums, nicht zufrieden sein.

Ich möchte dir eine Geschichte erzählen. Bitte glaube nicht ich wäre gedankenlos. Es wäre auch möglich gewesen, daß meine Schwester nicht geheiratet hätte, und ich nicht Mönch geworden wäre. In beiden Fällen haben wir unsere Mutter verlassen – sie um ein neues Leben an der Seite des Mannes zu führen, den sie liebt und ich, um meinem Ideal von einem Leben zu folgen.

In der Nacht bevor meine Schwester geheiratet hat, sorgte sich Mutter um tausend und ein Ding, sie schien überhaupt nicht traurig. Als wir uns aber zusammen an den Tisch setzten, um einen kleinen Imbiß zu nehmen, während wir auf die Familie ihres zukünftigen Mannes warteten, bemerkte ich, daß sie keinen Bissen zu sich genommen hatte. Sie sagte: « Achtzehn Jahre lang hat sie mit uns gegessen – heute ist es das letzte Mal. Morgen geht sie zu einer anderen Familie, um deren Mahlzeiten zu nehmen. » Meine Schwester hat geweint. Über ihren Teller gebeugt sagte sie: « Mama, ich werde nicht heiraten ». Sie hat dann aber doch geheiratet.

Ich verließ meine Mutter um Mönch zu werden. Ich gratuliere jenen, die ihre Familie völlig losgelöst verlassen, um Mönch zu werden. Man sagt sie folgen dem geistigen Weg – aber ich bin nicht stolz darauf. Ich liebe meine Mutter – aber ich habe auch eine Idealvorstellung, was mein Leben betrifft – um dieser zu folgen, habe ich meine Mutter verlassen müssen, so schlimm das auch für mich war. Manchmal ist es nötig, solch schwierige Entscheidungen zu treffen. Es ist schwierig, aber wenn wir akzeptieren aufzuwachsen, so müssen wir auch akzeptieren zu leiden. Ich bereue nicht, meine Mutter verlassen zu haben, um Mönch zu werden aber es tat mir leid, eine solche Entscheidung treffen zu müssen. Es war mir nicht möglich voll von diesem Schatz zu profitieren. Jede Nacht bete ich für meine Mutter aber es ist mir nicht mehr möglich, diese duftende BA HUONG Banane, diesen exzellenten NEP MOT süßen Reis und den delikaten Rohrzucker zu genießen.

Denke nicht, daß ich dir empfehle, deine Karriere aufzugeben, um zu Hause an der Seite deiner Mutter zu leben. Ich habe bereits erwähnt, daß ich dir keinen Moralvortrag halten will. Ich möchte dich nur daran erinnern, daß Mutter einer dieser schmackhaften Bananen, dem süßen Reis, Honig und bestem Rohrzucker gleicht.

Sie ist Liebe und Zärtlichkeit – drum liebe Brüder und Schwestern – VERGEßT SIE BITTE NICHT!

Vergessen führt dazu, daß ihr einen imensen Verlust erleiden werdet. Ich hoffe, ihr werdet nicht aus Unwissenheit oder Unachtsamkeit, einen solchen Verlust erleiden müssen.

Ich freue mich, daß ich euch diese rote Blume, diese Rose, anstecken kann – auf daß ihr glücklich sein könnt – das ist alles.

Wenn ich euch einen Vorschlag machen darf, so ist das jener: Heute Abend, wenn ihr von der Schule oder von der Arbeit nach Hause kommt oder nächstes Mal, wenn ihr eure Mutter besucht, falls ihr weit von ihr entfernt wohnt, geht still in ihr Zimmer und mit einem sanften Lächeln, setzt euch an ihre Seite. Ohne etwas zu sagen, laßt sie ihre Arbeit beenden. Seht sie euch lange und gut an. Seht sie an, um zu realisieren, daß sie wirklich da ist, daß sie leibhaftig neben euch sitzt. Dann nehmt ihre Hand und fragt sie diese eine kurze Frage: « Mutter weißt du was? » Wahrscheinlich wird sie ein wenig überrascht sein und vielleicht lächeln, wenn sie euch fragt: « Was, mein Liebes? ». Betrachtet sie weiter mit einem reinen Lächeln und sagt zu ihr: « Weißt Du daß ich dich liebe? »

Fragt sie diese Frage ohne auf eine Antwort zu warten. Selbst wenn ihr schon dreißig, vierzig oder mehr Jahre alt seit, fragt sie diese Frage als ihr Kind. Eure Mutter und ihr, werdet glücklich sein, in der Bewußheit dieser gegenseitigen Liebe. Und morgen – wenn sie euch verläßt – werdet ihr nicht bereuen, dies versäumt zu haben.

Das ist der Refrain, den ich euch heute zum singen gebe.

Brüder und Schwestern, bitte singt ihn – singt ihn auf daß ihr nicht in Unwissenheit und Vergeßlichkeit lebt.

Diese rote Rose hab ich euch angesteckt – BITTE SEID GLÜCKLICH!

A Rose for Your Pocket

The thought « mother » cannot be separated from that of « love ». Love is sweet, tender, and delicious. Without love, a child cannot flower, an adult cannot mature. Without love, we weaken, wither.

The day my mother died, I made this entry in my journal: « the greatest misfortune of my life has come ! ». Even an old person, when he loses his mother, doesn’t feel ready. He too has the impression that he is not yet ripe, that he is suddenly alone. He feels as abandoned and unhappy as a young orphan.

All songs and poems praising motherhood are beautiful, effortlessly beautiful. Even songwriters and poets without much talent seem to pour their hearts into these works, and when they are recited or sung, the performers also seem deeply moved, unless they have lost their mothers too early even to know what love for mother is. Writings extolling the virtues of motherhood have existed since the beginning of time throughout the world.

When I was a child I heard a simple poem about losing your mother, and it is still very important for me. If your mother is still alive, you may feel tenderness for her each time you read this, fearing this distant yet inevitable event.

That year, although I was still very young
my mother left me,
and I realised that I was an orphan,

everyone around me was crying,
I suffered in silence…
Allowing the tears to flows,
I felt my pain soften.
Evening enveloped
Mother’s tomb,
the pagoda bell rang sweetly.
I realised that to lose your mother
is to lose the whole universe.

We swim in a world of tender love for many years, and, without even knowing it, we are quite happy there. Only after it is too late do we become aware of it.

People in the countryside do not understand the complicated language of city people. When people from the city say that mother is « a treasure of love », that is already too complex for them. Country people in Vietnam compare their mothers to the finest varieties of bananas or to honey, sweet rice, or sugar cane. They express their love in these simple and direct ways. For me, a mother is like a « ba hương » banana of the highest quality, like the best « nếp một » sweet rice, the most delicious « mía lau » sugar cane!

There are moments after a fever when you have a bitter, flat taste in your mouth, and nothing tastes good. Only when your mother comes and tucks you in, gently pulls the covers over your chin, puts her hand on your burning forehead (Is it really a hand, or is it the silk of heaven?), and gently whispers, « My poor darling! » do you feel restored, surrounded with the sweetness of maternal love. Her love is so fragrant, like a banana, like sweet rice, like sugar cane.

Father’s work is enormous, as huge as a mountain. Mother’s devotion is overflowing, like water from a mountain spring . Maternal love is our first taste of love, the origin of all feelings of love. Our mother is the teacher who first teaches us love, the most important subject in life. Without my mother I could never have known how to love. Thanks to her I can love my neighbours. Thanks to her I can love all living beings. Through her I acquired my first notions of understanding and compassion.

Mother is the foundation of all love, and many religious traditions recognise this and pay deep honour to a maternal figure, the Virgin Mary, the goddess Kwan Yin. Hardly an infant has opened her mouth to cry without her mother already running to the cradle. Mother is a gentle and sweet spirit who makes unhappiness and worries disappear. When the word « mother » is uttered, already we feel our hearts overflowing with love. From love, the distance to belief and action is very short.

In the West, we celebrate Mother’s Day in May. I am from the countryside of Vietnam, and I had never heard of this tradition. One day, I was visiting the Ginza district of Tokyo with the monk Thien An, and we were met outside a bookstore by several Japanese students who were friends of his. One discretely asked him a question, and then took a white carnation from her bag and pinned it on my robe. I was surprised and a little embarrassed. I had no idea what this gesture meant, and I didn’t dare ask. I tried to act natural, thinking this must be some local custom.

When they were finished talking (I don’t speak Japanese), Thien An and I went into the bookstore, and he told me that today was what is called Mother’s Day. In Japan, if your mother is still alive, you wear a red flower on your pocket or your lapel, proud that you still have your mother. If she is no longer alive, you wear a white flower. I looked at the white flower on my robe and suddenly I felt so unhappy.

I was as much an orphan as any other unhappy orphan; we could no longer proudly wear red flowers in our buttonholes. Those who wear white flowers suffer, and their thoughts cannot avoid returning to their mothers. They cannot forget that she is no longer there. Those who wear red flowers are so happy, knowing their mothers are still alive. They can try to please her before she is gone and it is too late. I find this a beautiful custom. I propose that we do the same thing in Vietnam, and in the West as well.

Mother is a boundless source of love, an inexhaustible treasure. But unfortunately, we sometimes forget. A mother is the most beautiful gift life offers us. Those of you who still have your mother near, please don’t wait for her death to say, « My God, I have lived beside my mother all these years without ever looking closely at her. »

Just brief glances, a few words exchanged-asking for a little pocket money or one thing or another. You cuddle up to her to get warm, you sulk, you get angry with her. You only complicate her life, causing her to worry, undermining her health, making her go to sleep late and get up early. Many mothers die young because of their children. Throughout her life we expect her to cook, wash, and clean up after us, while we think only about our grades and our careers. Our mothers no longer have time to look deeply at us, and we are too busy to look closely at her. Only when she is no longer there do we realise that we have never been conscious of having a mother.

This evening, when you return from school or work or, if you live far away, the next time you visit your mother, you may wish to go into her room and, with a calm and silent smile, sit down beside her. Without saying anything, make her stop working. Then, look at her for a long time, look at her deeply. Do this in order to see her, to realise that she is there, she is alive, beside you. Take her hand and ask her one short question to capture her attention, « Mother, do you know something? » She will be a little surprised and will probably smile when she asks you, « What, dear? » Keep looking into her eyes, smiling serenely, and say, « Do you know that I love you? » Ask this question without waiting for an answer. Even if you are thirty or forty years old, or older, ask her as the child of your mother. Your mother and you will be happy, conscious of living in eternal love. Then tomorrow, when she leaves you, you will have no regrets.

In Vietnam, on the holiday of Ullambana, we listen to stories and legends about the bodhisattva Maudgalyayana, and about filial love, the work of the father, the devotion of the mother, and the duty of the child. Everyone prays for the longevity of his or her parents, or if they are dead, for their rebirth in the heavenly Pure Land. We believe that a child without filial devotion is just artificial. But filial devotion also arises from love itself. Without love, filial devotion is just artificial. When love is present, that is enough, and there is no need to talk of obligation. To love your mother is enough. It is not a duty, it is completely natural, like drinking when you are thirsty. Every child must have a mother and it is totally natural to love her. The mother loves her child, and the child loves his mother. The child needs his mother, and the mother needs her child. If the mother doesn’t need her child, nor the child his mother, then this is not a mother, and this is not a child. It is a misuse of the words « mother » and « child ».

When I was young, one of my teachers asked me, « What do you have to do when you love your mother? » I told him, « I must obey her, help her, take care of her when she is old, and pray for her, keeping the ancestral altar when she has disappeared forever behind the mountain. » Now I know that the word « What » in his question was superfluous. If you love your mother, you don’t have to do anything. You love her; that is enough. To love your mother is not a question of morality or virtue.

Please do not think I have written this to give a lesson in morality. Loving your mother is a question of profit. A mother is like a spring of pure water, like the very finest sugar cane or honey, the best quality sweet rice. If you do not know how to profit from this, it is unfortunate for you. I simply want to bring this to your attention, to help you avoid one day complaining that there is nothing left in life for you. If a gift such as the presence of your own mother doesn’t satisfy you, even if you are president of a large corporation or king of the universe, you probably will not be satisfied. I know that the Creator is not happy, for the Creator arises spontaneously and does not have the good fortune to have a mother.

I would like to tell a story. Please don’t think that I am thoughtless. It could have been that my sister didn’t marry, and I didn’t become a monk. In any case, we both left our mother — one to lead a new life beside the man she loved, and the other to follow an ideal of life that he adored. The night my sister married, my mother worried about a thousand and one things, and didn’t even seem sad. But when we sat down at the table for some light refreshments, while waiting for our in-laws to come for my sister, I saw that my mother hadn’t eaten a bite. She said, « For eighteen years she has eaten with us and today is her last meal here before going to another family’s home to take her meals. » My sister cried, her head bowing barely above her plate, and she said, « Mama, I won’t get married. » But she married nonetheless. As for me, I left my mother to become a monk. To congratulate those who are firmly resolved to leave their families to become monks, one says that they are following the way of understanding, but I am not proud of it. I love my mother, but I also have an ideal, and to serve it I had to leave her — so much the worse for me.

In life, it is often necessary to make difficult choices. We cannot catch two fish at the same time: one in each hand. It is difficult, because if we accept growing up, we must accept suffering. I don’t regret leaving my mother to become a monk, but I am sorry I had to make such a choice. I didn’t have the chance to profit fully from this precious treasure. Each night I pray for my mother, but it is no longer possible for me to savour the excellent « ba hương » banana, the best quality « nếp một » sweet rice, and the delicious « mía lau » sugar cane. Please don’t think that I am suggesting that you not follow your career and remain home at your mother’s side. I have already said I do not want to give advice or lessons in continuing to look into her eyes with a serene smile, tell her, « Do you know that I love you? » Ask her this question without waiting for an answer. Even if you are thirty, forty years old, or older, ask her simply, because you are the child of your mother. Your mother and you will both be happy, conscious of living in eternal love. And tomorrow when she leaves you, you will not have any regrets.

This is the refrain I give you to sing today. Brothers and sisters, please chant it, please sing it, so that you won’t live in indifference or forgetfulness.

This red rose, I have already placed it on your lapel. Please be happy.

Bông Hồng Cài Áo

Nhất Hạnh – để dâng mẹ và để làm quà Vu Lan cho những người nào có diễm phúc còn mẹ. Medford, Hoa Kỳ, tháng tám, 1962

Ý niệm về mẹ thường không thể tách rời ý niệm về tình thương. Mà tình thương là một chất liệu ngọt ngào, êm dịu và cố nhiên là ngon lành. Con trẻ thiếu tình thương thì không lớn lên được. Người lớn thiếu tình thương thì cũng không « lớn » lên được. Cằn cỗi , héo mòn. Ngày mẹ tôi mất, tôi viết trong nhật ký: Tai nạn lớn nhất đã xẩy ra cho tôi rồi! Lớn đến mấy mà mất mẹ thì cũng như không lớn, cũng cảm thấy bơ vơ, lạc lõng, cũng không hơn gì trẻ mồ côi. Những bài hát, bài thơ ca tụng tình mẹ bài nào cũng dễ, cũng hay.

Người viết dù không có tài ba, cũng có rung cảm chân thành; người hát ca, trừ là kẻ không có mẹ ngay từ thuở chưa có ý niệm, ai cũng cảm động khi nghe nói đến tình mẹ. Những bài hát ca ngợi tình mẹ đâu cũng có, thời nào cũng có. Bài thơ mất mẹ mà tôi thích nhất, từ hồi nhỏ, là một bài thơ rất giản dị. Mẹ đang còn sống, nhưng mỗi khi đọc bài thơ ấy thì sợ sệt, lo âu…. sợ sệt lo âu một cái gì còn xa, chưa đến, nhưng chưa chắc chắn phải đến :

Năm xưa tôi còn nhỏ

Mẹ tôi đã qua đời !

Lần đầu tiên tôi hiểu

Thân phận trẻ mồ côi.

Quanh tôi ai cũng khóc

Im lặng tôi sầu thôi

Ðể dòng nước mắt chảy

Là bớt khổ đi rồi…

Hoàng hôn phủ trên mộ

Chuông chùa nhẹ rơi rơi

Tôi thấy tôi mất mẹ

Mất cả một bầu trời.

Một bầu trời thương yêu dịu ngọt, lâu quá mình đã bơi lội trong đó, sung sướng mà không hay, để hôm nay bừng tỉnh thì thấy đã mất rồi. Người nhà quê Việt nam không ưa cách nói cao kỳ. Nói rằng bà mẹ già là kho tàng của yêu thương, của hạnh phúc thì cũng đã là cao kỳ rồi. Nói mẹ già là một thứ chuối, một thứ xôi, một thứ đường ngọt dịu, người dân quê đã diễn tả được tình mẹ một cách vừa giản dị vừa đúng mức :

Mẹ già như chuối ba hương

Như xôi nếp một, như đường mía lau.

Ngon biết bao ! Những lúc miệng vừa đắng vừa nhạt sau một cơn sốt, những lúc như thế thì không có món ăn gì có thể gợi được khẩu vị của ta. Chỉ khi nào mẹ đến, kéo chăn đắp lên ngực cho ta, đặt bàn tay (Bàn tay ? hay là tơ trời đâu la miên ?) trên trán nóng ta và than thở « khổ chưa, con tôi « , ta mới cảm thấy đầy đủ, ấm áp, thấm nhuần chất ngọt của tình mẹ, ngọt thơm như chuối ba hương, dịu như xôi nếp một, và đậm đà lịm cả cổ họng như đường mía lau. Tình mẹ thì trường cửu, bất tuyệt; như chuối ba hương, đường mía lau, xôi nếp một ấy không bao giờ cùng tận.

Công cha như núi Thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chẩy ra . Nước trong nguồn chảy ra thì bất tuyệt. Tình mẹ là gốc của mọi tình cảm yêu thương. Mẹ là giáo sư dạy về yêu thương, một phân khoa quan trọng nhất trong trường đại học cuộc đời. Không có mẹ, tôi sẽ không biết thương yêu. Nhờ mẹ mà tôi được biết tình nhân loại, tình chúng sinh ; nhờ mẹ mà tôi biết được thế nào là tình nhân loại, tình chúng sinh ; nhờ mẹ mà tôi có được chút ý niệm về đức từ bi. Vì mẹ là gốc của tình thương, nên ý niệm mẹ lấn trùm ý thương yêu của tôn giáo vốn dạy về tình thương.

Ðạo Phật có đức Quan Thế Âm, tôn sùng dưới hình thức mẹ. Em bé vừa mở miệng khóc thì mẹ đã chạy tới bên nôi. Mẹ hiện ra như một thiên thần dịu hiền làm tiêu tan khổ đau lo âu. Ðạo Chúa có đức Mẹ, thánh nữ đồng trinh Maria. Trong tín ngưỡng bình dân Việt có thánh mẫu Liễu Hạnh, cũng dưới hình thức mẹ. Bởi vì chỉ cần nghe đến danh từ Mẹ, ta đã thấy lòng tràn ngập yêu thương rồi. Mà từ yêu thương tín ngưỡng và hành động thì không xa chi mấy bước.

Tây phương không có ngày Vu Lan nhưng cũng có Ngày Mẹ ( Mother’s Day ) mồng mười tháng năm. Tôi nhà quê không biết cái tục ấy. Có một ngày tôi đi với Thầy Thiên Ân tới nhà sách ở khu Ginza ở Ðông Kinh, nửa đường gặp mấy người sinh viên Nhật, bạn của thầy Thiên Ân. Có một cô sinh viên hỏi nhỏ Thầy Thiên Ân một câu, rồi lấy ở trong sắc ra một bông hoa cẩm chướng màu trắng cài vào khuy áo tràng của tôi. Tôi lạ lùng, bỡ ngỡ, không biết cô làm gì, nhưng không dám hỏi, cố giữ vẻ tự nhiên, nghĩ rằng có một tục lệ chi đó. Sau khi họ nói chuyện xong, chúng tôi vào nhà sách, thầy Thiên Ân mới giảng cho tôi biết đó là Ngày Mẹ, theo tục Tây phương. Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo, và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng.

Tôi nhìn lại bông hoa trắng trên áo mà bỗng thấy tủi thân. Tôi cũng mồ côi như bất cứ một đứa trẻ vô phúc khốn nạn nào; chúng tôi không có được cái tự hào được cài trên áo một bông hoa màu hồng. Người được hoa trắng sẽ thấy xót xa, nhớ thương không quên mẹ, dù người đã khuất. Người được hoa hồng sẽ thấy sung sướng nhớ rằng mình còn mẹ, và sẽ cố gắng để làm vui lòng mẹ, kẻo một mai người khuất núi có khóc than cũng không còn kịp nữa. Tôi thấy cái tục cài hoa đó đẹp và nghĩ rằng mình có thể bắt chước áp dụng trong ngày báo hiếu Vu Lan.

Mẹ là một dòng suối, một kho tàng vô tận, vậy mà lắm lúc ta không biết, để lãng phí một cách oan uổng. Mẹ là một món qùa lớn nhất mà cuộc đời tặng cho ta, những kẻ đã và đang có mẹ. Ðừng có đợi đến khi mẹ chết rồi mới nói: « trời ơi, tôi sống bên mẹ suốt mấy mươi năm trời mà chưa có lúc nào nhìn kỹ được mặt mẹ! ». Lúc nào cũng chỉ nhìn thoáng qua. Trao đổi vài câu ngắn ngủi. Xin tiền ăn quà. Ðòi hỏi mọi chuyện. Ôm mẹ mà ngủ cho ấm. Giận dỗi. Hờn lẫy. Gây bao nhiêu chuyện rắc rối cho mẹ phải lo lắng, ốm mòn, thức khuya dậy sớm vì con. Chết sớm cũng vì con. Ðể mẹ phải suốt đời bếp núc, vá may, giặt rửa, dọn dẹp. Và để mình bận rộn suốt đời lên xuống ra vào lợi danh. Mẹ không có thì giờ nhìn kỹ con. Và con không có thì giờ nhìn kỹ mẹ. Ðể khi mẹ mất mình có cảm nghĩ: « Thật như là mình chưa bao giờ có ý thức rằng mình có mẹ! »

Chiều nay khi đi học về, hoặc khi đi làm việc ở sở về, em hãy vào phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và thật bền. Em sẽ ngồi xuống bên mẹ. Sẽ bắt mẹ dừng kim chỉ, mà đừng nói năng chi. Rồi em sẽ nhìn mẹ thật lâu, thật kỹ để trông thấy mẹ và để biết rằng mẹ đang còn sống và đang ngồi bên em. Cầm tay mẹ, em sẽ hỏi một câu ngắn làm mẹ chú ý. Em hỏi:  » Mẹ ơi, mẹ có biết không ? » Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên và sẽ hỏi em, vừa hỏi vừa cười « Biết gì? » Vẫn nhìn vào mắt mẹ, vẫn giữ nụ cười trầm lặng và bền, em sẽ nói: « Mẹ có biết là con thương mẹ không ? » Câu hỏi sẽ không cần được trả lời. Cho dù người lớn ba bốn mươi tuổi người cũng có thể hỏi một câu như thế, bởi vì người là con của mẹ. Mẹ và em sẽ sung sướng, sẽ sống trong tình thương bất diệt. Mẹ và em sẽ đều trở thành bất diệt và ngày mai, mẹ mất, em sẽ không hối hận, đau lòng.

Ngày Vu Lan ta nghe giảng và đọc sách nói về ngài Mục Kiền Liên và về sự hiếu đễ. Công cha, nghĩa mẹ. Bổn phận làm con. Ta lạy Phật cầu cho mẹ sống lâu. Hoặc lạy mười phương Tăng chú nguyện cho mẹ được tiêu diêu nơi cực lạc, nếu mẹ đã mất. Con mà không có hiếu là con bỏ đi. Nhưng hiếu thì cũng do tình thương mà có; không có tình thương hiếu chỉ là giả tạo, khô khan, vụng về, cố gắng mệt nhọc. Mà có tình thương là có đủ rồi. Cần chi nói đến bổn phận. Thương mẹ, như vậy là đủ. Mà thương mẹ không phải là một bổn phận.

Thương mẹ là một cái gì rất tự nhiên. Như khát thì uống nước. Con thì phải có mẹ, phải thương mẹ. Chữ phải đây không phải là luân lý, là bổn phận. Phải đây là lý đương nhiên. Con thì đương nhiên thương mẹ, cũng như khát thì đương nhiên tìm nước uống. Mẹ thương con, nên con thương mẹ. con cần mẹ, mẹ cần con. Nếu mẹ không cần con, con không cần mẹ, thì đó không phải là mẹ là con. Ðó là lạm dụng danh từ mẹ con. Ngày xưa thầy giáo hỏi rằng: « Con mà thương mẹ thì phải làm thế nào? » Tôi trả lời: « Vâng lời, cố gắng, giúp đỡ, phụng dưỡng lúc mẹ về già và thờ phụng khi mẹ khuất núi ». Bây giờ thì tôi biết rằng: Con thương mẹ thì không phải « làm thế nào » gì hết. Cứ thương mẹ, thế là đủ lắm rồi, đủ hết rồi, cần chi phải hỏi  » làm thế nào  » nữa!

Thương mẹ không phải là một vấn đề luân lý đạo đức. Anh mà nghĩ rằng tôi viết bài này để khuyên anh về luân lý đạo đức là anh lầm. Thương mẹ là một vấn đề hưởng thụ. Mẹ như suối ngọt, như đường mía lau, như xôi nếp một. Anh không hưởng thụ thì uổng cho anh. Chị không hưởng thụ thì thiệt hại cho chị. Tôi chỉ cảnh cáo cho anh chị biết mà thôi. Ðể mai này anh chị đừng có than thở rằng: Ðời ta không còn gì cả. Một món quà như mẹ mà còn không vừa ý thì họa chăng có làm Ngọc hoàng Thượng đế mới vừa ý, mới bằng lòng, mới sung sướng. Nhưng tôi biết Ngọc hoàng không sung sướng đâu, bởi Ngọc hoàng là đấng tự sinh, không bao giờ có diễm phúc có được một bà mẹ.

Tôi kể chuyện này, anh đừng nói tôi khờ dại. Ðáng nhẽ chị tôi không đi lấy chồng, và tôi, tôi không nên đi tu mới phải. Chúng tôi bỏ mẹ mà đi, người thì theo cuộc đời mới bên cạnh người con trai thương yêu, người thì đi theo lý tưởng đạo đức mình say mê và tôn thờ. Ngày chị tôi đi lấy chồng, mẹ tôi lo lắng lăng xăng, không tỏ vẻ buồn bã chi.

Nhưng đến khi chúng tôi ăn cơm trong phòng, ăn qua loa để đợi giờ rước dâu, thì mẹ tôi không nuốt được miếng nào. Mẹ nói: « Mười tám năm trời nó ngồi ăn cơm với mình, bây giờ nó ăn bữa cuối cùng rồi thì nó sẽ đi ăn ở một nhà khác ». Chị tôi gục đầu xuống mâm khóc. Chị nói: « Thôi con không lấy chồng nữa ». Nhưng rốt cuộc thì chị cũng đi lấy chồng. Còn tôi thì bỏ mẹ mà đi tu. « Cắt ái từ sở thân » là lời khen ngợi người có chí xuất gia. Tôi không tự hào chi về lời khen đó cả. Tôi thương mẹ, nhưng tôi có lý tưởng, vì vậy phải xa mẹ. Thiệt thòi cho tôi, có thế thôi. Ở trên đời, có nhiều khi ta phải chọn lựa. Mà không có sự chọn lựa nào mà không khổ đau. Anh không thể bắt cá hai tay. Chỉ khổ là vì muốn làm người nên anh phải khổ đau. Tôi không hối hận vì bỏ mẹ đi tu nhưng tôi tiếc và thương cho tôi vô phúc thiệt thòi nên không được hưởng thụ tất cả kho tàng qúi báu đó. Mỗi buổi chiều lạy Phật, tôi cầu nguyện cho mẹ. Nhưng tôi không được ăn chuối ba hương, xôi nếp một và đường mía lau.

Anh cũng đừng tưởng tôi khuyên anh: « Không nên đuổi theo sự nghiệp mà chỉ nên ở nhà với mẹ! ». Tôi đã nói là tôi không khuyên răn gì hết — tôi không giảng luân lý đạo đức — rồi mà! Tôi chỉ nhắc anh: « Mẹ là chuối, là xôi, là đường, là mật, là ngọt ngào, là tình thương ». Ðể chị đừng quên, để em đừng quên.

Quên là một lỗi lớn : Cũng không phải là lỗi nữa, mà là một sự thiệt thòi. Mà tôi không muốn anh chị thiệt thòi, khờ dại mà bị thiệt thòi. Tôi xin cài vào túi áo anh một bông hoa hồng: để anh sung sướng, thế thôi.

Nếu có khuyên, thì tôi sẽ khuyên anh, như thế này. Chiều nay, khi đi học hoặc đi làm về, anh hãy vào phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và bền. Anh sẽ ngồi xuống bên mẹ. Sẽ bắt mẹ dừng kim chỉ, mà đừng nói năng chi. Rồi anh sẽ nhìn mẹ thật lâu, thật kỹ, để trông thấy mẹ và để biết rằng mẹ đang sống và đang ngồi bên anh. Cầm tay mẹ, anh sẽ hỏi một câu ngắn làm mẹ chú ý. Anh hỏi: « Mẹ ơi, mẹ có biết không? » Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên và sẽ nhìn anh, vừa cười vừa hỏi: « Biết gì? » Vẫn nhìn vào mắt mẹ, giữ nụ cười trầm lặng và bền, anh sẽ hỏi tiếp: « Mẹ có biết là con thương mẹ không? » Câu hỏi sẽ không cần được trả lời. Cho dù anh lớn ba bốn mươi tuổi, chị lớn ba bốn mươi tuổi, thì anh cũng hỏi một câu ấy. Bởi vì anh, bởi vì chị, bởi vì em là con của mẹ. Mẹ và anh sẽ sung sướng, sẽ sống trong tình thương bất diệt. Và ngày mai mất mẹ, Anh sẽ không hối hận, đau lòng , tiếc rằng anh không có mẹ.

Ðó là điệp khúc tôi muốn ca hát cho anh nghe hôm nay. Và anh hãy ca, chị hãy ca cho cuộc đời đừng chìm trong vô tâm, quên lãng. Ðóa hoa mầu hồng tôi cài trên áo anh rồi đó. Anh hãy sung sướng đi.

Nhất Hạnh (1962)

Tôi mơ chắp cánh bay về….© Mathilde Tuyết Trần, Pháp 2021

23. décembre 2021

Tôi mơ chắp cánh bay về….© Mathilde Tuyết Trần, Pháp 2021

Bài của MTT dự thi viết của báo Tuổi Trẻ tổ chức « Đoàn viên sau đại dịch » trong số hơn 500 bài vào vòng sơ khởi. Kết quả cuộc thi viết được công bố ngày 22.12.2021 trên báo Tuổi Trẻ. MTT đoạt giải thưởng đặc biệt 10 triệu đồng + Bộ quà tặng Vespa kỷ niệm 75 năm + Mũ bảo hiểm Vespa 75 năm. Toàn bộ số tiền giải thưởng và tiền nhuận bút MTT xin tặng lại cho báo Tuổi Trẻ để làm việc từ thiện. Xin vinh danh báo Tuổi Trẻ trong công việc biên tập bài gởi đến, xuất sắc ! https://tuoitre.vn/cong-bo-tac-gia-doat-giai-doan-vien-sau-dai-dich-20211223070754425.htm

Lễ trao giải thưởng của báo Tuổi Trẻ được tổ chức hôm nay, 08.01.2022, tại đường sách Nguyễn Văn Bình, quận 1, TPHCM: https://tuoitre.vn/sang-nay-trao-giai-cuoc-thi-ra-mat-sach-doan-vien-sau-dai-dich-cong-bo-giai-pham-tuoi-tre-xuan-20220108021526371.htm

MTT_ba_tuyet« Ếch bà, ếch bà…ba ba…đi đi… » đứa con gái ba tuổi chỉ chiếc xe mầu trắng ngà lộng lẫy đòi được đi chơi với ba, và không chờ đợi sự ưng thuận của ba, nó đã leo tót lên chiếc xe, ngồi lọt thỏm vào cái ghế mây đã được cột chặt trên xe, dành riêng cho nó. Má thì vừa ý lắm, ông đi đâu mà có kèm theo đứa con gái rượu thì chẳng thể có « mèo » theo đuổi được. Hai cha con trên chiếc ếch bà lượn một vòng theo « đường xưa lối cũ », từ đường Pasteur theo chiều rẽ tay trái sang Lê Thánh Tôn, chạy chầm chậm qua đường Hàm Nghi thẳng hướng cột cờ Thủ Ngữ, rồi chạy dọc đường bở sông Sài Gòn, ngắm những chiến thuyền đậu ở phân xưởng Ba Son, rẽ tay trái ngang qua khu nhà Nguyện, rồi bọc xuống thằng hướng dinh, đảo vòng quanh hồ con rùa, rồi lại thẳng hướng Nhà thờ Đức bà về lại đường Catina, lại rẽ vào đường Lê Thánh Tôn về nhà…Nhiều khi trời nóng quá thì ba lái xe đánh vòng xa hơn, đi tuốt lên Sở thú, thậm chí đi qua cả cầu Calmette hướng Tân Thuận…để hóng gió sông mát rượi sau những giờ làm việc mệt mỏi. Đứa con gái ba, bốn tuổi ấy là tôi. Giờ nhìn ảnh cha tôi trên bàn thờ, tôi rưng rưng nhớ lại kỷ niệm xưa đầu đời trong vòng tay bảo bọc ấm êm của cha mẹ và tự trách mình bất hiếu. Đúng y như câu người ta nói; cha mẹ nuôi mười con nhưng mười con không nuôi nổi cha mẹ. Nhưng, nước mắt bao giờ cũng chảy xuống, bao nhiêu năm lo cho chồng, cho con, vì đời sống phải cạnh tranh vất vả tôi đã không thể về thăm cha mẹ ở quê nhà trong một thời gian rất dài, lúc cha mẹ cần đến tôi. Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng, mà đứa con gái ấy bỏ cha bỏ mẹ đi xa khi còn chưa đến tuổi trưởng thành, khi ấy là 21 tuổi. Ngày tôi đi, mặc chiếc áo dài mầu tím vẽ chim phượng với quần lụa trắng, tóc thề buông thẳng dài quá vai, thời ấy phi trưởng Tân Sơn Nhất còn rất nhỏ, máy bay đậu ngang trước nhà hành khách, đàn gà cục tác bươi móc kiếm ăn ngoài nắng, mọi người lục tục tay xách nách mang đi bộ ra sân, leo cầu thang lên máy bay. Lúc cánh cửa máy bay đóng lại, trước mặt là không khí mát rượi trên máy bay, sau lưng là cái nóng hầm hập của Sài Gòn buổi trưa, tôi không biết là ba tôi đã té xỉu vì ông mất đứa con gái. Má tôi không khóc, nhưng cũng buồn và lo lắm. Bây giờ làm mẹ, tôi mới hiểu được sự mất mát đó của cha mẹ. Không gì bằng được một gia đình quây quần với nhau, có mắm ăn mắm có muối ăn muối, không chia rẽ, không chia cắt.

Nạn dịch covid từ năm 2019 đến giờ làm cho tôi sống lại không khí « chiến tranh » chia cắt. Đời sống kinh tế sống lại dần dần, chậm chạp vì dân chúng thiếu thu nhập, thất nghiệp. Mùa Noel đã bắt đầu từ giữa tháng mười một trong các siêu thị, chocolat chất đống, đồ chơi trẻ con chất đống, quần áo chất đống….người mua thì ít, những tháng cuối năm cũng là những tháng đóng cho đủ tất cả các loại thuế, cái gánh nặng cơm áo gạo tiền cũng đè lên con người ở đây chẳng còn sức để tiêu thụ. Những chợ phiên đặc biệt Noel ở những thành phố lớn, nổi tiếng, thì thu hút người đông đảo đến chơi, xem chợ xem người. Giờ nếu mà thêm một đợt cách ly toàn diện xã hội nữa thì nước Pháp cũng phải oằn mình, kêu ca thêm. Ba đợt cách ly toàn diện xã hội đã qua ở Pháp kéo dài cả tháng và những biện pháp cứng rắn vì dịch covid còn kéo dài đến tháng bảy năm 2022 làm cho con người bị tổn thương tâm lý mạnh, một điều mà chưa thấy ai nói đến.

Mùa đông ở đây đã về từ lâu, năm nay lạnh và ẩm ướt hơn những năm trước, trời chỉ sáng đục vì sương và mưa từ chín giờ sáng đến bốn, năm giờ chiều, càng làm cho tâm hồn con người âm u hơn, thèm có được cái nắng nóng chói chang buổi trưa ở quê nhà để tắm trong nắng. Người ở nhà thì sợ nắng muốn chết. Ngang qua những cánh rừng thưa đầu mùa đông không có nắng chỉ là một mầu đỏ úa trong sương xám, những cây có lá vàng thì đã rụng hết lá. Người già, người bệnh…đều sợ xe cứu thương đến tận cửa, vì biết rằng một đi không về. Những người già bị cô lập trong nhà, hay trong viện dưỡng lão không ai đến thăm. Những cái chết cô đơn, những đám tang vội vã không bạn bè, hoặc đông đủ cả người thân đưa tiễn…những điều ấy đánh mạnh vào trái tim đau đớn của người còn ở lại.

Tin tức trên truyền thông về bệnh dịch covid đọc không hết, cả chiều thuận lẫn chiều không thuận, chia rẽ thêm sâu sắc trong từng gia đình. Tôi cảm nhận cái khái niệm chiến tranh trên một quốc gia châu Âu đã có hòa bình từ năm 1945 được thể hiện trước nhất là sự chia cắt với thế giới và chia rẽ trong dân chúng. Ở đây, nhà ai biết nhà nấy, tình hàng xóm láng giềng nếu có thì cũng chỉ hạn chế, chừng mực trong giao tiếp xã giao, không có cái lộc xộc xông tơ tới vào nhà, ồn ào chuyện làng trên xóm dưới, hay chia miếng cơm miếng canh bầu bí thương nhau, giúp đỡ nhau cho qua nạn dịch như ở Việt Nam. Người châu Âu giữ thể diện cho mình bằng cách đóng cửa nhà, bên mình thì cửa nhà không bao giờ đóng.

Cùng với Noel ở đây là mùa Tết ở nhà cũng đã gần kề, nhưng hy vọng được về ăn Tết Nhâm Dần 2022 của vợ chồng tôi thì chưa tới. Tết ở đây chỉ là hai cái bánh chưng và hai ba quả xoài mua vội trong một siêu thị ở Paris, năm nào cũng như năm ấy, nếu tôi không về thăm nhà. Và nỗi nhớ nhà của tôi thì hiện lên bằng hình ảnh của những con đường, góc phố, làng xóm, những cây me, cây bưởi, cây dừa…những khuôn mặt người quen, bè bạn, người thân…, những kỷ niệm thời thơ ấu, những chuyến du lịch thăm đất nước. Quê hương chỉ là chừng ấy cụ thể, tưởng chừng như chỉ là những hình ảnh cưỡi ngựa xem hoa, mà sao tình cảm ấy lại bàng bạc da diết thấm sâu tận đáy tâm hồn. Nhìn những cánh máy bay đang lên ở phi trường Charles-De-Gaulle gần nhà, tôi như muốn mọc cánh bay theo, ước ao được về thăm lại quê hương một lần nữa ….khẻo trễ!

PS: Gởi bạn đọc thêm một tấm ảnh với chiếc « ếch bà » của ba, lúc này ba đã đổi xe vespa khác, MTT đã ra dáng dậy thì, chụp vào một sáng mồng một tết sau khi đi lễ ở Lăng Ông về, ngang qua Tòa Đô Chánh. Thời ấy còn có những bác thợ chụp ảnh dạo, đứng trên đường chờ khách. Ba tôi « mở hàng » cho ông thợ chụp ảnh bằng một tấm ảnh kỷ niệm, ba diện com lê, đeo cà vát, đẹp trai ra phết, thảo nào má chẳng sợ ba có những « con mèo » theo đuổi, vì thời ấy, đàn ông được cưới chính thức bốn bà vợ (để « sản xuất », một hậu quả của chiến tranh và phong kiến).

MTT_ba_tuyet_photo6

Chúc mừng Giáng Sinh 2021

18. décembre 2021

Chúc Mừng Giáng Sinh 2021

Chúc các bạn bình an, sức khỏe và hạnh phúc dài lâu,

Chúc Mừng Năm Mới 2022

nhiều may mắn, thành công, thịnh vượng và hòa bình

trong cuộc sống

Meilleurs Voeux de

Bonnes Fêtes et Bonne Année 2022

Fröhliches Weihnachtsfest und Guten Rutsch ins Neue Jahr

Mathilde Tuyết Trần

Bản nhạc  » Anh cho em mùa xuân » qua tiếng hát của Mathilde Tuyết Trần

tại phòng thu BR, thành phố Hồ Chí Minh:

IMG_0448[28449]2

Vĩnh biệt anh Phan Văn Hoàng

6. décembre 2021

Vĩnh biệt anh Phan Văn Hoàng, tiến sĩ sử học. ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Được tin quá trễ là anh tiến sĩ sử học Phan Văn Hoàng đã ra đi nơi cõi vĩnh hằng trong tháng 11 năm 2021, thật là một cái sốc của ngày hôm nay, thời gian thật chẳng chờ đợi ai cả.

Tôi hân hạnh được làm quen với anh Hoàng qua chị Khánh, biên tập viên của nhà xuất bản Trẻ. Chị Khánh giới thiệu anh Hoàng là nhà sử học, giỏi tiếng Pháp, sẽ biên tập cuốn Dấu Xưa-Tản mạn lịch sử nhà Nguyễn của tôi và kết nối hai bên với nhau. Không bao lâu, được thư anh Hoàng để trao đổi những vấn đề lịch sử của nhà Nguyễn. Công việc biên tập cho cuốn sách dày 335 trang kéo dài nhiều tháng, đến khi hoàn tất anh Hoàng lại viết thêm một lời giới thiệu cho cuốn sách ký tên Nhà xuất bản Trẻ, không ký tên anh vì anh giận tôi một điều gì đó, không nói. Phải nói thêm, tôi và anh Hoàng chỉ qua lại bằng thư từ, chưa biết mặt nhau. Chị Trần Hữu Khánh là một người rất có hiểu biết về lịch sử và văn chương, chị tôn trọng phong cách hành văn của tôi, một người Việt ở nước ngoài đã lâu, văn phong cổ lỗ sĩ và mang dấu ấn nửa bắc nửa nam, chỉ sửa cho tôi những lỗi gõ, những lỗi sơ ý mà tôi không thấy vì làm việc một mình ở nước ngoài, không ai hỗ trợ. Tôi rất cảm kích về công việc biên tập của anh Hoàng và chị Khánh, vui mừng vì cuốn sách của tôi được hoàn thiện trước mắt cho độc giả tại Việt Nam. Sự tìm kiếm nhà xuất bản của tôi không phải là không có khó khăn. Trước đó, nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, sau khi biểu quyết nội bộ đã từ chối xuất bản vì lý do là nội dung của cuốn sách không phù hợp. Dấu Xưa, với 7 chương, đã được xuất bản tại Pháp năm 2010.

Cuốn Dấu Xưa-Tản mạn lịch sử nhà Nguyễn được ra đời tại Việt Nam bởi nhà xuất bản Trẻ vào tháng 09.2011, rồi tái bản một lần nữa vào tháng 12.2011, được giới thiệu trên VTV 1 truyền hình Việt Nam.

Trong một lần về nước, vợ chồng tôi được anh Mai Quốc Liên, chủ biên và tổng biên tập của tạp chí Hồn Việt của trung tâm Nghiên cứu quốc học và Hội nhà văn thành phố Hồ Chí Minh mời ăn tất niên với tòa soạn. Đó là lần đầu tiên tôi và anh Hoàng gặp nhau. Ấn tượng của tôi là anh Hoàng, người giỏi tiếng Pháp, biết cả tiếng Anh và tiếng Hán, là một người khiêm tốn, nhã nhặn và lịch sự, có một nụ cười hiền lành. Tôi tự nghĩ chắc tôi đã vô tình viết một điều gì đó khiến cho anh giận. Đó là cái lỗi thông thường nhất của loại thư điện tử viết nhanh vô ý làm cho mọi người hiểu lầm ý của nhau rồi giận nhau qua mạng ! Nói chuyện trực tiếp thì khác. Anh không phô sự hiểu biết về lịch sử của mình ra trước, mà người đối diện phải nhận ra khi trò chuyện với anh. Thật ra, anh đáng là thầy tôi, một hậu sinh « tay ngang », không thuộc ngành sử học. Sau đó, tôi còn gặp anh Hoàng nhiều lần trong những buổi hội tụ của tạp chí Hồn Việt, anh đã quên giận, gặp tôi với những nụ cười hiền lành, khiêm tốn. Lần cuối cùng tôi gặp anh trong một buổi họp mặt chung quanh anh Mai Quốc Liên vào dịp Tết Kỷ Hợi 2019, trước sự bùng phát của dịch covid 19, chúng tôi trở về Pháp trong mùa xuân 2019 rồi không về được nữa, đã ba năm rồi.

Tôi thắp nén hương, chân thành cầu mong vong linh anh Hoàng được phiêu diêu nơi cõi vĩnh hằng. Tôi ghi tên anh trên những làn mây trắng và mỗi khi nhìn thấy cầu vồng trên bầu trời còn ướt nước tôi thường cầu nguyện cho những người tôi mến thương được lên trời, siêu thoát.

Nhân dịp này cũng xin chân thành cảm ơn anh Cao Tiến Vị, đã giúp sức đưa cuốn Dấu Xưa-Tản mạn lịch sử nhà Nguyễn về nhà xuất bản Trẻ. MTT.

Anh Phan Vãn Hoàng ngồi ở đầu bàn

Chị Trần Hữu Khánh và MTT

Và nếu hoa biết, những đóa hoa bé bỏng

1. décembre 2021

Für Chi, 01.12, dein Gedicht übersetzt von Phan Kim Hổ

Und wüßten’s die Blumen, die kleinen

Heinrich Heine

Und wüssten’s die Blumen, die kleinen,hongtrang
Wie tief verwundet mein Herz,
Sie würden mit mir weinen,
Zu heilen meinen Schmerz.

Und wüssten’s die Nachtigallen,
Wie ich so traurig und krank,
Sie liessen fröhlich erschallen
Erquickenden Gesang.

Und wüssten sie mein Wehe,
Die goldenen Sternelein,
Sie kämen aus ihrer Höhe,
Und sprächen Trost mir ein.

Sie alle können’s nicht wissen,
Nur eine kennt meinen Schmerz:
Sie hat ja selbst zerrissen,
Zerrissen mir das Herz.

Scannen0023 (2)Và nếu hoa biết, những đóa hoa bé bỏng

Heinrich Heine

Và nếu hoa biết, những đóa hoa bé bỏng,

Tim tôi thương tổn nặng dường nào,

Hoa sẽ cùng tôi khóc,

Để chữa lành nỗi đau.

Và nếu lũ chim sơn ca biết,

Tôi thật buồn và bệnh biết bao,

Chim sẽ vang lên ríu rit

Giọng ca hót vui tươi.

Và nếu những ngôi sao vàng lấp lánh,

Biết rằng tôi phải chịu đau buồn

Từ trên cao sao sẽ giáng hạ,

Và an ủi tôi luôn.

Tất cả đều không thể nào biết lý lẽ,

Chỉ một người rõ nỗi đau thôi:

Nàng đã tự mình xé,

Xé nát trái tim tôi.

Phan Kim Hổ dịch

Herzogenrath, ngày 01.12.2021

P1120716

Bài hát « Từng giọt yêu thương »

28. novembre 2021

Bài hát « Từng giọt yêu thương » –© Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Bài hát « Từng giọt yêu thương » của Phạm Trọng Cầu đến tay tôi vào khoảng cuối thập niên những năm 1970, tôi đã hát nhiều lần trong những lần hát hò của ban văn nghệ khi xưa và lần cuối cùng là ở đám cưới của hai bạn Du và Ni ở Göttingen năm nào tôi quên mất. Khi về Sài Gòn thâu thanh bản nhạc, ai cũng kêu là bản nhạc nghe rất lạ tai, chuyển nhịp điệu giữa bài. Tuy nhiên ban nhạc do nhạc sĩ Nguyễn Đức Thịnh triệu tập trong phòng thu gồm 6 nhạc sĩ đã thể hiện được một hòa âm tương xứng, người hát và nhạc sĩ không biết có làm vừa lòng người sáng tác hay không, chỉ biết bản nhạc này duy nhất đến nay chỉ có MTT thể hiện. Nay, anh Nguyễn Xuân Xanh, người anh của lớp chúng tôi, tìm lại một bài do tôi hát, không nhớ tựa đề, có phải là bản nhạc này chăng ?

Thân mến tặng anh Nguyễn Xuân Xanh, các bạn Tâm Liêm, Hương Hổ, Giao Trang, Phò mã Minh Khôi, anh Nguyễn Tường Bách và chị Vinh, Thịnh Hoàng, Cường Hiền, Tiến Hoa, Hằng Nhung, anh Hồ Văn Tiến, anh Trương Như Tùng, anh Dương Minh Trí, anh Phạm Như Phúc, anh Phạm Nam Hương và các bạn ở Đức cùng có nhiều kỷ niệm với tôi, bài hát  » Từng giọt yêu thương  » của Phạm Trọng Cầu, thu thanh ở MPU-Studio năm 2006. (Riêng anh Nguyễn Lê Tiến đã có chị Ái Vân hát thủ thỉ bên tai rồi nhé). Thời gian đi nhanh quá nhỉ ! MTT

PS: Các bạn viết thư gửi tôi mới nhớ thêm, hồi đó còn cả gan dám hát tiếng Tây Ban Nha với Ngọc Hằng những bản nhạc của những năm 60-70 như Guatanamera, El condor pasa và đặc biệt là Petito mi corazon điệu chachacha vui nhộn với ban nhạc của anh em Aachen: anh Hổ (mandolin), anh Bách (trống), anh Thành (guitar), anh Vinh (Bass-guitar). Những buổi tập dượt ở Ché-Haus là những kỷ niệm khó quên ! Các bạn còn nhớ không ?

Một bản nhạc cũng không thấy ai hát ngoài tôi ra là bài « Tình ca của chúng ta« , mà không biết tên tác giả, tôi cũng hát lần cuối cùng trong đám cưới của Du-Ni trước khi rời tập thể ở Đức vĩnh viễn năm 1981. Bây giờ tìm lại thì thấy có một thu âm, Pierre chuyển ra file mp3, tôi đưa lên mạng để sau này những bản nhạc đó không chìm vào quên lãng hay mất đi uổng phí, bạn nào có thích thì vào nghe. File dài 11 phút, với hai MC là Mệ Dũng và Phạm Nam Hương, tôi hát hai bài « Từng giọt yêu thương » và « Tình ca của chúng ta »:

Bản nhạc nổi tiếng Pepito mi corazon của ban Los Machucambos (nguyên tác):

Bình minh trên Thành phố

27. novembre 2021

Bình minh trên Thành phố – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Bài viết này tôi viết trong khoảng thời gian 2009-2012, những con số tuy đã mất tình thời sự nhưng nó nói lên được sự thay đổi so với hiện tại của xã hội, của ngày hôm qua so với ngày hôm nay. Đó là sự cố tình ghi chép của người viết. Sự phát triển và sự giầu có tột cùng, bên cạnh đó cái nghèo, cái thiếu thốn, cái cực khổ của người dân đều đập vào mắt. Nhưng ở mình, có một sự đoàn kết, một sự gắn bó của con người với con người, lá lành đùm lá rách, ít thấy ở nơi khác. Một ngày nào đó, tôi hy vọng được trở về một lần nữa trên thành phố thân yêu.

Thương mến tặng các bạn đã đi du học cùng thời với tôi, đặc biệt là các bạn ở Đức, những người bạn rất quý, rất thân tình, trong suốt nửa thế kỷ đã chung thủy, giúp đỡ, chia xẻ với tôi những nỗi buồn, nỗi vui của cuộc đời và tuy xa mặt nhưng không cách lòng, tôi không bao giờ quên các bạn. MTT (kỷ niệm 50 năm 1971-2021)

Trích « Từ Lũng Cú đến Đất Mũi », hồi ký du lịch, xuất bản năm 2013

Tôi trở về thành phố thân yêu của tôi lần này thì thấy mình đã già hẳn đi rồi. Cái thành phố còn nhỏ bé, còn yên tĩnh, êm đềm, còn đảo một vòng xe hai bánh vừa vặn khi xưa, cách đây hơn 40 năm, trên thực tế nay đã lùi vào quá khứ, chỉ còn lại trong hoài niệm tuổi thơ thôi. Thành phố ngày hôm nay là một cái nồi nước sôi ban ngày tháng ba nóng đã lên đến 36°, 37°, không gió, oi bức như đang chuyển giông, làm tôi còn nhớ cái lạnh mát mùa xuân của Hà Nội đang còn 11°, hay cơn gió trong lành hiu hiu của biển Quy Nhơn ở 26° trong cùng thời điểm.

Cơn mưa đầu mùa rơi xuống còn chưa đủ nước, chưa đủ lâu, chỉ làm mát một chút buổi chiều, hay vừa mới là những hạt bụi nước lấm tấm rồi ngưng. Người thành phố, không biết chạy đâu mà ngược xuôi, hối hả, đèn chưa xanh đã phóng, đèn đỏ rồi còn ráng quẹo, ráng lấn lên lề đường để phóng trước, đi tiếp, đầu tắt mặt tối. Thấy tôi đi một mình len lỏi trong các bóng râm, mùa này hoa me đang nở, đã lâu lắm rồi tôi quên bẵng đi rằng hoa me mầu vàng rực, đẹp không thua gì hoa phượng đỏ, anh tài xe ôm ngoắc ngoắc, cô ơi đi đâu tui chở đi, sáng giờ xui quá chưa có cuốc nào.

Cái thú phóng xe honda ngày xưa tôi vẫn còn nhớ, nhưng bây giờ thì xe cộ chen chúc đông quá, bao nhiêu là xe máy, xe buýt kềnh càng, xe taxi hối hả rượt bắt khách, xe nhà loại xịn rất sang trọng…bụi bặm quá, ngột ngạt quá.

Nhiều công nhân quét dọn công viên, đường phố, họ ngồi đong đưa trên miệng cống, nhìn cái hố cống đã được hút sạch, hơi cống bay lên nồng nặc, nhưng họ thỏa mãn về kết quả sạch sẽ của mình. Thành phố sạch thật, thảm cỏ xanh được cắt, xén, quét dọn, rác rưởi trên đường phố cũng được gom thành đụn nhỏ, chờ hốt đi. Thành phố sạch sẽ như hồi tôi đi.

Thương xá Tam Đa cũ đã gần bị phá hủy hoàn toàn, chỉ còn lại vài nhà sẽ bị phá sập, những đống gạch vụn nằm ngổn ngang. Nghe nói, trên nền đất này, người ta sẽ xây lên một trung tâm bán vàng bạc đá quý rất lớn, rất nguy nga, rất lộng lẫy. Một người quen ở thương xá Tam Đa than thở, anh đang sắp xếp va li, đồ đạc, chưa biết đi đâu để „làm lại cuộc đời“ từ con số không, nhưng chắc chắn là phải đi sau Tết.

Mỗi lần đi ngang đường Đồng Khởi (Tự Do cũ) tôi ngậm ngùi nhớ vườn bông củ cải. Cái khoảng trời xanh cỏ xanh cây xanh nho nhỏ với các bình bông quét vôi trắng tinh thật to đặt ở các góc, trên lú lên vài bụi hoa nho nhỏ, mà bọn con nít chúng tôi kêu là những cái „củ cải“, đã bị hoàn toàn phá vỡ. Những cái cần trục vĩ đại, giàn sắt thép, đống gạch đá ngổn ngang, nhân công xây dựng chạy tứ tung, những người gác công trường xua tay cấm chụp hình…họ đang hối hả xây trên nền vườn bông củ cải một trung tâm thương mại đồ sộ, nguy nga, lộng lẫy.

Bây giờ công trình xây dựng tòa nhà cao tầng đó đã xong, hai cái nóc song song có hình dáng cong cong như hai cái mũ vua thời xưa, vườn bông củ cải đã trở thành một góc vườn hoa, nhiều lá xanh, nhiều hoa dưới chân một tòa nhà rất hiện đại sang trọng.

Tôi cũng ngậm ngùi nhớ rạp chớp bóng Casino ở góc Lê Lợi-Pasteur, năm trước còn treo bảng quảng cáo vẽ Alain Delon, Jean Paul Belmondo, Catherine Deneuve…, năm nay đã bị san thành bình địa. Họ cũng lại đang xây cất một trung tâm gì đó, phải mới hơn, phải sang trọng hơn. Thành phố Sài Gòn nhiều thay đổi lắm, càng ngày càng xa hoa tột bực, hơn cả những khu phố cổ kính sang trọng của Paris. Sài Gòn năm 2009 trở thành trung tâm của người giầu mới, mới giầu, của tỷ tỷ đại gia, tiền vô ra như nước.

Người từ phương xa về thăm như tôi tất phải ngạc nhiên trước sự đổi thay đó. Về Sài Gòn bây giờ, tôi không biết làm gì để kiếm ăn, thấy mình sao kém cỏi, bất tài vô dụng, học kinh tế mà không biết làm giàu như người ta.

Thời bao cấp, khi „Việt kiều“ về thăm nhà, gia đình, bạn bè, hàng xóm mừng rơn khi được tặng một chai dầu xanh Thái Lan, một khúc vải may áo, một khúc lụa đen may quần. Thời này, hàng hóa đầy ắp, không thiếu một thứ gì, rẻ hơn Âu châu khá nhiều. Bây giờ, người Sài Gòn lại giầu có hơn mình cả trăm cả ngàn lần, lại còn trẻ. Muốn tặng ai món quà cũng ngại quà mình đem về không đáng là bao. Người giàu thành phố bây giờ thì cũng như người giàu ngày xưa, thích khoe cái sang trọng, cái giầu có của mình, ồn ào, hợm hĩnh. Khoe nhà, khoe xe, khoe người, khoe của. Một ống kem bôi mặt, gọi là hàng „xách tay“ đem về, bán 150 đô la Mỹ mà cũng có người mua. Những con đường biệt thự kín cổng cao tường bây giờ thì cũng kín cổng cao tường như xưa, nhưng cổng và tường rào đẹp hơn, bằng đá cẩm thạch hay đồng thau, sắt thép uốn nắn rất mỹ thuật.

Một cô em kể tôi nghe, chị biết hông, lương em tính ra là tám chục ngàn (đồng) một ngày, lương tháng là hai triệu tư, hơn 100 đô, vậy là cao rồi đó chị, em chỉ dám ăn hết khoảng ba chục ngàn một ngày, cơm phần thì mười ngàn một phần, hay một tô hủ tíu, một đĩa cơm tấm, nước trà miễn phí, năm chục còn lại là tiền xăng dầu đi làm, thuê nhà, điện thoại, điện nước, quần áo, thuốc men…

Cô em nói, kiếm ra một triệu một tháng cũng sống được chị à. Các công việc hầu bàn, đầu bếp, lễ tân, gác cửa, công nhân…kiếm từ một triệu đến hai triệu rưỡi một tháng. Nếu giả dụ như hai vợ chồng cùng làm việc kiếm sống, mỗi tháng có chung khoảng năm triệu thì sống đầy đủ cho một gia đình nhỏ, vợ chồng và một đứa con. Lái xe Taxi, lái xe du lịch kiếm nhiều tiền lắm chị ạ, một anh tài kiếm từ năm triệu đến mười triệu, có khi nhiều hơn nữa, một tháng. Giá chợ quê, chợ hẻm, chợ ven đô, chợ ven đường…rẻ hơn giá bán ở chợ Bến Thành nhiều.

Ôi, cái chợ Bến Thành, cái chợ tôi đi (xem) mỗi ngày, vì tôi rất thích đi chợ, dù hễ ra vô chợ thường phải coi chừng móc túi, cướp giật, len lỏi qua các hàng chật khít hai bên, nhìn hàng nhìn người không chán mắt, ngửi mùi cà phê, mùi dưa chua, tôm khô, củ kiệu, mùi thịt, mùi cá, mùi gạo, mùi hoa…So với giá của những nhà hàng trong thành phố đòi từ một trăm đến ba trăm ngàn đồng cho một món ăn thì quả thật là họ đã căng cái cung quá mức chịu đựng của du khách.

Người thành phố có nhiều phong cách sống, kiếm một triệu xài theo kiểu một triệu, kiếm một trăm triệu xài theo kiểu một trăm triệu.

Mà thành phố bây giờ giầu có thật, rất nhiều đổi thay, nhà cửa kiến trúc mới mọc lên tứ tung, cái mới cao hơn cái mơi mới, cái mơi mới cao hơn cái cũ, lổn nhổn, cái này sang trọng hơn cái kia. Nhiều đường xá mới, cầu mới, hầm đường mới. Đứng trên một tầng lầu cao nhìn xuống các nóc nhà thành phố tôi lại càng thấy rõ hơn sự đổi thay của thời gian. Những nóc nhà ngói đỏ khi xưa mất dần, thay thế bằng những ngôi nhà cao tầng, vuông vắn như một cái hộp. Cây xanh thì như lùn đi, khuất dưới bóng những dãy nhà cao. Nhiều nơi đang xây cất, các xuất thợ thay nhau làm ngày làm đêm không ngơi nghỉ, họ chỉ cần vài tháng, chưa đến một năm là đã xây xong một nhà cao tầng. Trời nắng, nóng, bê tông xi măng mau khô.

Tôi thẫn thờ khi thấy lại mất thêm đi một chỗ ngồi mát mẻ ấm cúng khi xưa. Chồng tôi thích vào đây uống một ly cà phê đá mỗi buổi chiều, nghe ca sĩ hát êm êm nhè nhẹ, đệm bởi vài ba nhạc sĩ, không khí thân quen như về „nhà“. Cái quán cà phê cũ ấy, một góc của khách sạn Rex, đã biến mất, thay vào đó là một dãy các cửa hàng cực kỳ xa hoa mang các nhãn hiệu Âu châu, mà chỉ có dân thượng tầng xã hội ở Âu châu mới „rờ“ đến. Khách sạn Rex mất hẳn cái duyên xưa, trở thành một thứ đền đài ngủ trọ rất „de luxe“ lạnh lùng khinh khỉnh. Nhưng chẳng sao, khách có tiền thì vào cũng cứ vào.

Ban đêm mới thấy hết cái giầu có, cái lộng lẫy của thành phố khi thành phố lên đèn. Cúp điện ở đâu thì cứ cúp, nhưng các ngôi nhà đẹp, nhà cao tầng đều rất đẹp ánh đèn màu, như một sân khấu, nhìn không chán mắt. Thành phố là một biển đèn xanh đỏ vàng trắng, cộng thêm với đèn vàng đèn đỏ của các luồng xe đang chạy nhấp nháy di động, rất sáng, rất lộng lẫy, tôi đứng say mê ngắm nhìn luồng đèn xe như ngắm dòng thời gian đang trôi qua.

Dòng xe chạy suốt đêm, không có đêm cũng không có ngày. Đêm không tối nên ngày mới lên từ lúc nào cũng không cảm thấy, chợt bừng ánh nắng bình minh thật sớm. Nắng ấm ban mai thường đem lại cho con người một cảm giác yên bình, gây niềm tin tưởng, hy vọng.

Người thành phố bàn tán rất nhiều về thảm họa đang xảy ra ở Nhật, đa số đều có tình cảm với những mất mát, những chia cắt vĩnh viễn đau thương, những hậu quả nặng nề lâu dài mà người Nhật đang gánh chịu, và thán phục tinh thần chịu đựng, tự trọng, kỷ luật, chia xẻ của người Nhật, họ tự nguyện quyên góp tiền bạc để giúp cho dân Nhật, làm cho người Nhật cũng phải ngạc nhiên, vì xưa nay họ nghĩ, chỉ có người Nhật mới giúp người Việt.

Cơn sóng thần ở Nhật „quét“ thêm một đợt sóng thần trong suy nghĩ của những người không trực tiếp bị thảm họa thiên tai: suy nghĩ về niềm tin và hy vọng, suy nghĩ về cái bất lực của con người trước sức mạnh của thiên nhiên, cái bất lực của một cơ sở kinh tế tư nhân, cái bất lực của một chính quyền, cái phù du của vật chất, cái quý của mạng sống, cái quý của tình người và cái quý của nhân phẩm, sau cùng hết, cái quý của sức dân.

Chịu đựng, đó là một tính cách chung của các dân tộc châu Á. Chịu đựng đi đôi với hy vọng. Chịu đựng ngày hôm nay, đồng thời hy vọng ngày mai sẽ khá hơn, tươi đẹp hơn. Người Việt Nam mình cũng biết chịu đựng, một sự nhịn là chín sự lành, chịu đựng để có hòa bình, để có một cuộc sống tương đối yên bình, dành thì giờ sức lực lo cho một chút hạnh phúc của mình, lo nhà, lo chồng, lo con, lo cha mẹ…dành thì giờ tâm sức để xây dựng một công việc có ích lợi chung, dù nhỏ nhoi, dù âm thầm trầm lặng… Tùy từng hoàn cảnh, không phải ai sinh ra cũng trở thành anh hùng, „sĩ phu“, chịu đựng vì thế không chỉ có một nghĩa là ích kỷ và hèn nhát, vì nhà yên thì nước yên, nước yên thì nhà yên.

Như dân Nhật, đã bắt đầu thu dọn, xây dựng lại tổ ấm còn sót lại của họ trên mọi tình huống đổ nát, với chính sức lực của mình trước hết, đó cũng là bắt đầu xây dựng lại quê hương của họ, đem lại yên bình, ổn định cho xã hội.

Ngồi trên xe Taxi, anh tài hỏi, quê cô ở đâu ? Mèn ui, tui là dân Sè Goòng đó anh, quê tui đây nè.

Đi đâu, ai cũng hỏi tôi, quê cô ở đâu, ở đâu cũng là quê tôi hết đó. Cảm giác „quê tôi“ hiện rõ khi tôi đứng giữa dòng sông Quây Sơn của thác Bản Giốc, khi tôi đứng dưới chân cột cờ Lũng Cú ngắm nhìn vùng núi rừng cực Bắc với các ruộng nương bản làng nghèo nàn chân chất mộc mạc, khi tôi cũng các bạn Huế ngồi gặm nhấm bánh mì với rượu vang đỏ trong nhà nghỉ chân ở lăng vua Gia Long, khi chân tôi chạm lên làn cát mịn của bãi biển Sa Huỳnh còn thiên nhiên chưa bị dấu chân du khách đi ngang đi dọc, khi tôi về thành phố, đứng giữa lòng thành phố thấy mình lạc lõng, phân vân, bâng khuâng, đây cũng là quê tôi ư.

Chợt một lúc nào đó tôi nhìn thành phố của tôi, nơi tôi sinh ra và lớn lên, nơi tôi xách hai cái va li đi học, như một người thất tình ê chề. Phi trường Tân Sơn Nhất khi xưa còn khá nhà quê, còn cả đàn gà cục tác trên hai mảnh cỏ khô hai bên phi đạo, hành khách đi bộ lục tục lên máy bay, người đi đưa tiễn đứng trong nhà hành khách nhìn theo, nhướng gót chân lên cao, vẫy vẫy rối rít. Tôi đi rồi, má tôi viết thư kể, khi cánh cửa máy bay đóng lại, cầu thang được rút đi, thì…ba tôi té xỉu. Má tôi lại không khóc vì coi như là đã mất đứa con gái. Người ta nói, ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng, mà con gái như tôi thì bỏ cha bỏ mẹ ra đi. Nhưng cũng phải nhắc lại, lúc ấy nào có nghĩ đi là đi luôn đâu ? sinh viên đi học cũng nghĩ là mình chỉ đi học vài năm rồi lại về làm việc ở quê hương xứ sở, cuộc đời có ai học được chữ ngờ, người tính không bằng trời tính. (Hay ngược lại, trời tính không bằng người tính ?)

Chưa khi nào tôi thấy Sài Gòn sôi sục như năm nay, như một anh/chị nhà giàu mới, rất xa hoa lộng lẫy, rất hiện đại. Sài Gòn xài sang, sang hơn cả thủ đô Paris, khách „Tây“ lé mắt. Đại lộ Champs Élysées của kinh đô ánh sáng Paris mùa Giáng sinh còn thua xa các con đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Đồng Khởi (Tự Do cũ) của thành phố Sài Gòn, không nói chi đến các khách sạn lớn trong trung tâm cũng treo đèn kết hoa rất xôm, rất đẹp mắt.

Khi máy bay uốn lượn trên nền trời, đảo một vòng cho đúng vị trí để cất cánh, hạ cánh tại phi trường Tân Sơn Nhất vào ban đêm thì khu vực thành phố Sài Gòn là một đảo ánh sáng rất lung linh lộng lẫy. Những trục đường chính to, rộng hơn hẳn những con đường khác sáng lóa trong đêm đen như những con rắn ngoằn nghèo. Hà Nội không sáng bằng. Paris cũng không sáng bằng Sài Gòn.

Bắt đầu từ hôm 20.12. tôi đã thấy nhiều nhân công thầm lặng, nhanh nhẹn, cặm cụi, leo thang, leo lên cây, bắt điện, giăng đèn, kết hoa. Xe cộ cứ chạy, người cứ qua, ít ai để ý đến công việc của họ, cũng không thấy những giây điện với hàng triệu bóng đèn đủ màu nhỏ li ti, vì nắng Sài Gòn cuối năm vẫn quá sáng và quá nóng. Họ đem những cuộn vải sa teng bóng dày xụ, mầu đỏ thẫm và màu xanh lục thẫm, màu của thành phố Sài Gòn, quấn chung quanh các thân cây, làm cho đường phố trở nên ấm cúng hơn, sang trọng hơn.

Buổi sáng đông xe người đi làm, buổi trưa thì nắng gắt và thưa vắng, chỉ có vài du khách lầm lì như tôi mới rảo quanh chụp hình quang cảnh. Chiều xuống, cũng chưa thấy gì. Người Sài Gòn ăn cơm sớm, buổi trưa mới 11 rưỡi đã ăn, buổi chiều mới 5 rưỡi đã ăn (vì thế người Sài Gòn mới có thói quen đi „ăn đêm“, vừa đói bụng vừa đói tình!). Nhưng khi mặt trời vừa tắt nắng, màn đêm vừa xuống, thì hàng triệu ánh đèn sáng lên. Ai nấy đều „Ồ ! Đẹp quá!“, và lao vào đường phố ngắm đèn như những con thiêu thân.

Sài Gòn 2009 là một Sài Gòn Superlativ, một cái nồi nước sôi sục sục! Người, xe, đèn, hoa, cờ, nhanh, rầm rập, bụi bặm, chóng mặt, xô bồ, ồn ào, xa hoa cực độ, kiếm tiền rất dễ (người ta nói thế), rất phô trương cái giàu mới, mạnh ai nấy sống.

Kẻ an phận thì chấp nhận có nhà giàu nhà nghèo, người không an phận thì trách móc một xã hội có phân biệt. Dân lao động nói rằng từ hai ba tháng nay kiếm ăn dễ thở hơn, nhưng nghèo thì vẫn nghèo. Mới đây, những người lao động dùng xe ba gác bằng tay chân hay có động cơ đang lúng túng vì xe ba gác sẽ bị cấm, họ phải đổi nghề, nhưng đổi bằng cách nào, làm gì, tiền đâu ra ? Nói thì dễ, làm thì khó.

Phần tôi thì thắc mắc, bởi lẽ bản thân mình – overdated – (quá đát) không còn có thể bon chen kiếm cơm nơi đây được, đi đâu cũng thấy người ăn uống, hàng quán đông đúc, mọi người kiếm tiền đâu ra mà ăn tiêu ? ai cũng có điện thoại di động, ai cũng có xe hai bánh, ai cũng ăn mặc thời trang sạch sẽ lịch sự, phụ nữ rất ăn diện, đeo nhiều trang sức, đi giày cao gót nhọn cả tấc, ngoại hình, cách ăn mặc hơn hẳn Hà Nội.

Du khách nước ngoài dụi mắt nhìn người Sài Gòn ăn Noël. Cả Sài Gòn đón ngày Chúa giáng sinh như thể cả Sài Gòn là con chiên của Chúa. Noël ở Âu châu lặng lẽ, chỉ có bữa ăn trong gia đình và thánh lễ nửa đêm, người ngoại đạo cũng lặng lẽ bình thường. Theo thông lệ, chỉ có vua, chúa, nữ hoàng trị vì, mới chúc mừng Giáng sinh cho dân chúng. Còn các vị nguyên thủ quốc gia chờ đến ngày cuối năm mới đọc một bài «đít cua» (diễn văn) chúc mừng năm mới cho dân mình.

Cao điểm kẹt xe kéo dài từ năm, sáu giờ cho đến quá nửa đêm. Xe hơi xịn, BMW, Mercedes…và các nhãn hiệu khác, chen lấn với người đi bộ, xe hai bánh và xe Taxi. Chật cứng. Cả trên mặt đường lẫn trên vỉa hè. Chung quanh chợ Bến Thành, phần thì có chợ đêm, phía bùng binh thì có sân khấu ca diễn âm nhạc miễn phí ngoài trời cực kì rộng lớn, nên người và xe đứng, đi chen chúc lộn xộn vòng trong vòng ngoài, húp còi điếc tai, không thể nào tả nổi.

Tôi đi bộ sát lề đường, vì không có chỗ trên lề đường để đi, mà bánh xe honda của người ta cứ thúc từng bước vào bắp chân. Mùi bụi và mùi khói xe thốc vào mũi, làm mũi rát bỏng, tôi bị chảy máu mũi liên tục từ cả tuần nay, thậm chí buổi tối khạc cả ra cục máu đỏ từ trong cổ họng. Độ ô nhiễm không khí lên cao không thể tưởng.

Các trận đá banh bán kết và chung kết của giải Seagames 25 làm cho Sài Gòn còn sôi sục hơn. Những người trẻ, trên hàng vạn xe hai bánh, vác cờ, vác trống, vác còi, vác máy phát nhạc, chạy rầm rập ầm ĩ trên mọi đường phố, họ la hét như không hề biết mệt. Cứ đến mỗi ngã tư thì họ dừng lại, túm tụm la hò ở đó, làm cho mọi tuyến đường đều tắc nghẽn. Người đi bộ sợ xanh mặt, mau mau về nhà, Taxi không có, tài xế Taxi sợ bị đập phá xe, cướp xe, ngừng hoạt động. Cũng „may“ mà Việt Nam thua Mã Lai trận đá banh chung kết, chứ không thì Sài Gòn…tan hoang. Công an giao thông, bình thường và hàng ngày bắn tốc độ thì đã về nhà nghỉ khỏe, trước một cơn lốc vũ bão của tuổi trẻ như thế, họ có muốn bắn tốc độ cũng không xong. Từ Cà Mau về, chưa tới Khánh Hội đã kẹt xe rồi, người ở chung quanh thành phố ùa vào trung tâm ăn Noël. Nhưng Seagames, Giáng sinh, Tết Tây sẽ còn thua Tết Ta. Khi các chợ hoa bắt đầu hoạt động thì sự kẹt xe ở Sài Gòn sẽ vượt xa mọi sức tưởng tượng.

Cái khác biệt giữa Hà Nội, Huế và Sài Gòn rất rõ rệt, không ai là không nhận thấy. Hà Nội cũng đông người, đông xe, phình bự, bụi bặm, rác rưởi, rất nhiều gánh hàng rong rảo trên khắp đường phố, nhưng cũng còn nhiều nét cổ kính, thanh lịch, lễ phép của „Kẻ chợ“ thời xưa, còn hơi hướng „nhà quê“, thân thiện làm sao ấy, qua cách ăn mặc, cách nói chuyện và giọng Hà Lội ngọng ngọng dễ thương. Huế vẫn giữ vẻ trầm mặc cố hữu, cái gì cũng chầm chậm, nhe nhẹ, thời gian như đọng lại ở Huế, còn không gian cũng không có nhiều đổi thay. Huế dễ chịu vì ít người, ít xe, người dân cố đô Huế nhẹ nhàng thầm kín.

Sài Gòn năm 2012 còn sang hơn, đẹp hơn những năm trước. Đập vào mắt mọi người là một kiến trúc theo kiểu belle époque của Pháp, quét vôi mầu trắng ngà, rất sang trọng, rất đẹp, mặt tiền làm toàn bằng đá hoa cương, đá cẩm thạch, đồng, kính màu…mọc lên trong một thời gian kỷ lục trên nền của khu thương xá Eden/nhà hàng Givral cũ. Tòa nhà này, một món nữ trang mới của thành phố, đứng hòa hợp với nhà hát, với tòa thị chánh cũ, với khách sạn Continental tạo thành một góc đẹp, sang trọng. Tòa nhà Vincom cao xây trên nền của vườn bông củ cải ở góc Tự Do (cũ)/Lê Thánh Tôn ló lên với tầng cuối cùng kiến trúc như hai cái mũ vua. Khách sạn Rex xây lại theo hơi hướng tân kỳ kiểu Mỹ, nửa cũ nửa mới, đã mất hẳn đi sự hấp dẫn của kiến trúc cũ.

Cái góc của Rex, trước kia là một quán ăn buổi sáng bán điểm tâm, chiều tối có ca nhạc, nhộn nhịp vui tươi, thì nay bị xây bít bùng thành những cửa tiệm mà suốt ngày không có ai vào, chỉ có những người gác cửa mặc com lê có gi lê toàn đen, còn sang trọng hơn là khách hàng, đứng bên trong dán mũi vào cửa kính nhìn ra ngoài đường phố, như một người tù đứng nhìn cuộc đời trôi qua.

Chúng tôi có lấy can đảm vào xem thử những gian hàng trong những lâu đài mua sắm mới này và thực tình, không mua được gì cả, toàn là những loại hàng quá xa xỉ, quá « de luxe » (ở nhà dân chúng đọc là « đì lắc »), quá đắt tiền mà lại không cần thiết, có cũng được, không có cũng không sao.

Cái góc Sài Gòn của tuổi thơ tôi cho đến cuối những năm 1960 đã thay đổi rất nhiều. Kỷ niệm xưa bấu víu vào vài căn nhà cũ còn lại của thời ấy. Tình cảm yêu mến gắn bó với quê hương nhiều khi đơn giản lắm. Nó chỉ là cái cảm giác, cái nhận thức, có một nơi chốn để về và có ít nhất một người nào đó vui khi thấy mình về.

Thành phố Hồ Chí Minh năm nay có 7.521,100 dân, trên một diện tích là 2.095,6 km², tức là 3.589 người chen chúc nhau trên một cây số vuông. Hà Nội có 6.699.600 dân cư, diện tích 3.328,9 km², mật độ dân số trung bình là 2.013 người/km². Thừa Thiên-Huế có chung 1.103.100 dân, diện tích là 5.033,2 km², mật độ dân số trung bình là 219 người/km².

Cả nước có 87.840.000 dân, diện tích là 330.957,6 km², mật độ trung bình là 265 người/km². Nhìn chung, dân số dân cư rải đều trên các khu vực lớn tính theo đồng bằng sông Hồng có gần 20 triệu dân (19.999.300), miền Trung du và cực Bắc có 11.290.500 dân, miền Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung có 19.046,5 dân, Tây Nguyên có 5.282.000 dân, Đông Nam Bộ có 14.890.800 dân và đồng bằng sông Cửu Long có 17.330.00 dân. (Thống kê 2011 của Tổng cục thống kê Hà Nội)

So với Paris, thủ đô của nước Pháp, dân số của 20 quận nội thành là 2.257.981 dân, diện tích nội thành là 105,4 km², nên mật độ dân cư rất cao 21.196,4 người/km². Khu vực gọi là vùng Ile-de-France, bao gồm 17 đơn vị hành chánh trong đó thành phố Paris, có dân số là 11.786.234 dân, diện tích là 12.012 km², mật độ trung bình là 988 người/km². (Thống kê INSEE, ngày 01.01.2010)

So với Berlin, thủ đô của nước Cộng Hòa Liên Bang Đức, dân số là 3.501.872 người, diện tích là 892 km², mật độ 3.945 người/km². (Thống kê của Amt für Statistik Berlin, 2011)

Về kinh tế quốc dân thì Việt Nam có tổng sản phẩm trong nước sơ khởi năm 2011 là 2.535.008 tỷ đồng, tương đương khoảng 125 tỷ đô la Mỹ (1$=20.000 vnd) hay khoảng 94 tỷ euro (1€=27.000 vnd). Tính trên đầu người thì tương đương với 1.375 $/người, tức là khoảng 28.860.000 đồng/người. Mức độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giảm theo đà khủng hoảng kinh tế thế giới từ năm 2005 (8,44%) đến cuối năm 2011 là còn đạt được 5,89%. (Thống kê 2011 của Tổng cục thống kê Hà Nội)

Dân số nước Pháp hiện nay có 65,35 triệu người (thống kê INSEE 01.01.2012), dân số nước Đức có 81.843.743 (thống kê Statistisches Bundesamt 01.01.2011).

So với tổng sản lượng quốc dân của Pháp (2.033,7 tỷ euros) và Đức (2.652,2 tỷ euros), và tính theo đầu người tại Pháp là 27,550€/người, tại Đức là 31.320€/người (Thống kê Eurostat 2012), thì phải thấy đất nước và người dân Việt Nam còn nhiều khả năng phát triển kinh tế, nếu khắc phục được những khó khăn đặc biệt của xã hội mình.

Mức lương trung bình của đàn ông Pháp là 20.345€/năm, của phụ nữ Pháp là 17.156€/năm. Thống kê của Đức thì cho biết mức lương trung bình trong năm 2009 là 27.648€/người, nhưng lương của phụ nữ thì thấp hơn lương của nam giới trung bình là 23%. Các con số này là lương chưa đóng thuế thu nhập và các bảo hiểm xã hội, tỷ lệ thu nhập chỉ còn lại khoảng 50%-55% con số lương trung bình sau khi đã trừ thuế và bảo hiểm.

Trong vòng thân quen của tôi, có những người chỉ kiếm được trên dưới 10.000€/năm chưa trừ thuế và bảo hiểm, trong khi phải trả tiền thuê nhà 600€/tháng, nên sống rất chật vật, túng thiếu.

Con số là con số, và trên thống kê thì người nghèo cũng giầu bằng người giầu, chỉ nói lên một mức độ chung của cả xã hội.

Không có con số nào đo được cái tâm, cái phúc của con người, mà chúng tôi thấy, chưa chắc người dân Pháp, người dân Đức cảm thấy hạnh phúc hơn người Việt, họ cũng có những nỗi lo, nỗi khổ, nỗi bức xúc của họ với xã hội đang chia rẽ, phân hóa thành những đơn vị cá nhân. MTT

Bản nhạc « Khi người yêu tôi khóc » của Trần Thiện Thanh qua tiếng hát của Sĩ Phú:

COUV_TLCDDM_FINAL_IMPR_WEB

Phật tính trong một dòng nhạc

22. novembre 2021

Phật tính trong một dòng nhạc – © Mathilde Tuyet Tran, France 2010

Mến tặng anh Phạm Mỹ Lộc, và chúc cho tác phẩm Mưa, Trăng và Nước được hoàn thiện hoàn mỹ và thành công.

Tôi sẽ không viết về một người nhạc sĩ trên phương diện phê bình nghệ thuật âm nhạc, một điều, nếu có cố tình muốn cũng chỉ là múa rìu qua mắt thợ. Công việc phê bình đã có người khác đảm trách.

Tôi sẽ viết về anh trên bình diện „cảm tính“. Cảm tính không có gì xấu xa và tiêu cực như nhiều người lầm tưởng. Người Đức có câu thành ngữ „Con cá thúi từ cái đầu thúi ra“ (Der Fisch stinkt vom Kopf) mang nhiều nghĩa bóng. Cái đầu là nơi tính toán, cân nhắc, suy nghĩ…nơi mà nhiều tĩnh từ thâm hiểm, độc đoán, ích kỷ, lầm lẫn, sai lạc, tàn nhẫn….được gán cho. Cảm tính xuất phát từ trái tim, và rộng hơn, từ cái bụng. Cái bụng không biết nói dối. Thương để bụng, chứ không ai thương để đầu.

Văn xuôi có chuyên chở được âm thanh hay không ? tôi sẽ cố gắng.

Kỹ thuật của một nghệ thuật, âm nhạc, hội họa, văn thơ…trong trường hợp này là nhạc, của một người nhạc sĩ, chỉ là một công cụ, một khí giới để chuyên chở tình cảm và mong ước, giống như ngón tay chỉ trăng của Phật, ngón tay chỉ ta nhìn lên mặt trăng, rồi mỗi người, từ vị trí của đời mình, từ cách nhìn đời của riêng mình, nhìn lên mặt trăng từ nhiều góc khác nhau, thấy hình ảnh „trăng“ một cách khác nhau, dù đó chỉ là một „ông“ trăng. Trăng và ánh trăng, là hai việc khác biệt, nhưng cùng mang một triết lý Phật giáo, trăng chỉ có một, nhưng có muôn vàn vô cực ánh trăng.

Ánh trăng của Phạm Mỹ Lộc là một ánh trăng mang nhiều luồng cảm tính, nhiều dòng nước trôi trong đời anh, nhiều tâm sự, nhiều đa mang và nhiều duyên nợ. Một ánh trăng nghệ sĩ. Thật đó, người nghệ sĩ không thể là một người vô tư, không lo lắng, không ưu sầu, không ham muốn, chỉ loanh quanh trong nhu cầu của thân xác, ăn rồi ngủ, ngủ rồi ăn. Cái tham sân si của người nghệ sĩ thôi thúc người ấy luôn phải đi tìm nhiều cảm tính của hôm qua, hôm nay và ngày mai, nối duyên với nợ, biến nợ chỉ thành duyên.

Không trọn vẹn. Đó cũng là ánh trăng của Phạm Mỹ Lộc. Những dòng nhạc tình của anh toát ra một sự không trọn vẹn, bởi ngăn cách và xa cách, bởi cản trở và ý muốn.

„…người đâu hỡi người ơi, ngày vui trôi qua mau, chiều đi nắng tắt sương rơi rơi buồn…“.(Nhị Hồ)

Ở Phạm Mỹ Lộc tôi thấy hai con người, một người rất thực tế và một người rất lãng mạn, như hai cánh tay, tay phải, tay trái. Anh có một đời sống êm đềm thong thả hạnh phúc, nhưng anh cũng có một đời sống khát khao, hối hả, đầy nuối tiếc. Trong nhạc có hai phần chuyên chở, dòng nhạc và dòng thơ (lời), vì người nhạc sĩ luôn luôn là một thi sĩ. „Nhạc và lời của…“, người nghe, trước khi nhớ nhạc, đã phải thuộc lời mới hát lên được bản nhạc. Dòng nhạc của Phạm Mỹ Lộc đem đến người nghe một liên tưởng giữa Âu và Á. Người nghe dòng nhạc như đi du ngoạn từ Á sang Âu, từ Âu sang Á, lời nhạc là một sự nối kết. Anh để cho người nghe bắt được một tâm sự buồn buồn, nhưng không pathologique thảm thiết, một cảm giác mang mang, mênh mông, nhưng không bị bắt cóc trong một khung trời eo hẹp. Có điều gì đó lưng lửng, chơi vơi.

Trong âm điệu của anh tôi bắt gặp phong cách như của Francis Lai, Love Story, nhẹ nhàng, thanh thoát, rất Âu châu. Đồng thời những chỗ luyến láy rất Việt Nam „Đêm giã từ Hà Nội lòng còn vương vấn nhiều đắm say… „ (Đêm giã từ Hà Nội).

Theo ý riêng của tôi, bản nhạc „Quê Hương Tuổi Nhỏ“ là một tiêu biểu sáng tác của Phạm Mỹ Lộc, phổ thơ Nhất Hạnh, qua giọng hát của Trần Thu Hà. Giọng hát người ca sĩ ấy điêu luyện với một chất giọng dễ thương, cộng thêm một cách phát âm rất đặc biệt, nghe là nhận ra ngay người hát. Không đúng. Phải nói là „biểu diễn“ thì đúng hơn, vì Trần Thu Hà đã lột tả được tâm sự của người viết, nghe rất chơi vơi, lung linh…“Chiều cô thôn nổi gió, cánh áo lụa bay…Lửa đỏ môi cơm thơm gọi mãi em ở đâu ? mà chỉ thấy hư vô giăng mắc bốn bề, hư vô…“   Dòng nhạc này chợt bật lên, khi anh Lộc sau nhiều năm xa cách, trở lại quê hương để ôm trong hai cánh tay hai bình tro, của mẹ anh và người em gái.

Không biết những người sống gần anh dài lâu, có dịp gặp gỡ anh nhiều, hiện nay nhìn anh ra sao. Qua vài kỷ niệm rất xa xưa với anh, tôi thấy anh thời ấy là một người tế nhị, ân cần, lưu loát nhưng biết dừng lại ở một ranh giới nào đó.

Cái ân cần ấy, cái tế nhị ấy cũng tỏa lên bởi những câu nhạc, một câu chuyện tình, mà qua đó, anh thể hiện một bố cục kết thúc thật bất ngờ „….Người yêu hỡi, dù tình ta không hẹn trước, muôn đời chờ nhau….em đến từ đâu hỡi em, thôi thế thì ta với em về đây, Trăng, Ta, Em: là người thương.“ (Trăng Hạ Long)

Yêu và thương khác nhau ở chỗ nào ? Một người bạn nhạc sĩ khác của tôi, đồng lứa, đã một lần nhấn mạnh, thưở ấy chưa ai biết yêu, chỉ biết mến, nhiều lắm là thương.

À ra thế. Đầu thế kỷ thứ hai mươi, những người „yêu“ nhau, còn không dám nói lên một chữ „thương nhau“, „mến nhau“. Cái thưở cha mẹ chúng ta đặt đâu ngồi đấy, cưới xin thì phải môn đăng hộ đối, thì chỉ dám nói „ phải lòng nhau“ hay „mến nhau“ mà thôi, còn hơn là đứng nhìn nhau sững sờ, không thốt lên được một tiếng nào. Dịu dàng nhìn anh em nói mến anh (Nắng chiều, Lê Trọng Nguyễn).  Ánh mắt nhìn thay cho lời nói. „Yêu“ mang tính chất xác thịt, yêu chứa đựng dục tính của hai người yêu nhau, da chạm da, môi chạm môi. Thương thì bao la hơn, mênh mông hơn, trong sáng hơn…Yêu một người nhưng thương nhiều người. Tại sao không ? đó cũng là một Phật tính.

Thời anh Lộc hai mươi, là thời ảnh hưởng của phong trào văn thơ lãng mạn tiền chiến (Tự Lực Văn Đoàn), của Bướm Trắng, của Đôi Bạn…của Hồ Dzếnh, một trạng thái giữa thương và yêu, dù rằng khi ấy cái gọi là tình yêu vẫn còn là một tình yêu „platonique“, yêu vì tinh thần, chưa yêu bằng xác thịt, chưa dám và không dám vượt qua ngưỡng cửa đạo đức « nề nếp » do gia đình ấn định, chưa dám làm xấu hổ cha mẹ. Vả lại thời ấy, „con nhà nề nếp tiểu tư sản“, chưa có hỏi cưới, chỉ mới hẹn nhau đi ăn kem, đi nghe nhạc… , đã bị lên án lăng loàn, lảng lơ, vô đạo đức, „Nó đi với trai!“. Có lẽ „vô đạo đức“ thật, vì lén cha lén mẹ nói dối đi ăn kem với bạn, thật ra là đi ăn kem với „trai“. Phạm Mỹ Lộc lại không mời cô „em gái“ đi ăn kem, mà đi ăn xôi chè. Thật đấy, chè hạt sen và xôi vò. Đó là cái gốc Bắc của anh.

Nhớ.

Một chữ rất diệu kỳ. Nhớ ai, tim đập thổn thức. Người được nhớ không biết không hay, nhưng người nhớ thì như có ngàn bướm bay trong bụng. Chữ « nhớ » không đứng một mình, mà còn được rải rộng hơn bằng những tĩnh từ mông lung, man mác, quay quắt, tha thiết, âm ỉ, dài lâu….

Trong dòng nhạc tình của Phạm Mỹ Lộc, kèm chữ thương còn có chữ nhớ, bởi thế nên không trọn vẹn, có duyên không nợ, có nợ không duyên…Nếu có duyên có nợ thì khi trả xong hết nợ cũng là hết duyên. Không còn nhân quả với nhau nữa. Lại cũng là một Phật tính. Điểm này, Phạm Mỹ Lộc đi chung một thuyền với nhiều nghệ sĩ khác, và tôi hiểu anh, khi anh luôn trên đường tìm kiếm ý nhạc mới. Không có thêm ý nhạc, không có thêm ý thơ, người nghệ sĩ sẽ chết. Cái thêm ấy ở đâu mà có ?

Đó là những món quà của đời tặng cho, bỗng nhiên, bất chợt, gặp nó, thấy nó, vói lấy nó, giữ lấy nó…Cuộc đời không cho không ai gì cả, có qua có lại mới toại lòng nhau. Không ai có một cuộc đời là một quà tặng tuyệt đỉnh. Được cái này, mất cái kia, có cái này, không có cái kia, như âm và dương, như yin và yang, như một sự cân bằng của tạo hóa, như cụ Nguyễn Du đã viết „chữ tài liền với chữ tai một vần“. Chữ „tai“ đó là cái giá người nghệ sĩ phải trả cho những món quà tặng của đời. Tham sân si bị dừng bởi tai ương. Cũng là nhân quả nhà Phật.

Trong nhạc của anh, những cái băn khoăn về những mối tình đứt đoạn, được tô điểm bằng hình ảnh của nắng và chiều. Bài hát „Hoa Nắng“ là một bài hát dễ thương, nhẹ nhàng, subtile (tinh tế), có tính chất chanson của Pháp kèm theo cái luyến láy Việt Nam „…chờ em mặt trời khép mi ngủ yên…“, Hà Bích Hợp hát Hoa Nắng rất nũng nịu, quyến rũ. Hai bài viết cho piano Ảo Mơ và Di Chúc Họa Mi có giai điệu trữ tình, trìu mến, dễ thấm, tiếc là chưa có lời nhạc để trở thành những bản nhạc hay, nổi tiếng.

Phạm Mỹ Lộc có nhiều thành công nghề nghiệp và âm nhạc phía bên kia bờ Đại Tây Dương, nhưng bên bờ ni thì có lẽ còn ít người biết. Sinh năm 1947, theo gia đình di cư vào Nam năm 1954 lúc lên bẩy, anh hiện nay vừa là luật sư vừa là nhạc sĩ, vừa ngao du bốn biển, vừa đang nghĩ rằng, màn cuối của cuộc đời còn phải đi cho trọn vẹn.

MTT hân hạnh được mời các bạn thưởng thức bản nhạc Quê Hương Tuổi Nhỏ, Phạm Mỹ Lộc phổ thơ của Nhất Hạnh, biểu diễn bởi giọng hát của « diva » Trần Thu Hà với tiếng đàn Tây Ban Cầm xuất thần của nhạc sĩ Phạm Mỹ Lộc, thu ở Hà Nội. 

 

Bài hát « Quê hương tuổi nhỏ » biểu diễn bới Trần Thu Hà/Phạm Mỹ Lộc, thơ Nhất Hạnh:

Bản nhạc « Áo mơ » của Phạm Mỹ Lộc, độc tấu dương cầm (cô bé áo tím vẫn nhớ đến người nhạc sĩ năm xưa dù nửa thế kỷ đã trôi qua) :

Bản nhạc « Di chúc họa mi » của Phạm Mỹ Lộc, độc tấu dương cầm:

PS: Mến gửi anh Lộc và các bạn bài hát « Nắng Chiều » của Lê Trọng Nguyễn qua tiếng hát của Mathilde Tuyết Trần, thu năm 2006 ở phòng thu MPU của nhạc sĩ Nguyễn Đức Thịnh. Hát mộc và hòa âm sôi động, không dám so sánh với danh ca và danh cầm đâu nhé !

Bài hát « Nắng chiều »:

Ánh sáng trên Đất Mũi Cà Mau

16. novembre 2021

Ánh sáng trên Đất Mũi Cà Mau – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2012

Thương mến tặng anh chị Cao Tiến Vị đã đưa chúng tôi đi thăm miền Nam với nhiều chuyến đi thật thú vị, không bao giờ quên. Chúng ta đã có chút duyên với nhau, người ở góc biển người ở chân trời, nhưng tôi vẫn nhớ những kỷ niệm những năm ấy và những lần gặp nhau ở Việt Nam và ở Pháp. T.

Bài đã đăng trên tạp chí Hồn Việt số 58, 12-04-2012

Trích « Từ Lũng Cú Đến Đất Mũi », hồi ký du lịch Mathilde Tuyết Trần, France 2013

Có lẽ đối với nhiều người, việc về thăm Đất Mũi chẳng có gì là “ghê gớm”, từng đoàn xe buýt thường xuyên chở khách các miền đổ về thăm mũi đất tận cùng phía Nam của quê hương. Nhưng với tôi khi đặt chân lên Đất Mũi, tôi đã mãn nguyện một mơ ước lớn trong đời, là đã được ngắm nhìn biên cương phía Bắc ở “nóc nhà của Tổ quốc” trên cột cờ Lũng Cú, và giờ đây, được đứng ở cột mốc số 0 trên Đất Mũi ở phương Nam, nhìn ra biển bạc trắng dưới ánh nắng chan hòa.

MTT_Datmui_14Chuyến đi từ Cà Mau bằng ca nô ra đến Đất Mũi là một cuộc hành trình phiêu lưu đầy thú vị trên sông rạch, khác hẳn con đường núi ngoằn ngoèo, hai bên vực sâu thăm thẳm đầy sương nặng hạt và lạnh rét cắt da đưa đến Lũng Cú. Mới thấy, cực Bắc và cực Nam của nước mình là hai điều kiện sống khác hẳn nhau một trời một vực, mỗi miền được thiên nhiên ưu đãi một cách khác nhau.

Từ Cà Mau, để đi đến Đất Mũi thì có hai cách, hoặc là đi xe hơi xuống Năm Căn, rồi từ Năm Căn lấy ca nô đi ra Đất Mũi, hoặc đi thẳng từ Cà Mau xuống tận Đất Mũi bằng ca nô. Khi đi, không ai mường tượng được “đoạn đường” sẽ trải qua. Anh Vị chọn phương án đi thẳng từ Cà Mau xuống Đất Mũi bằng ca nô, có nghĩa là sẽ vượt 120 km sông nước trên một chiếc ca nô nhỏ chỉ chở tối đa là tám người.

Du khách đi theo từng đoàn thì dùng một loại thuyền gọi là thuyền cao tốc, có nhiều chỗ ngồi, để di chuyển từ Năm Căn đến Đất Mũi.

Cái bến xuống ca nô, từ đường phố xuống sông, cũng là một địa điểm “đáng nhớ”, nó nằm giữa hai vách nhà, ngay miệng ống cống, có đi ngang qua ngàn lần cũng không biết chỗ ấy là chỗ xuống thuyền! Chúng tôi đi bộ từ khách sạn sang bến, chiếc ca nô và người lái – anh Minh – đã chờ khách sẵn. Anh Minh phóng rất nhanh giữa sông, máy quay thường trực 4.000 vòng/giây, hai bên bờ lướt nhanh đến nỗi không kịp bấm một cái ảnh.

Trời Cà Mau hôm nay nắng lên cao, trong xanh, không một gợn mây, nhiệt độ khoảng 31oC, 32oC vào lúc khởi hành 8 giờ sáng. Ánh nắng trên Cà Mau là một ánh nắng trắng bạc, rất sáng, sáng hơn nắng Sài Gòn, nắng đốt da đỏ bỏng mà không hay biết dù đang ở trong bóng râm. Cái ánh sáng đặc biệt của cực Nam làm cho tôi nhớ lại bầu trời sương đục mờ mờ nặng trĩu nước nhìn không rõ mặt người ở cực Bắc.

Từ cái bến nhỏ không có tên, không có bảng hiệu ở Cà Mau, chúng tôi lướt trên sông Gành Hào trực chỉ hướng ngã ba Hòa Trung. Đoạn này sông hẹp, nhà cửa san sát hai bên bờ thấy gần gũi hơn. Đến ngã ba Hòa Trung thì ca nô quẹo qua sông Bảy Háp (Hạp), lòng sông đã rộng hơn gấp hai sông Gành Hào.

Ngồi một lúc đã quen với tốc độ của ca nô, 65km/giờ trên nước, tôi bắt đầu chụp hình phong cảnh “đường“ đi. Ngang qua cảng cá, các vựa tôm, các bến than đước, cát sỏi… Cà Mau có những hoạt động kinh tế tích cực của vùng sông nước. Nhà cửa dần dần thưa thớt, từng mảng rừng mắm hiện ra, dọc hai bên sông, có khi ngang ra đến giữa sông là những bãi nuôi tôm cá của dân chài. Những bãi này được nhận ra chỉ bởi những cây sào dài cắm trong lòng sông, lồi lên trên không khoảng 1,2m. Ca nô lướt nhanh qua chợ Chà Là, cái tên xuất phát của một nơi có nhiều cây chà là, chợ Bà Hính, chợ Cái Keo (Tà Keo).

Từ Chà Là xuôi xuống 2km thì đến phà Giá Ngự để về Đầm Dơi. Giá Ngự nhắc nhở sự tích chúa Nguyễn Phúc Ánh đã nghỉ quân nơi đây. Cũng trong vùng này, còn có hồ Long Ẩn ở gần Cái Rắn, là nơi chúa Nguyễn Phúc Ánh cho trú quân, đào ao lấy nước ngọt cho quân lính uống, sinh hoạt, và Hòn Đá Bạc với sự tích Cá Ông hiện ra đội long thuyền chúa Nguyễn vào bờ khi chúa bị lâm nạn, rồi được lập đền thờ và được chúa phong làm “Nam Hải Đại tướng quân” (thuộc xã Khánh Bình Tây của huyện Trần Văn Thời).

Hình thức họp chợ, cứ ở đâu có chợ là có dân kéo về sinh sống, buôn bán, làm ăn… tạo nên một nơi định cư lâu dài, vững chắc. Trời còn sớm nhưng đã có nhiều ghe thuyền lớn nhỏ di chuyển trên sông. Chiếc ca nô nhỏ của anh Minh phóng như bay trên mặt nước, mỗi khi bị sóng vập của những thuyền đi trước, anh Minh lướt sóng ngang, tách sang bên, làm thuyền nhồi trên sóng cà rập cà rập, ai cũng bị nhồi lên nhồi xuống muốn tụt ra khỏi cái băng ghế hẹp.

Datmui15Qua khỏi chợ Cái Keo là đến Đầm Cùng, “đi” thêm một đoạn nữa là đến Năm Căn. Năm Căn bây giờ không còn như Năm Căn ngày mới khai khẩn chỉ có năm căn nhà đầu tiên của người Hoa đến lập nghiệp. Một dãy dài nhà cửa san sát chứng tỏ Năm Căn có đông dân cư, thống kê năm 2003 cho biết Năm Căn đã có 70.745 người dân sinh sống trong 7 xã (*).

Đi dọc hết Năm Căn là chúng tôi hồi hộp thêm vì ca nô lướt ra sông Cái Lớn (Cửa Lớn). Sông rộng mênh mông, sóng gờn gợn chảy mạnh. Lúc này, tôi mới sực nhớ là không ai có mặc áo phao cả, nước sông chảy mạnh như thế này,  nếu té xuống thì chắc phải đi theo “Bà Thủy”.

Ca nô lướt sóng sông Cái Lớn, ngang qua các địa danh Nhưng Miên, Ông Chang. Anh Minh chỉ ra phía tay phải nước ơi là nước mênh mông: “Đó, ra biển đó!”, rồi anh băng ngang suốt mặt sông, đưa chúng tôi vào một hệ thống kênh rạch của Vườn quốc gia Mũi Cà Mau, được công nhận là khu dự trữ sinh thái thế giới. Vào đến đây thì “êm” hơn. Kênh không rộng lắm, có những khúc cua ngặt, và cây đước xòe nhánh, rễ trên kênh.

Gần tới Đất Mũi thì anh Kha, người hướng dẫn, vui mừng chỉ cho tôi những bãi đất phù sa bồi, có nơi đã “đứng” lại, “cứng” lại, vài cây mắm mọc lên, lưa thưa, sau những bãi đất đó là biển Đông. Người dân Cà Mau có câu “Mắm trước, đước sau, tràm theo sát” để chỉ quá trình hình thành tự nhiên theo thứ tự của những rừng mắm, rừng đước và rừng tràm, các loài cây giữ đất bồi phù sa cho con người sinh sống. Anh Minh, nãy giờ, “chạy đua” với những chuyến tàu cao tốc chở khách khác trên sông Cái Lớn, uyển chuyển luồn lách rất thiện nghệ trên kênh rạch, đưa chúng tôi đến bến Đất Mũi an toàn.

Datmui_15

Đang ngồi trên ca nô, gió sông gió biển thổi thốc vào mặt, khô cứng cả da, tóc rối bù, nhưng rất mát, bây giờ lên bờ mới thấy không khí nóng hẳn, hơn 38°C, mồ hôi rịn ra hòa với chất muối biển trong không khí dính rin rít, nhớp nháp.

Ba đoàn du khách đến trước chúng tôi hấp tấp đi trước để giành chỗ chụp hình ở các điểm tham quan như cột mốc số 0 của cực Nam nước Việt Nam, con tàu Đất Mũi và lầu Vọng Hải.

Đứng trên lầu Vọng Hải nhìn đường cong chân trời, nước non mênh mông, nắng trưa sáng lung linh trắng bạc, tôi ngỡ ngàng cảm thấy mình rất hạnh phúc trên quê hương đường cong chữ S, vừa thầm nghĩ, ở đây thiếu một cái cột cờ hoành tráng như cột cờ Lũng Cú. Nhưng đất nước này, đẹp như thế này, đẹp từ cực Bắc đến cực Nam, cho con người một môi trường sinh sống nhiều khác biệt để bổ sung cho nhau, thì phải giữ lấy nước, phải không nhỉ…

Các nhà hàng sát ven biển của Đất Mũi đều chật ních du khách vào ăn trưa, không còn một chỗ. Chúng tôi theo chân anh chị Vị rút lui vào quán của Công đoàn nằm ở phía sau, xây như một cái nhà sàn bằng tre, gỗ, rất rộng lớn, chỉ có nóc lợp lá tranh, bốn bề không có vách như thường thấy ở miền Nam, trên những rễ của một khoảng rừng đước đã bị đốn cụt. Thực phẩm thì nơi nào cũng như nhau canh chua cá lóc, cá kho, cá chiên, tôm lăn bột…cơm trắng. Nhiều người về đây phải ăn cho bằng được món lẩu mắm Cà Mau đặc sắc, nhưng vợ chồng tôi không biết ăn mắm cá.

Một ngạc nhiên nho nhỏ là có thực khách nào đó yêu cầu đờn ca vọng cổ, nhà hàng bèn làm xảo thuật, không biết từ đâu ra có một anh ôm cây đàn điện rảo mấy nhịp đờn vọng cổ nghe thấy lên tinh thần, thoải mái, còn cô bé nho nhỏ xinh xinh viết thực đơn, bưng đồ ăn cho khách, mới có 17 tuổi xuân, chợt lên sân khấu cầm mi crô hát một bài vọng cổ tình tứ, giọng trẻ thánh thót trong trẻo, xuống câu cũng khá mùi, thực khách vỗ tay rầm rầm. Rồi cũng có khách ăn lên cầm mi cô xuống sáu câu vọng cổ đáp lại.

Chồng tôi cười, một không khí vui vẻ, cởi mở, hào phóng, cộng đồng như thế này thì không hề thấy ở miền Trung cũng như miền Bắc, làm cho tôi lại còn thắc mắc hơn về phong cách tiếp đãi khách du lịch ở thành phố Cà Mau.

Cơm trưa xong, trên đường ra lại ca nô có anh Minh đang chờ, chúng tôi rảo qua cửa hàng bán đồ kỷ niệm, anh Vị mua tặng chồng tôi cái mũ tai bèo mầu xanh lá cây, tôi mua một bộ đũa ăn làm bằng gỗ cây đước, một đôi đũa cả làm bằng gỗ cây mắm, và một tấm thủy tinh vẽ hình Đất Mũi. Còn anh tài, không biết đi mua sắm từ bao giờ, khệ nệ bưng nguyên một thùng giấy cứng nặng cầu hơn mười kí lô, đựng đầy khô mắm Đất Mũi ra đến tận ca nô chở về. Mắm cá ở đây chắc phải ngon và an toàn, trời nắng hanh suốt ngày thì cá phơi mau khô, lại không có ô nhiễm không khí, ở đây chỉ có nắng và gió biển, bụi cát.

Leo trở lại ca nô, đã biết đường về, tôi hết còn sợ, ngồi thưởng thức những cú lướt sóng, đạp sóng của anh Minh, bề ngang của con sông Cửa Lớn khúc gần ra tới biển thì thật là rộng, nước chảy xiết mênh mông vậy mà nhìn trên bản đồ chỉ là một sợi chỉ mầu xanh, bề ngang sông Bảy Hạp hẹp hơn một chút, chớ coi vậy mà chưa chắc có ai dám bơi từ bờ bên này sang bờ bên kia đâu, mỗi lần ca nô tưng lên rồi rớt xuống là đập một cái « rầm » trên mặt nước, đập trên nước mà như là đập trên bê tông, cái bẹ sườn bên phải của tôi mỗi lần « rầm » là bị đập vô cạnh sườn ca nô, tối nay về ê ẩm phải biết. Nhưng, vui! Giống như lượt đi, anh Minh dừng lại giữa đường hai lần, một lần vì rác hay rong bám vào chân vịt ca nô, phải cho quay ngược chân vịt thải rác ra, một lần hết xăng, anh Minh phải ngưng tay lái, lom khom đi ra phía sau ca nô, đổ xăng dự trữ vào bình, hai lượt đi về tốn hết 4 bình xăng. Cái hay là chiếc ca nô với bảy người ngồi, anh Minh đi tới đi lui, nổi trên sóng nước mà không lật.

Đường về bao giờ cũng thấy nhanh hơn là đường đi. Mới đó mà chúng tôi đã về tới cái « bến cũ » nằm trên miệng cống ở Cà Mau. Lên đến bờ, hết gió, hết thấy mát, nhưng tôi còn cảm thấy say say sông nước bập bình dưới chân. Về nhà, tôi ngồi nhìn mê mải cái mũi đất cực Nam nước Việt có một cái chấm nhỏ xíu đề « Xóm Mũi » Mũi Cà Mau trên tấm bản đồ mà sung sướng nghĩ rằng, chúng tôi đã đi đến tận nơi ấy. Một chuyến đi cực kỳ thú vị với vợ chồng anh Vị! Đi chơi có bạn vui hơn. MTT.

MTT_DatMui_1

MTT_DatMui_2MTT_Vi_1

Vó lưới Thái Bình

11. novembre 2021

Vó lưới Thái Bình * – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2015 – https://mttuyet.fr

Bài viết này tôi thương mến gửi về Thái Bình tặng cậu mợ Hắc và cháu Huê. Tôi vẫn thường nhớ về Thái Bình quê ngoại có mộ của bà ngoại tôi thương, chôn phẳng đất, chỉ có cỏ xanh mọc. Cái giản dị, mộc mạc của một góc làng quê miền Bắc, nhưng để nhiều thương nhớ trong tâm hồn.

Hôm nay, 11.11. 2021 nước Pháp kỷ niệm ngày chiến thắng Đệ nhất thể chiến 1918. * Trích « Từ Lũng Cú đến Đất Mũi »

Chồng tôi đã lái xe ra ngoài đường, chờ đưa tôi đi mua bánh mì trong làng bên cạnh, mỗi lần đi thì mua cho cả hai ba ngày, tôi lười lên xe xuống xe, lười đi chợ, cứ thích ở trong nhà, ngồi viết. Chợ bên này đi mãi cũng chán, không như đi chợ ở bên nhà. Ra chợ bên nhà là gặp người này người kia bán hàng, đon đả chào mời có, chanh chua như dấm có, lạnh nhạt có, vồn vã vui vẻ có…chợ nào cũng có cái mùi của nó, có nhạc điệu của nó, vỉa hè là chợ, góc phố cũng là chợ.

Ở Hà Nội, chồng tôi thấy tôi đi chăm chăm về hướng bà bán bánh bao trên một con đường ở gần Hồ Gươm, ông ấy hỏi, mới ăn mà đói rồi sao ? , tôi cười, ăn nhiều cho mập thêm ! Nhưng, đằng sau bà bánh bao với hai cái nồi hấp bốc khói trắng trong không khí lành lạnh mùa đông Hà Nội, là ông thợ may trong một cửa hàng bán quần áo đang chờ tôi đến lấy áo. Mấy hôm trước, chồng tôi cứ tưởng tôi nhìn bánh bao chăm chăm, không biết là tôi nhìn một cái áo nhung đen mặc trên người mẫu bằng gỗ, thấp thoáng sau làn khói bánh bao. Tôi thích cái áo nhung đen Hà Nội, đặt một chiếc áo, dù biết là về châu Âu thì chẳng có ai mặc áo nhung đen ra đường, rất lạ lẫm đối với khung cảnh bên Pháp, nhưng hình ảnh các cụ bà Hà Nội mặc áo nhung đen, vấn khăn đen mùa đông làm cho tôi cảm động, thấy sao mà thân thiết, như nhớ về bà ngoại của tôi. Hôm đo áo, bà bán hàng mắng chồng trước mặt tôi, anh nói giá thế thì lỗ, không làm được đâu, phải thêm hai trăm nữa. Cái áo nhung đen từ một triệu hai thành ra một triệu tư, tôi cũng đặt cho ông bán hàng vui. Cái áo nhung Hà Nội đem về cất vào tủ.

Hôm trước, cũng thế, thấy tôi dắt tay qua đường một cách rất quả quyết, chồng tôi hỏi, có gì thế ? Tôi cũng cười, rồi anh xem. Đứng trước một cái rổ thật to, phủ mấy lớp khăn dạ, ông ấy không biết là cái gì, đến lúc bà bán hàng, ngồi trên một chiếc ghế đẩu đằng sau cái rổ hỏi, mấy cái ? Chị cho em một cái thôi, em mới ăn trưa, còn no. Cái bánh khúc Hà Nội ! No quá mà tôi cũng ráng thưởng thức hương vị quen thuộc ngày xưa. Chồng tôi trố mắt nhìn, dưới những lớp khăn len dạ, rổ bánh khúc nóng nổi, bốc khói nghi ngút, một cái bánh khúc xanh nóng, bao bọc bởi những hạt nếp trắng đặt trên một mảnh lá chuối, gói trong một miếng giấy báo cũ. Đó là quà Hà Nội mà tôi yêu mến. Hàng ngày, về khuya, thường có tiếng rao đàn ông ngang qua khách sạn tôi trọ, ai bánh khúc đây, bánh khúc nóng đây…Đó là một sự gợi nhớ Hà Nội rất da diết khi tôi trở về Pháp. Trong Sài Gòn, hồi tôi còn bé, cũng có những người bán bánh khúc trên xe đạp ngang qua nhà tôi mỗi chiều, ba tôi thường mua mấy cái phân phát trong nhà, no cũng phải ăn, ăn để giúp người bán.

Chợ bên này chán chết. Chẳng có ai, chỉ toàn là những kệ hàng, tự tìm, tự lấy, tự trả tiền, không có giao tiếp, không có trao đổi. Họ tiết kiệm nhân sự cho cửa hàng đến mức tối đa, các bà ngồi thâu tiền chẳng ai vui vẻ hay lịch sự gì với khách hàng vì họ cũng chán công việc của họ, mỗi ngày đẩy qua két hàng tấn thực phẩm, hàng hóa, thâu không biết bao nhiêu tiền cho chủ. Tôi mới đọc một cái thống kê trong năm 2015, cứ một người vào chợ chỉ mua cho nhu cầu của mình thì để lại cho chủ chợ một số tiền trung bình là 70 euros mỗi lần. Nếu tính theo thống kê đó thì hai vợ chồng tôi, mỗi tháng đi chợ bốn lần, ắt phải nộp cho chủ chợ 560 euros, kể ra cũng khá đúng đấy.

Bà bán bánh mì trong làng, hỏi tôi có cần một cái bao ni lông không, tôi lắc đầu, moi ra trong túi áo một cái túi lưới…Thái Bình. Bà ấy cười, hỏi tôi, ồ hay quá, bà vẫn còn loại túi lưới này à ? Vâng, mới tinh đấy ! Bà bánh mì kể, ngày xưa tôi cũng có cái túi lưới này, tiện lắm, đựng trứng gà, cam, táo, bánh mì, nó nhẹ, gọn, tiện để nhét vào túi áo. Tôi khoe, em tôi đan túi lưới cho tôi đấy. Bà nói, bây giờ bên mình (Pháp) chẳng có ai ngồi đan túi lưới đâu. Em tôi, ở Thái Bình, chỉ ngoáy một lúc là đan xong cái túi lưới. Mợ Hắc, lúc tặng tôi cái túi lưới, hỏi, chị lấy thêm không ? mợ còn một đống túi lưới trắng của mợ làm ra. Trong nhà cậu mợ Hắc chất đống những bó lưới, vì bên ngoài cửa có treo một cái bảng “Hắc làm vó lưới”. Nghề của cậu mợ, nghề tay trái thôi, là nghề làm vó, lưới, võng…trong nhà, rồi đem bán ở chợ. Vó của cậu Hắc trông giống như trên bưu thiếp ảnh của Việt Nam. Cháu Huê, con dâu mợ Hắc, vừa đẹp người vừa đẹp nết, có đôi mắt đen nhánh như hạt na, sáng lấp lánh rất tình cảm, thân thiện và nhỏ nhẻ, đem sản phẩm của gia đình đi bán hàng ngày ở chợ, đứng gió đứng mưa. Mỗi lần nghe cháu Huê gọi tôi dịu dàng nhỏ nhẻ “Bá à…” tôi cứ ngỡ như mình sinh ra ở Thái Bình và chưa bao giờ đi đâu xa.

Mợ Hắc được cậu Hắc giới thiệu khi tôi mới về quê ngoại lần đầu, nhà em xấu người nhưng đẹp nết, chị ạ. Câu nói của cậu làm tôi ngượng, muốn khóc. Tôi, tôi chẳng đẹp người, chẳng bằng ai, cũng chẳng đẹp nết ! Theo tiêu chuẩn ấy thì tôi không được cái gì cả, vô tích sự. Mợ Hắc, tôi thấy mợ như con thoi, là cái chân, cái tay, chạy chỗ này, chạy chỗ kia, việc gì cũng xông vào làm, không ngơi nghỉ. Mợ Hắc đẹp vì cái nét khắc khổ của mợ và đôi mắt nhìn rất chân tình. Mợ Hắc nhỏ người, gầy gò. Nhìn mợ Hắc mà tôi ngượng vì tôi lạnh, ở bên Pháp đã mấy chục năm rồi mà về Thái Bình thì tôi lạnh cóng chân, lạnh cóng tay, trong khi mợ Hắc, áo của mợ có lẽ không ấm bằng áo của tôi, không biết lạnh là gì. Nhà cậu mợ không có cửa sổ đóng kín, chỉ có khung sắt, các cánh cửa mở toang hoang, gió luồng từ đầu này sang đầu kia. Cái giường của cậu mợ đặt trong một góc của cái nhà một gian chắc là lạnh và ẩm lắm. Tôi nhìn quanh, tìm một chậu than nóng, như ở Hà Nội, nhưng không có. Lạnh quá, tôi ngồi một chỗ, không dám đứng lên đi đâu nữa. Ở nhà quê Thái Bình, mùa đông giá rét đến đâu, trên giường gỗ cũng chỉ có chiếc chiếu hoa, cũng không sưởi ấm bằng một ít than ? Mợ Hắc thấy vợ chồng tôi đến là lẳng lặng đi bắt một con gà trong chuồng, giết gà làm cỗ. Bữa cơm nhà quê rất thịnh soạn có gà luộc, miến gà, su hào xào, lòng gà, mề gà xào mặn, giò chả và cơm trắng nấu bằng gạo của nhà trồng, cấy…ngon hơn tất cả mọi bữa cơm ở Hà Nội, vì vừa ăn vừa run, đôi đũa run lập cập, ăn nhanh cho thức ăn còn ấm, và ăn xong thì ấm người. Về Pháp, chổng tôi cũng nhớ hình ảnh mợ Hắc, ngồi bốc kem sữa bôi mặt tôi đem làm quà từ Pháp về, rất vui bôi lên mặt. Mợ thích vì mùi thơm và chất kem làm êm dịu làn da khô cằn, nhăn nheo vì gió, lạnh, nắng…ở nhà quê. Chồng tôi nhắc, lần sau nếu có về, phải nhớ mang theo mấy hũ kem dưỡng da cho Thái Bình. Mấy hôm nay, theo dõi tin bão kéo vào Việt Nam từ Phi Luật Tân, tôi lại lo cho vùng biển của Thái Bình. Nhà của cậu mợ Hắc đã bị xập lần trước, cậu mợ đã xây nhà mới, sát vách với nhà của con trai, nhà cửa vững chãi hơn, khang trang hơn xưa rất nhiều, nhưng tôi vẫn tiếc cái nhà cổ lợp ngói của ông bà ngoại, nơi cậu mợ Hắc ở cũ, nay không còn nữa. Ở hội nghị về biến đổi khí hâu COP21 tại Paris, người ta huênh hoang vì môi trường lắm, bắt buộc dân chúng phải giảm tiêu thụ xăng, dầu, than củi, điện và đánh nhiều loại thuế lên sự tiêu thụ năng lượng, nhưng bao nhiêu người Việt Nam vẫn đang bảo vệ môi trường sinh sống một cách rất bình thản, tự nhiên, không cần chiêng trống ! Cuối năm, ngồi bên này, tôi nhớ bên nhà, nhớ cái lạnh cóng người, không có được một chút sưởi ấm và những bàn tay gầy gò, lạnh ngắt đan vó lưới Thái Bình. MTT12-2015

MTT_NhacuTB2012

Vinh – Hà Tĩnh – Vĩ tuyến 17 ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

7. novembre 2021

Vinh – Hà Tĩnh – Vĩ tuyến 17 ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Bài viết này được viết trong khoảng thời gian du lịch cưỡi ngựa xem hoa năm 2009-2012 tất nhiên không còn tính cách thời sự, đã xuất bản trong cuốn hồi ký du lịch « Từ Lũng Cú đến Đất Mũi » năm 2013. Mười năm là một thời gian dài để cho cuộc đời vật chất có thể thay đổi nhiều. Nếu có dịp, tôi lại đi lại con đường cũ đã đi qua từ Bắc chí Nam để thấy sự thay đổi đó. Về Vinh, hay Nghệ An, làng Sen, về vĩ tuyến 17…đối với tôi là một sự bắt buộc, vì đó là những địa danh lưu truyền sử sách. Tôi luôn ao ước thấy tận mắt sức sống của đất nước qua thời gian. Đối với chồng tôi, người Pháp, những chuyến đi « hộ tống » vợ đã giúp cho anh thêm hiểu biết rất nhiều về « cái nôi » của tôi. Tôi dắt anh đi từ kỷ niệm này sang kỷ niệm khác trong đời. Bài viết này tôi tưởng nhớ đến hai anh của tôi, hạ sĩ Trúc (26 tuổi) và hạ sĩ Điểm (24 tuổi) đã hy sinh trong trận hành quân Lam Sơn liên kết 36 năm 1966 ở Quảng Trị.

Tôi về thăm thành phố Vinh cũng vì muốn chụp cho bác Minh vài tấm ảnh của quê hương bác. Có ngờ đâu, về Vinh cũng như Từ Thức về quê, Vinh ngày nay thuộc về tỉnh Nghệ An, là một thành phố lớn, kiến trúc xây dựng hiện đại, với những quảng trường thật rộng lớn, những đại lộ thênh thang, những khách sạn du lịch theo tiêu chuẩn quốc tế, dân số toàn tỉnh xứ Nghệ lên đến hơn 3 triệu người (thống kê 2009) có còn đâu quá khứ ngày xưa. Một dãy nhà chung cư cũ, xây thời bao cấp, đang bị đập phá để xây lại mới. Các cửa hàng trên đại lộ chính ở Vinh đầy ắp hàng hóa, xe hai bánh mới tinh, quần áo bằng da, giầy da… Tôi về Vinh đúng vào mùa cưới, các khách sạn ba sao, các nhà hàng lớn của Vinh tất cả đều có tiệc cưới. Cô dâu đều mặc áo đầm trắng như ở châu Âu, chú rể thì diện com lê đen hay toàn trắng. Tìm mãi không có chỗ ăn, chúng tôi phải lánh ra một quán cơm bình dân ăn cơm phần, cơm xe tải, nằm ở đầu đường vào thành phố Vinh. Trời lạnh, lại có gió, nên chúng tôi tiếc là không ra thưởng thức biển ở Cửa Lò được, mà xuôi về Hà Tĩnh.

Đoạn quốc lộ 1 ngang qua Hà Tĩnh còn là một đường hai chiều với hai lằn xe, xe hơi nhỏ, xe tải, xe hai bánh, xe đạp luồn lách tránh nhau. Chúng tôi không có dự tính dừng ở Hà Tĩnh nên xe lướt nhanh qua. Tuy thế, khi nhìn thấy có hai tháp chuông nhà thờ nổi lên giữa ruộng xanh, từ đường cái, chồng tôi vội vã xin anh tài lùi xe lại, để vào tham quan nhà thờ ấy.

Xe rẽ vào một con đường đất còn nhỏ, cứ nhắm hướng nhà thờ ấy mà đi. Như nhiều nơi khác, mặt đường cứ hẹp dần lại, đường đất nối tiếp đường được trải nhựa. Hai bên đường, nhà nhà đều có làm hang đá Chúa Hài Đồng trước cửa, Giáng Sinh vừa mới qua, đúng là xóm đạo. Hang đá làm bằng bao ny lông cũ, loại đựng gạo hay phân bón, lộn ngược lại bên trong, vò nhăn nheo giả đá, phun mầu nâu, mầu xám mầu đen lên, và trang trí bằng nhiều dây đèn xanh đỏ vàng trắng. Khi đến nơi, chồng tôi rất ngạc nhiên nhìn « cái » nhà thờ, thật cao, thật to, xây theo kiểu vương cung thánh đường ở Sài Gòn với hai tháp chuông, mọc lên giữa đồng không mông quạnh, chung quanh toàn là ruộng lúa. Trước nhà thờ là một vườn hoa rất rộng, có lối đi ở giữa tiến thẳng vào nhà thờ, hai bên là 13 tượng rất to sơn trắng, thể hiện đường đi lên thập tự giá của Chúa, đã hoàn tất. Trước cửa nhà thờ cũng là một hang đá rất to, có tượng Đức Mẹ, Đức Chúa, Thánh Joseph, ba vua, lừa, bò….Trong nhà thờ thì một đàn gà đang đi chơi thong thả vì nội thất chưa làm xong, một đống cát để trộn xi măng còn nằm ở giữa. Sự hoành tráng ấy, cái gì cũng to, cao, rộng làm chúng tôi ngạc nhiên. May sao, gặp được một người trong họ đạo, chúng tôi được vào thăm nhà thờ cũ của giáo xứ nằm ngay bên cạnh. Nhà thờ cũ nhỏ nhắn, ấm cúng, còn mộ phần của những người chăn chiên thưở trước. Thánh đường mới được xây bằng công đức của giáo dân đóng góp.

Nóng ruột muốn đến khu vực vĩ tuyến 17 sớm, nên chúng tôi tiếp tục đi ngay về hướng Đồng Hới, Lệ Thủy của tỉnh Quảng Bình trên quốc lộ 1. Anh tài cho biết là chiều ý chúng tôi muốn đi dọc quốc lộ 1, nhưng hiện nay đường Hồ Chí Minh, con đường « mòn » nổi tiếng trong chiến tranh Việt Nam, song song với quốc lộ 1, nhưng nằm sâu hơn vào trong đất liền, sát rặng Trường Sơn, đã được xây dựng cho xe các loại giao thông, khi đưa chúng tôi đến Huế, xong nhiệm vụ, anh sẽ quay về Hà Nội theo đường Hồ Chí Minh, chạy nhanh hơn. Sau nhiều ngày đưa chúng tôi đi đó đi đây, anh nhớ vợ nhớ con quá rồi, đếm từng ngày từng đêm.

Anh tài đề nghị nghỉ ăn trưa sau khi đã qua đèo Ngang, cách Hà Tĩnh 75 cây số xuôi về Nam. Tôi mừng quá, được qua đèo Ngang trên rặng Hoành Sơn của Bà Huyện Thanh Quan:

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,

Cỏ cây chen lá lá chen hoa

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà.

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Dừng chân đứng lại trời, non, nước

Một mảnh tình riêng ta với ta.

nhưng hôm nay thì mưa như trút nước dai dẳng, đúng là qua đèo Ngang với một mảnh tình riêng mình với mình, không thể xuống xe ngắm cảnh, chụp hình được, tiếc ơi là tiếc.

MTT_V22

Đèo Ngang nổi tiếng trong sách sử vì nó đã từng là biên giới thiên nhiên của hai nước Đại Việt và Chiêm Thành thời rất xa xưa. Sau này người Pháp còn đặt một cái tên cho đèo Ngang: «Porte d’Annam». Tấm bảng chỉ đường cho biết nơi này còn cách thành phố Hồ Chí Minh 1.350 cây số, tiến xuống phía Nam thật là đường xa vạn dặm. Đèo Ngang bây giờ nằm giữa hai tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh, không còn là biên giới phân chia, mà là một thắng cảnh nguyên thủy của miền Trung.

Đi mãi đến Quảng Trạch, trời đã bớt mưa, mới tìm được một hàng cơm còn phục vụ khách, bọn tôi ba người mừng quá, sắp hết đói rồi. Cái xe cũng được nghỉ xả hơi, máy đã nóng bốc khói. Bữa cơm bình dân có tôm rim, bò xào giá, cơm, canh, và bia Huda của Huế. Khách chưa ăn, con chó của chủ nhà đã đứng chầu mõm cạnh chân bàn.

Vừa lên xe đi, trời lại đổ thêm một cơn mưa to dai dẳng nữa, đường xá đã lầy lội còn lầy lội thêm. Nhưng bọn tôi no bụng vẫn thấy sướng hơn là lúc còn đói. Đoạn từ Hà Tĩnh xuống Đồng Hới, quốc lộ 1A ôm khá sát ven biển. Xe chạy ngang qua khu vực du lịch Phong Nha, Kẻ Bàng của vùng Bố Trạch.

MTT_V27Đến Đồng Hới thì không thể không đến thăm Lũy Thầy của Đào Duy Từ xây từ năm 1630 theo lệnh của chúa Nguyễn Phúc Nguyên để bảo vệ Đằng Trong, chống lại Đằng Ngoài. Một tấm bảng kể ngắn ngủi sự tích Quảng Bình Quan đã được Đào Duy Từ xây từ năm 1631, năm 1825 vua Minh Mạng cho xây lại bằng gạch đá, nhưng trong ba năm 1965-1968 bom Mỹ, trong chiến tranh đánh phá miền Bắc, đã phá sập toàn bộ di tích cũ, chỉ còn lại phần móng, rồi mãi đến năm 1994 mới được xây cất lại theo mẫu cũ.

Chúng tôi đi từ phía Bắc xuống, nhưng du khách có thể đi ngược từ Huế lên khu vực vĩ tuyến 17, mà các dịch vụ du lịch đặt tên là chương trình tham quan DMZ (Demilitarized Zone, vùng phi quân sự): từ Huế đi Đông Hà, cầu treo Đakrông, Khe Sanh, Tà Cơn, thành cổ Quảng Trị, nhà thờ La Vang, địa đạo Vĩnh Mốc, dốc Miếu, hàng rào điện tử Mac Namara rồi về lại Huế trong một ngày.

Con sông Bến Hải, dài gần 100 cây số, con sông không may đã đi vào lịch sử Việt Nam là biểu tượng của sự chia cắt phân ly, bắt nguồn từ rặng Trường Sơn trong khu vực tỉnh Quảng Trị, chảy xeo xéo từ Nam lên Bắc, qua Bản Mít, Bản Mới, cắt ngang đường Hồ Chí Minh và quốc lộ 1 ở vĩ tuyến 17 để đổ ra biển Đông ở cửa Tùng, nên theo hiệp định Genève 1954 là con sông biên giới của hai miền Nam Bắc, thuộc khu vực phi quân sự tạm thời. Bờ Bắc của sông Bến Hải là huyện Vĩnh Linh, bờ Nam của sông Bến Hải là huyện Gio Linh. Những trận đánh ở Quảng Trị, nhất là ở Khe Sanh, nằm gần biên giới Lào, là những trận đẫm máu ác liệt. Hai người anh tôi, anh Điểm và anh Trúc trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa thời ấy, cũng đã hy sinh nơi đây. Anh Điểm (thuộc sư đoàn Thủy quân lục chiến) được 24 tuổi, anh Trúc (thuộc sư đoàn Bộ binh) được 26 tuổi, còn rất trẻ.

MTT_V28

Sông Bến Hải có nhiều tên, còn gọi là sông Minh Lương vì chảy qua làng Minh Lương, nhưng đến đời vua Minh Mạng vì kỵ húy phải đổi tên làng, tên sông thành Hiền Lương. Vì thế cây cầu bắc ngang qua sông Bến Hải tại cây số 735 trên quốc lộ 1A có tên là cầu Hiền Lương, dài khoảng 100 mét. Lịch sử cầu Hiền Lương được ghi lại từ năm 1928 mới đầu chỉ là bằng gỗ, đi bộ qua cầu. Năm 1950 Pháp xây lại cầu bằng bê tông cốt thép, dài 162 mét, rộng 3,6 mét, đến năm 1967 thì bị bom Mỹ đánh xập. Một chiếc cầu phao được bắc tạm từ năm 1972 cho đến 1974. Cầu cũ, từ cầu chia cắt trở thành cầu thống nhất hai miền Nam Bắc được xây dựng lại với chiều dài 186 mét, 9 mét bề ngang, có hành lang đi bộ rộng 1,2 mét. Năm 1996 thêm một cây cầu mới dài 230 mét, rộng 11,5 được xây song song với cầu cũ, về phía Tây, được sử dụng cho việc di chuyển, cầu cũ đứng đó với nhiệm vụ là di tích lịch sử độc đáo.

MTT_V29Hiện nay bờ Bắc còn cột cờ cao 38,6 mét xây mới từ 1962 với lá cờ rộng 134 mét vuông, nặng 15 kí lô. * Ngày hôm ấy mưa gió lạnh, ảm đạm, tôi đứng ở đầu cầu Hiền Lương cũ, ngắm hai chiếc cầu song song, nước sông Bến Hải chảy xiết, hai bờ hai bên vẫn còn hệ thống loa phóng thanh ngày xưa. Trên bờ Nam có một kiến trúc hình những cái lá nhọn, sắc cạnh, như những mũi dao to bản chĩa thẳng đứng lên trời, làm cho tôi có cảm giác rờn rợn. Ai lại đi xây một khu vực tưởng niệm như thế nhỉ.

Đứng tần ngần hồi lâu trên cầu Hiền Lương, mà tôi không dám đi qua suốt cầu, có một cảm giác gì đó khó tả, chúng tôi đi về cột cờ chụp vài tấm hình, rồi lên xe đi cửa Tùng.

Đến tận cửa Tùng, nằm giữa hai huyện Vĩnh Linh (bờ Bắc) và huyện Gio Linh (bờ Nam) thuộc tỉnh Quảng Trị, đối với tôi là một điều bắt buộc, không thể bỏ qua. Trong thời gian vua Duy Tân còn trên ngai vàng ở Huế, thỉnh thoảng nhà vua được đi nghỉ hè ở cửa Tùng, tạm trú trong biệt thự của khâm sứ Huế. * Từ Huế ngược ra hướng Bắc để đi cửa Tùng đường dài khoảng 180 cây số, nhưng từ cầu Hiền Lương ra đến cửa Tùng thì khá gần, chỉ khoảng 10 cây số về hướng Đông Bắc, cửa Tùng là nơi con sông Bến Hải đổ nước ra biển. Có đường đi đến tận cửa Tùng là tôi mừng rồi. Nhằm hôm mưa gió khá mạnh, sóng biển ào ào đập vào xem rất hung dữ, chúng tôi không xuống bãi, chỉ đứng co ro trên cái nền nhà của biệt thự khâm sứ Huế khi xưa nay đã bị triệt hạ hoàn toàn, ngắm cảnh sông hòa với biển từ trên cao. Cửa Tùng khá rộng, nước một màu xanh xám, mây đen mây xám mây trắng xà xuống thấp sát từng con sóng cuồn cuộn đổ về. Tưởng tượng tâm trạng vua Duy Tân khi ngắm nhìn cùng một khung cảnh mưa gió như hôm nay, thì có lẽ đã buồn lo lại còn buồn lo hơn.

MTT_V32Khi trời đẹp thì cửa Tùng cũng đổi mầu từ xám sang xanh, và là một nơi tắm biển, nghỉ dưỡng được mệnh danh là « nữ hoàng của bãi biển » miền Trung.

Về trở lại thành phố Đông Hà, chúng tôi muốn từ đây theo đường 9 đi thăm Khe Sanh và cứ điểm sân bay Tà Cơn cách Khe Sanh 2 cây số, nghe nói ở đấy có một khu lưu niệm chiến tranh, để xem tận mắt nơi hai anh tôi đã ngã xuống trong trận hành quân Lam Sơn liên kết 719 năm 1966, chỉ có khoảng 60 cây số về phía Tây (hướng Lào) thôi. Nhưng không biết tại sao anh tài cản quá chừng, cô ơi mùa mưa đường lầy lội rất trơn, khó đi, lại là đường núi, vắng vẻ, xe có bị gì không có ai cứu hộ, mà cô lên đến đó lại quay về ngay trong ngày, trời chiều mau sụp tối, thì cực khổ lắm, cô chờ mùa khô rồi hẵng đi. Gần Khe Sanh, đi tiếp khoảng 20 cây số thì đến cửa khẩu Lao Bảo qua Lào, và di tích nhà tù Lao Bảo, cách cửa khẩu Lao Bảo chỉ có 3 cây số, do chính quyền thực dân Pháp lập nên từ năm 1908 và trở thành một trong những nhà tù lớn nhất Đông Dương, bao nhiêu người đã bỏ xác ở đó. Chúng tôi nghe lời anh tài đi về Huế trong một cơn mưa phùn, cảm thấy buồn buồn theo trời và đất. Chưa có duyên thì đi chưa tới.

Năm 2012, đọc tin khu vực Khe Sanh – Lao Bảo đã trở thành « khu đất vàng » do đầu tư để đón khách du lịch, đường xá tốt hơn trước, nên lần sau, thể nào chúng tôi cũng về thăm Khe Sanh.

MTT_V30

Đứng giữa cầu nhìn về bờ Nam và….bờ Bắc trong một ngày mưa gió lạnh buốt trên cầu Hiền Lương sông Bến Hải

MTT_V31

MTT_V24

MTT_V23

MTT_V20

MTT_V25

MTT_V26

Ghi chú:

1) Theo Sài Gòn giải phóng, ngày 23.05.2012.

2) Dấu xưa,Tản mạn lịch sử nhà Nguyễn, MathildeTuyetTran, nxb Trẻ, 2011

Về thăm lăng Gia Long

6. novembre 2021

Về thăm lăng Gia Long

Đã đăng trên Tạp chí Hồn Việt số 47/2011 – Hội Nhà Văn Việt Nam – 20-06-2011

Bài viết này đã lên trang nhà MTT từ năm 2011, hôm nay đăng lại nguyên bản trích từ tác phẩm hồi ký du lịch  » Từ Lũng Cú đến Đất Mũi » để thân mến tặng anh Lê Văn Cách, anh chị Trọng Hoa, anh chị Kháng Hồng, nhớ lại những kỷ niệm cũ đẹp tuyệt vời ở Huế và thân chúc các bạn bình an, nhiều may mắn vượt qua dịch covid 2021. Mới đó đã qua 10 năm rồi !

MATHILDE TUYẾT TRẦN (Paris, Pháp)

Năm ngoái, dù rất muốn đi thăm lăng vua Gia Long nhưng tôi không đi được, vì trời mưa. Các ông tài taxi lắc đầu quầy quậy không muốn chở tôi đi. Họ bảo, “đường đất mùa mưa rất lầy lội, dễ lún, rồi cô lại phải đi qua đò, rồi đi bộ thêm một khúc xa nữa, khổ lắm”. Tôi đành phải ấm ức hẹn năm sau. Năm nay, chưa kịp nói gì, thì các bạn Huế đã tổ chức cho tôi đi thăm lăng Gia Long! Trời lại đẹp, trong xanh, nắng ấm như chiều lòng người khi chúng tôi khăn gói lên đường.

Đúng hẹn, xe đón chúng tôi lên đường vào sáng sớm, nắng Huế đã lên cao trên nền trời xanh, ít gió, chỉ vài cụm mây trắng lững lờ trôi chầm chậm. Ra khỏi khu vực trung tâm thành phố Huế, xe rẽ xuống một con đường đất nhỏ dọc bờ sông Hương. Quả thật, đường đất này mùa mưa, nước sông dâng cao thì vừa lụt, vừa lầy lội, dễ trơn dễ lún. Con đường nhỏ hẹp, hai bên được ôm ấp bởi hai hàng cây xanh, nhiều nhất là những bụi tre, dòng nước sông Hương xanh lấp lánh khi ẩn khi hiện bên tay phải của đường đi. Trên sông Hương, ở khu vực này, có nhiều chiếc đò khai thác cát, sạn. Người Việt, từ Bắc chí Nam, còn sinh sống nhiều qua công việc tận dụng các sản phẩm thiên nhiên của trời đất tạo cho, khai thác biển, khai thác sông, khai thác rừng, khai thác khoáng sản…để bán cát, bán sỏi, bán đá, bán gỗ, bán tre. Như những làng chài, người dân chài sống hết đời này qua đời kia, ngày này qua ngày kia, chỉ bằng đánh cá, đánh tôm rồi đem ra chợ bán, nguồn của thiên nhiên như là vô hạn, vô bến bờ.

Màu xanh của cây lá, mầu xanh của nước sông Hương dịu đi ánh nắng lồng lộng giữa buổi sáng. Trời không gió, cây lá đứng im. Tôi cảm thấy cái nóng đang lên cao dần. Xe đến gần bến đò Kim Ngọc. Anh tài thả chúng tôi xuống, đến đây thì phải qua đò thôi. Bạn Huế của tôi gọi đò. Biết gọi cách nào không?

Tôi đang còn ngơ ngác vì không thấy đò nào ở đâu cả.

Ông già trong quán đò nằm sát ven đường, lưng quán là sông Hương, quay mặt ra sông, miệng gọi “Đò ơi !”, tay ngoắc ngoắc. Một chiếc đò bất chợt hiện ra trên sông, từ bờ bên kia, tiến về phía chúng tôi. Cô lái đò còn rất trẻ, cập bến. Anh Sách chạy xuống bến hỏi:

– Em cho qua bên nớ hỉ, đi thăm lăng Gia Long !

Hue_057Đáng lẽ, đò chỉ đưa ngang qua sông Hương, từ bến bên ni qua bến bên nớ, nhưng cô lái đò dễ thương, nói để đưa chúng tôi ngược dòng sông thêm một đoạn để đến bến gần nhất, ngay đầu đường dẫn vào lăng, cho đỡ đi bộ. Chúng tôi mừng quá, vì khi xuống xe, ngó lại, thấy các bạn tôi đã tay xách nách mang, nào là chai rượu vang đỏ, nước uống, bánh mì, giò chả, trái cây, khăn giấy, đĩa giấy…trong ba lô và trong túi nhựa để ăn trưa, thật rất chu đáo. Chúng tôi lần lượt xuống đò, người ngồi chồm hổm, người đứng chụp hình. Cô lái đò đẩy đò ra sông, hướng mũi đò ngược dòng nước, quay ma ni ven mở máy đò, rồi ra ngồi trước mũi đò, tay nắm một sợi dây để điều khiển tốc độ. Xem rất đơn sơ như thế, nhưng tiếng máy chạy xục xịch đều đều. Giữa dòng sông Hương, nước trôi êm ả, gió hiu hiu mát, sóng vỗ vào mạn đò nhè nhẹ, rất nên thơ, thú vị nên quên cả cái nắng trên đầu. Hue_056

Tôi tự nhủ, nếu Huế mưa, đội mưa mà đi thăm lăng Gia Long chắc cũng có cái thú vị của trời mưa. Con đò lướt nhẹ nhàng ngang qua vài cái miếu nhỏ bên bờ sông, vài cô gái giặt quần áo ven sông, vài chiếc thuyền đãi sỏi trên sông…Êm ả, thanh bình quá !

Khi cô lái đò cập bến, tôi thấy chuyến đò quá ngắn, còn muốn lênh đênh con đò cả ngày trên sông Hương. Tạm biệt cô lái đò, hẹn lần trở về. Thời ni, cô lái đò có điện thoại di động, nên chốc nữa, bạn tôi sẽ gọi đò qua làn sóng điện! Trên bờ, đã có vài người lái xe ôm chờ chúng tôi để chở vào đến tận lăng, nhưng bạn tôi bảo để đi bộ ngắm cảnh. Từ bãi cát ven sông, chúng tôi lên đường đất xuyên qua một xóm nhỏ. Tưởng ở đây là hiu quạnh, quạnh hiu nhưng tiếng nhạc trẻ thời trang vang lừng thôn xóm, xóa cái tĩnh mịch, yên lặng. Con nít trong làng thấy người lạ, đạp xe đạp chạy theo chúng tôi một đoạn. Các vườn cây ăn trái, các mảnh ruộng lúa nho nhỏ đang lên xanh chứng tỏ người dân biết sống tự túc. Ra khỏi làng, bắt đầu thấy hai hàng cây thông hiện ra, báo hiệu cho khách đến thăm biết mình đã vào khu vực lăng. Từ bến đò vào lăng chỉ khoảng một cây số đi bộ.

Toàn thể khu lăng tẩm không có tường thành bao bọc, hòa lẫn với cây lá thiên nhiên trong một không gian toàn mầu xanh, xa xa thấy có hai cây cột trụ nổi lên cao. Chúng tôi vào khu vực lăng, trước hết là vào Minh Thành Điện, nơi thờ vua Gia Long, thắp hương chiêm bái, nhà Hữu Vu trong khu vực Minh Thành Điện đang tạm dùng làm nơi ở cho các bảo vệ lăng.

Kiến trúc Thiên Thọ lăng được quy hoạch thành 3 cụm nằm theo hàng ngang, đều quay mặt về hướng nam, tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc phong thủy. Chính giữa là cụm mộ địa, sân tế, bái đình. Bên trái là nhà bia và bên phải là cụm tẩm điện dùng để thờ phụng.

Điện Minh Thành nằm ở vị trí trung tâm, dùng để thờ vua Gia Long và Thừa Thiên Cao Hoàng hậu, xây dựng xong năm 1815. Bi đình và tấm bia Thánh đức thần công ghi lại tiểu sử và sự nghiệp của vua Gia Long do vua Minh Mạng viết được hoàn thành năm 1820.

Hue_059

Sau khi qua cổng sau của Minh Thành Điện thì thấy trước mặt là một hồ nước dài tựa như một nhánh sông nhỏ chảy vòng quanh bao bọc. Rẽ sang bên trái, là vào đến sân chầu, bên ngoài sân chầu là một đàn trâu trâu mẹ trâu con thản nhiên ăn cỏ, nhìn người đến thăm với một vẻ ngạc nhiên, bên trong sân chầu mỗi bên là một hàng năm tượng đá các quan, tượng voi, tượng ngựa đứng lẻ loi, buồn bã. Nhìn lên phía cửa lăng vua Gia Long, bao bọc bởi hai vòng thành thấp, mấy tầng bậc thang đi lên, không gian uy nghiêm vì cái rộng rãi, rất đơn giản, nằm giữa thiên nhiên với các cây cao. Cửa lăng hẹp, có hai cánh cửa bằng đồng đã bị hư hại, vênh vênh, thủng nhiều lỗ đạn. Ngay sau hai cánh cửa ấy là một bức bình phong bằng đá, phủ đầy rêu đen, còn nhiều vết đạn bắn lỗ chỗ.

Anh Sách cười:

– Này, nam tả nữ hữu nhé.

Theo tục lệ, người nam phải vòng qua bên trái để vào, còn người nữ thì vào phía bên phải. Cùng với chị Hoa và chị Hồng, hai cô Tôn Nữ nhà Nguyễn, tôi vào phía bên phải.

Hai nấm mộ bất chợt hiện ra trước mắt. Hai cái nhà nho nhỏ xây bằng đá nằm song song bên nhau, không có chậu hoa, chỉ có ánh nắng mặt trời rọi chói chang trên lăng, giản dị làm sao, gần gũi làm sao mà uy nghiêm, đức độ làm sao!

Hue_053

Trong tất cả các vua nhà Nguyễn có vua Gia Long và bà Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu (mẹ của Hoàng tử Cảnh), vua Dục Đức và hoàng hậu Từ Minh là song táng „Càn khôn hiệp đức“ tại Huế, và ngôi mộ chung của toàn thể gia đình vua Hàm Nghi tại Thonac (Pháp), còn các vua nhà Nguyễn khác thì yên nghỉ nghìn thu một mình. Hai nấm mộ cũng như bốn vòng tường chung quanh còn nhiều vết đạn, chứng tích của chiến tranh đã tràn lan tận nơi đây, Thiên Thọ Lăng.

Từ lăng nhìn ra, dưới chân sân chầu là hồ dài, xa xa có 42 ngọn núi lớn nhỏ chầu vào trọng địa. Theo người am hiểu địa lý thì khu vực lăng Thiên Thọ là một vị trí địa lý rất quý hiếm, sơn thủy hữu tình, lăng Thiên Thọ nằm trên đỉnh một ngọn đồi nhỏ, bốn phía chung quanh đều có các dãy núi án ngữ, che chở, có sông Hương tạo thành hào nước tự nhiên vây bọc ngăn cản người lạ.

Bên phải lăng vua Gia Long là nhà bia, đã được trùng tu lại, sơn son thếp vàng rất mới, hai cái xà cột cũ bằng gỗ chạm khắc công phu nằm trong một góc dưới đất, tấm bia cũng đã được vá víu lại, bề mặt có khắc chữ thì đã mờ nhạt nhiều. Các bậc thang thường khá cao, khiến cho người lên xuống cầu thang phải cố gắng nhiều, luôn cúi đầu để nhìn chân lên chân xuống cẩn thận. Bên trái của lăng Thiên Thọ là điện Minh Thành, cửa đóng then gài, nhiều cây non đã mọc cao trên mái nhà, chân điện phủ đầy rêu đen, tường bên cạnh lủng một lỗ khá to, gạch tường cổ nằm chất đống trong sân. Tôi thấy có địa điểm xây cất ở Huế dùng các loại gạch cổ của thế kỷ 18, 19 và các xà cổ chạm trổ rất công phu, tháo gỡ từ những nhà rường cũ, để xây thành nhà mới theo đơn đặt hàng của khách. Chúng tôi được phép nghỉ chân vào buổi trưa trong một căn điện mới xây cất sau điện Minh Thành.

Ngoài trời nắng gắt, nhưng trong điện, dưới mái ngói cao, thoáng mát.

Hue_052

Trước khi đến lăng Gia Long thì đi ngang qua lăng Thiên Thọ Hữu, nơi chôn cất bà Thuận Thiên Cao Hoàng hậu, vợ thứ hai của vua Gia Long và là mẹ của vua Minh Mạng. Sau lăng Thiên Thọ Hữu là điện Gia Thành.

Ngày hôm nay mấy ai còn nhớ là cái tên nước “Việt Nam“ quen thuộc thân thương là do vua Gia Long đặt cho. Theo các tác giả nghiên cứu khác thì tên gọi « Việt Nam » đã xuất hiện từ thế kỷ 14. Qua thế kỷ 15, 16 hai chữ « Việt Nam » được tìm thấy trong các tác phẩm của Nguyễn Trãi (1380-1442) và của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585). Tôi xin nhắc lại đôi dòng lịch sử.

Vào năm 1792, Nguyễn Nhạc đóng nhiều tàu thuyền ở cửa Thị Nại để nam tiến. Nhưng lúc đó là mùa gió nồm, thuận gió cho quân nam ra, chúa Nguyễn Phúc Ánh thừa dịp cùng quân Pháp, Bồ Đào Nha đánh úp cửa Thị Nại, đốt cháy nhiều thuyền chiến của Tây Sơn, đánh tan đạo quân 50.000 ngàn lính của Nguyễn Nhạc, khiến ông phải thu quân về Quy Nhơn.

Trước sự kiện này, Nguyễn Huệ chuẩn bị huy động hơn hai mươi vạn quân thủy bộ, chia làm ba đường đánh Nguyễn Phúc Ánh. Chính các giáo sĩ Pháp giúp Nguyễn Phúc Ánh lúc đó cũng rất lo lắng và dự liệu Nguyễn Phúc Ánh khó lòng chống lại được Tây Sơn trận này.

Tuy nhiên, cái chết đột ngột của vua Quang Trung Nguyễn Huệ vào tháng 9 năm 1792 khiến kế hoạch nam tiến đánh Nguyễn Phúc Ánh không bao giờ trở thành hiện thực. Vua Quang Trung Nguyễn Huệ sinh năm 1753, (sinh trước Nguyễn Phúc Ánh chín năm) mất ngày 15 tháng 9 năm 1792, thọ 39 tuổi, miếu hiệu là Thái Tổ Võ Hoàng Đế. Thời đại hiển hách vủa vua Quang Trung chỉ kéo dài từ năm khởi nghĩa 1771 cho đến năm 1792 là được hai mươi mốt năm, làm vua được gần bốn năm.

Năm 1801, hai năm sau khi Giám mục Bá Đa Lộc qua đời trong một trận đánh nhà Tây Sơn ở cửa Thị Nại, Nguyễn Phúc Ánh, theo sử liệu Pháp năm 1819, đem 190 chiến thuyền, mỗi chiến thuyền trang bị từ 4 đến 16 khẩu thần công bằng đồng, chiếm lại được Phú Xuân, lên ngôi vua lấy niên hiệu là Gia Long ngày 2 tháng 5 năm 1802, rồi tận dụng thời cơ nhà Tây Sơn suy yếu sau cái chết của vua Quang Trung, tiến ra Bắc, đánh quân Tây Sơn tan rã, làm chủ đất nước từ nam chí bắc.

Tên nước Việt Nam được vua Gia Long Nguyễn Phúc Ánh ban hành là quốc hiệu chính thức. Nhà Thanh chính thức tuyên phong tên Việt Nam năm 1804. Năm 1806 (Bính Dần) thì vua Gia Long xưng đế, cho nên khi vua qua đời được phong tôn thụy là Cao Hoàng Đế. Khi lên nối ngôi cha, hoàng tử Đảm lấy niên hiệu là Minh Mạng và đổi tên nước thành Đại Nam, công bố quốc hiệu mới Đại Nam vào ngày 15 tháng 2 năm 1839. Các vua nhà Nguyễn kế vị sau đó không ai đổi tên nước nữa, cho đến đời vua nhà Nguyễn cuối cùng, vua Bảo Đại, năm 1945.

Cũng trong năm 1945 quốc hiệu Việt Nam lần lượt được hai chính phủ, một của chính phủ Trần Trọng Kim (Đế quốc Việt Nam), một của chính phủ Hồ Chí Minh (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) long trọng tuyên bố, với hai lá quốc kỳ khác nhau.

Phú Xuân, tên cũ của Huế, là nơi hai vị hoàng đế tiền nhân, Quang Trung và Gia Long đều tranh nhau muốn chiếm đóng làm kinh đô, thì nay Huế có tượng đài vua Quang Trung rất oai nghiêm và trung tâm di tích của nhà Nguyễn.

Theo sử sách ghi lại thì Thiên Thọ Lăng được xây dựng từ năm 1814 đến năm 1820. Khu vực Thiên Thọ Lăng gồm có thêm các lăng tẩm của chúa và vua Nguyễn, như lăng Quang Hưng của bà Thái Tông Hiếu Triết Hoàng hậu, vợ thứ hai của Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1620-1687), lăng Vĩnh Mậu của bà Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng hậu, vợ Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thái (1650-1691), lăng Trường Phong của Túc Tông Hiếu Ninh Hoàng đế Nguyễn Phúc Chú (1697-1738), lăng Thoại Thánh của bà Hưng Tổ Hiếu Khương Hoàng hậu (1738-1811), vợ thứ hai của chúa Nguyễn Phúc Côn và là thân mẫu của vua Gia Long, lăng Hoàng Cô của Thái Trưởng Công chúa Long Thành, chị ruột vua Gia Long.

Địa điểm và kiến trúc lăng Thiên Thọ khác hẳn lăng tầm của các vua nhà Nguyễn sau này. So sánh với 7 khu lăng tẩm của các vua nhà Nguyễn thì lăng Gia Long là tổ hợp kiến trúc và thiên nhiên hoành tráng, hùng vĩ nhất. Đứng giữa lăng nhìn ra chung quanh, ta thấy được núi đồi trùng điệp. Các nhà kiến trúc đầu thế kỷ 19 đã đưa vào thiên nhiên những công trình kiến trúc hài hòa, tuy khiêm tốn nhưng thích hợp. Các lăng của các vua Tự Đức, Khải Định, Minh Mạng được chăm sóc tu bổ, tuy còn rất nhiều chỗ điêu tàn, phủ đầy cây mọc, rêu đen, rêu xanh, cần phải sửa chữa cấp tốc, trở thành điểm tham quan „bắt buộc“ của du khách xa gần. Kiến trúc của lăng Tự Đức thơ mộng, lăng Khải Định phô trương Âu Á, lăng Minh Mạng hoành tráng cổ điển như đại nội.

Các lăng Đồng Khánh, Thiệu Trị và nhất là khu vực An lăng của ba vì vua Dục Đức, Thành Thái, Duy Tân thì ít được chăm sóc, điêu tàn, buồn thảm, rêu xanh, rêu đen phủ đầy. Quần thể lăng Thiên Thọ đời cuối cùng của các chúa Nguyễn và vua Gia Long tuy đơn giản, tĩnh mịch nhưng điểm nhấn chính là sự hùng vĩ và hài hòa với thiên nhiên, đất trời.

Ai có về Huế, dù mưa hay không mưa, nên dành trọn một ngày để đến thăm lăng vua Gia Long, để linh cảm thấy sức mạnh của việc „Càn khôn hiệp đức“ của vợ chồng vua Gia Long. Tương truyền lăng vua Gia Long rất linh thiêng, ít ai dám đem về một cục đá, một mảnh ngói vỡ mà không bị vua „quở“ !

Hue_060

Chú thích:

  • Vợ thứ nhất của vua Gia Long là bà Tống thị Lan (húy là Liên) được phong là « Thừa Thiên Cao Hoàng hậu », bà được song táng cùng với vua Gia Long.
  • Vợ thứ hai của vua Gia Long là bà Trần thị Đang (húy là Kính) được phong là Thuận Thiên Cao Hoàng hậu », bà là mẹ của hoàng tử Đảm, sau này trở thành vua Minh Mạng, bà được an táng riêng ở lăng Thiên Thọ hữu.

Tảo mộ ngày lễ Các Thánh (Toussaint)

30. octobre 2021

Tảo mộ ngày lễ Các Thánh (Toussaint) – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Hằng năm, cứ đến cuối tháng 10 là các tiệm bán hoa, chợ hoa, siêu thị… chạy hết năng suất với chỉ một loài hoa duy nhất, hoa cúc. Hoa cúc mùa thu có đủ mầu sắc trắng, vàng, cam, hồng, tím… là loài hoa thường được mua để mang ra nghĩa địa trong khoảng thời gian một tuần trước Lễ Các Thánh vào ngày 01.11, không mua tặng nhau và cũng không mua về chưng trong nhà. Ý nghĩa của hoa cúc mùa thu ở Pháp là tưởng niệm người thân đã qua đời, một cách bầy tỏ tình cảm, gắn bó, thương nhớ với người quá cố. Ở Việt Nam tục lệ tảo mộ thường xảy vào dịp trước Tết Nguyên Đán và tiết Thanh Minh, mồng 3 tháng 3 âm lịch. Có cái khác là người Pháp chỉ đem hoa tươi đi tảo mộ. Hầu như gia đình nào cũng mua ít nhất cả mười chậu hoa để mang đi thăm các mộ, có khi ở rải rác trong nhiều thành phố, đó là một cử chỉ không thể thiếu đối với người Pháp có đạo Thiên Chúa. Mỗi năm một lần, người ta có dịp trở về nơi quê cũ, làng cũ, nhà cũ, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi có phần mộ cha mẹ… Ở thành phố thì nghĩa địa nằm riêng rẽ, ở nhà quê thì nghĩa địa nằm chung quanh các nhà thờ làng, trừ vài trường hợp đặc biệt. Paris có nhiều nghĩa địa rất nổi tiếng như nghĩa địa Père Lachaise hay nghĩa địa Montparnasse, nghĩa địa Passy nơi có mộ phần vua Bảo Đại bằng đá hoa cương đen, nơi mà những người có chức, có danh, có tiền an nghỉ.

Tất cả các chậu hoa cúc đểu chạy vào những nghĩa địa, trở thành một rừng hoa cúc, tô điểm sự tươi vui của sự sống, sự ấm áp của tình nghĩa lên nghĩa trang thầm lặng u hoài. Mùa thu đã tràn đầy lá rụng, tiết trời u ám, mưa nhiều, thật là hợp tình hợp cảnh cho những người đi thăm mộ. Người ta gọi đó là « văn hóa nghĩa địa », một tính cách văn hóa mà chỉ khi đối đầu với cái chết con người mới nhận thức ra nó. Ở Việt Nam nếu mua kim tĩnh xây sẵn để đó, thì ở bên Pháp cũng thế, có những gia đình đã tính trước mua sẵn phần mộ, nếu họ chưa có phần mộ của gia đình. Những mộ cổ thời xưa được xây bằng đá tảng, hay bằng phẳng với mặt đất, mộ của thời hiện đại được xây bằng đá cẩm thạch, hay các loại đá quý…Hình như chẳng ai tiếc tiền đối với người đã qua đời, nên những ngôi mộ phần lớn xây từa tựa giống nhau, cái thấp hơn chút, cái cao hơn chút, ít có phân biệt giầu nghèo, phí tổn vào khoảng mười ngàn euros. Trước kia, quan tài được chôn ngay xuống đất, trong chiến tranh thì chẳng có áo quan, có khi cũng không có lấy một tấm vải liệm, bây giờ người ta gọi nhà thầu đến xây hẳn hầm mộ hai chỗ, bốn chỗ bằng bê tông. Thời gian cuối tháng 10, câu chuyện trong gia đình thường xoay quanh những kỷ niệm về quá khứ, chứng tỏ người đã qua đời vẫn hiện hữu, vẫn « sống » trong hoài niệm ký ức của người sống. Đi thăm nghĩa trang, cũng là dịp để nhận biết những gia đình không có hậu duệ, đơn côi, chẳng ai đến viếng mộ, mộ không có hoa. Những ngôi mộ phủ đầy hoa là người mới qua đời, nhiều hoa là nhiều con cháu. Mộ phần giúp cho người ở lại có nơi chốn để thăm viếng, để tưởng niệm, đỡ bơ vơ. Trong gia đình chồng tôi có một ông chú, theo ý nguyện là rải tro của ông ra biển, tôi có cảm tưởng khi sống ông không tìm được hạnh phúc trong gia đình, nên khi chết ông muốn trôi theo sóng gió của biển cả để được tự do tìm về với người ông yêu trong chiến tranh Đông Dương, một cô gái Việt, đã gặp rồi không bao giờ gặp lại. Chồng tôi cũng thế, anh rất đau khổ khi tình cờ được biết là cô bạn gái đầu tiên, lúc anh mới 17 tuổi và muốn cưới làm vợ, đã qua đời một cách đột ngột từ nhiều năm nay rồi, tro của bà rải chỗ nào không biết. Chuyện tình đầu ? chuyện tình cuối ? Những câu chuyện tình của một đời người thường hiện về khi đi tảo mộ trong cái ẩm ướt giá lạnh của giữa mùa thu làm cho những câu hỏi về tình yêu và sự sống càng mang nặng tính chất của định mệnh sắp đặt sẵn. MTT

Gửi tặng các bạn một bài hát để sau này nhớ đến tôi, bản nhạc  » Tombe la neige  » (Tuyết rơi) của Adamo qua tiếng hát của Mathilde Tuyết Trần, với sự phụ họa của nữ ca sĩ Diễm Phương, guitar solo: Hoàng Minh, Phòng thu MPU thành phố Hồ Chí Minh năm 2012:

Nghe bản nhạc Tombe la neige:

L3 (2)

L4 (2)

L6 (2)

Hoa Gai: Câu chuyện cái lò bánh mì của lãnh chúa

18. octobre 2021

Hoa Gai: Câu chuyện cái lò bánh mì của lãnh chúa ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Đúng là loại chuyện bây giờ mới kể, hơn hai mươi năm sau, khi ấy vợ chồng Mai còn trẻ còn sức. Chỉ có vài bạn đến thăm Mai ở nhà quê mới biết nhà Mai có một cái lò bánh mì của lãnh chúa khi xưa cổ hơn 300 năm tuổi. Nói ra chỉ sợ người ta hiểu lầm mình khoe của.

Lúc Mai mua miếng đất có một ông già trong làng đến bảo cho Mai biết trên mảnh đất đó có một cái lò bánh mì cổ, nhưng ông không biết nó nằm ở đâu. Mai không nhận thức được là Mai gan tày trời nên dám mua một miếng đất bỏ hoang rộng khoảng ba sào, cây cối rậm rạp và các loài cây cỏ dại mọc lên cao quá đầu người, không biết còn có gì trong ấy. Miếng đất này nằm ở góc con đường đi dạo của làng, phía sau là ruộng, phía trước là con đường duy nhất trong làng chạy qua. Vùng Picardie là vùng diễn ra những trận đánh trong hai trận đại chiến thế giới, bom đạn đổ xuống tơi bời, có nhiều hầm hố, đường hầm ngang dọc, chiến hào. Chồng Mai cũng là người quê quán ở làng khác đến làng này, không biết rành rẽ, anh ấy lại có ác cảm với người giầu nhất làng. Hồi đại chiến thứ hai, các con ngựa của nông dân các làng đều bị quân Đức Quốc Xã trưng dụng để họ dùng cho kỵ binh hay cho việc chuyên chở, phải dắt ngựa đến nộp, Ông ngoại của anh ấy dắt con ngựa của nhà đến nộp tại địa điểm trong làng của Mai, họ hẹn sau này sẽ trả lại. Chiến tranh chấm dứt, nhà thì bị đổ nát, ngựa thì mất, tiền bồi thường có thấy đâu ! Vì thế mà hận. Khi đó, Mai không được kể cho biết những chuyện ấy, nên vô tư phấn khởi hồ hởi vì mua được miếng đất hiếm. Làng của « Mai », Mai cũng là dân nhập cư bây giờ trở thành dân làng, dân cư thì nhỏ, ít người, chung quanh toàn là đồng ruộng, rải rác những đám rừng thưa, tất cả đất đai đều thuộc về ba, bốn gia đình đại điền chủ, nên họ dư thừa đất để hoang, không cần bán, miếng đất ba sào nằm lẻ loi đối với họ chẳng bõ công bõ sức. Mai ở trong làng đã hơn hai mươi năm, có ít nhất 5 mảnh đất vẫn để trống từ đó cho đến giờ.

Công việc đẩu tiên đội đá vá trời là phải dọn cho sạch miếng đất hoang đó. Từ một người là dân bàn giấy, ẻo lả xanh mướt như Mai mà ngày một ngày hai phải cầm đến cái cuốc, cái xẻng, cào đất chặt cây, quần áo lấm đất chân lầm bùn, móng tay đen thui, tay chân bị gai nhọn cào cấu, đầu không chải tóc không uốn, ôi cha mẹ ôi…nhờ thế mà Mai khỏe hẳn ra, lao động chân tay như là tập thể tháo ! Chồng Mai hăng say không kém, đi làm về, cuối tuần là anh cũng hì hục cuốc xẻng, sức anh bằng hai, bằng ba sức của Mai. Dọn là mới dọn trên mặt đất, vợ chồng Mai chỉ mới phát quang, chưa thấm thía vào đâu. Vợ chồng Mai khám phá ra là mảnh đất nằm trên một góc sườn núi thoải xuống, phía sau cao hơn phía trước có đường làng chạy qua, và đã từng có nhà ở trên nó, đã bị phá vỡ. Dưới lớp cây cỏ xanh phủ kín là một lớp đất đá gồm gạch đỏ vụn, mảnh đạn, mảnh bom, mảnh chai, đá tảng, đá lửa, dây kẽm gai, đinh…không thiếu thứ gì. Sức người không làm nổi, vợ chồng Mai phải nhờ người quen của anh ấy trong các làng lân cận đến giúp. Mai quyết định cho nhổ một chục cây cao để lấy đất làm nhà, vì mảnh đất dài và hẹp, theo kiểu phân phối đất đai ngày trước. Ngày xe cần cẩu đến nhổ cây bứng rễ rồi chở đi, Mai mừng như mở hội, cây nào cây nấy đều có một bộ rễ rất lớn. Đất đá thì chở cả ba lần xe ben đỉ đổ vẫn còn dư chất thành núi…Mai không ngờ rằng vợ chồng Mai đã dấn thân vào một cuộc phiêu lưu tốn kém sức lực đến ba, bốn năm trời. Trong lúc dọn đất, vợ chồng Mai không quên cái chuyện lò bánh mì cổ. Trên một đoạn dài ba mươi thước đã được khai quang, chỗ để làm nền nhà, vợ chồng Mai không thấy nó đâu. Hôm nhà thầu tới lấy mẫu đất để thử cho đúng qui trình, Mai bảo họ là cái nhà xây theo chiều dọc của mảnh đất, bên cạnh con đường đi dạo của làng và thụt vào 20 thước từ đầu phía đường chính, mà không biết là mình đã vô tình cứu cái lò bánh mì cổ, suýt tí nữa là cần cẩu xây nhà đã phá nát cái lò bánh mì nếu Mai không nói « 20 thước » vì nó nằm chính xác ở vị trí đó dưới mặt đất. Ý Mai thì chỉ là Mai không thích nhà nằm sát đường, đồng hàng với nhà bên cạnh vì tiếng xe cộ ồn ào. Tuy là nhà quê, ít xe nhưng các mùa trồng trọt, mùa gặt đều có những chiếc xe làm đồng to đùng chạy qua lại không kể giờ giấc, xe tải đến mua bán chở nông sản phẩm đi và những làng bên hay dùng con đường làng của Mai để ra xa lộ cho gần.

cave6_web

Xách từng xô đất, hòn đá, gạch vụn lên trên mặt đất

cave8_web

Đá tảng, đất, gạch vụn được phân loại để riêng

Chồng Mai cứ cầm một cây gậy sắt dài, đi chọc chọc xuống đất để tìm cái lò bánh mì trên mảnh đất dài 20 mét làm thành vườn trước cho nhà mới xây. Anh bỏ cả ăn, đêm nằm ngủ cũng mơ tưởng đến cái lò bánh mì cổ, ước gì được tìm thấy nó. Một hôm anh ấy la lên: Thấy rồi ! Eureka ! Cây gậy sắt của anh đâm vào đá cứng sâu khoảng nửa thước dưới mặt đất, vị trí đó nằm cách vách nhà khoảng chưa tới mười mét và bên cạnh con đường đi dạo… Thế là anh vác cuốc xẻng ra đào ở chỗ ấy. Một xô đất, hai xô đất…rồi năm xô đất đổ thành đống bên cạnh…để lộ ra một….bậc như bậc thang bằng đá tảng và một góc của vách tường gạch đỏ, Anh hớn hở, đúng nó rồi, nó nằm dưới đất ! Ngày hôm sau, anh đào tiếp, nhiều đất hơn, sức anh rất khỏe nên chỉ đào, xắn bằng tay…và anh tìm được bậc thang thứ hai dẫn đi xuống, chứng tỏ là anh nghĩ đúng. Nhưng còn bao nhiêu bậc thang ? khối đất đã rắn lại sừng sững trước mắt như một thử thách. Anh kiên nhẫn đào tới đâu đổ xô đất tới đó. Những xô đất đá gạch vụn rất nặng, Mai xách một xô không nổi. Ba bậc rồi bốn bậc thang hiện ra…anh nói, hy vọng cái lò bánh mì còn nguyên vẹn vì các bậc thang bằng đá bị lấp chắc phải là từ sớm nên còn nguyên vẹn, không vỡ, cầu thang không bị đổ. Làm tới đâu anh dùng những thanh gỗ để chống bức tưởng bằng gạch đến đó phòng hờ tường sập vùi anh xuống trong đống gạch. Hai thằng con trai đến giúp đổ đất, vác từng hòn đá, cục gạch lên bằng tay. Khối đất tính ra đã lên tới mấy mét khối và còn thêm hơn nữa vì anh ấy đã chạm tới bậc cuối cùng. Khỏi phải nói, Mai phục dịch cơm nước ăn uống đầy đủ cho những người lao động khổ sai này. Cuối cùng chỉ hoàn toàn bằng sức, anh đã giải phóng cái cầu thang dẫn xuống dưới mặt đất gồm có 8 bậc toàn vẹn ra ánh sáng. Trong khối đất đã đào ra anh cẩn thận lọc lựa từng hòn đá nhặt được, những hòn đá trắng đã được đẽo, gọt, có thể là của cái lò bánh mì rớt ra.

Sau bao nhiêu công khó anh đã đào ra dưới mấy thước đất chạm tới cái lò bánh mì ! Mỗi ngày nó ló ra một chút làm anh càng nóng lòng biết tình trạng của nó. Cửa lò bị hư hại một chút. Trong lòng lò lại một mớ rác: xác những chai lọ, gạch đá…. Lò có dạng nửa hình tròn (180°), rộng khoảng 2 mét, được xây trên một cái bục vững chắc, vừa tầm người đứng, lớp bên trong lò còn nguyên vẹn: vòm lò bằng ngói, xếp đứng hình trái tim, nền lò bằng đá tảng trắng. Bên ngoài, vòm ngoài, ống khói và nóc lò bị hư hại nhiều, chồng Mai tìm được nhiều viên đá xây lò trong đống đất. Hóa ra, cái lò bảnh mì cổ nằm sâu dưới đất, sát vách nhà, thiếu chút nữa thôi là cái lò đã bị ai đó hủy hoại. Bởi vậy, chồng Mai muốn làm bằng tay việc đào xới tìm kiếm, không nhờ tới máy móc.

cave3_web

Miệng lò khi mới tìm thấy, chìm lẫn trong khối gạch, đá vụn

Dọn đất sạch sẽ xong, chồng Mai bắt tay vào việc tạo khung gỗ để xây lại vỏ ngoài của lò. Anh rửa từng viên đá của vòm ngoài một cho trắng lại, xây lại nóc, đổ bê tông lên nóc lò, bấy nhiều đó công việc nặng nhưng lại là niềm vui thích của anh. Anh tìm thấy con số 1861 trên một viên đá của vách. Anh nói, có thể năm 1861 là năm tân trang lại lò lần cuối cùng và kiến tạo ra cầu thang theo chiều dọc tìm thấy hiện nay, kết quả của cuộc cách mạng Pháp năm 1848, không phải là năm xây lò, cái lò này phải trên 300 năm tuổi, xây từ trước cách mạng 1789 thế kỷ thứ 18. Thuở xưa trước cách mạng, thời gian ấy đúng là một cái mốc để cắt nghĩa nhiều thay đổi, mỗi làng có một cái lò to và rộng như thế, dân làng không được quyền có lò, chỉ có một cái làm bếp làng hay cái bếp của lãnh chúa, dân làng có thể đem đến những nồi đựng thức ăn chưa nấu chín để gửi nhờ vào trong lò. Muốn lò nóng, phải đốt lửa và giữ lửa ba ngày ba đêm mới đẩy nhiệt độ lên đủ để nướng bánh mì (250° C). Trước cửa lò, người ta lợi dụng nhiệt độ ấm để ủ cho bột lên men. Chồng Mai cắt nghĩa, hồi xưa người ta không có vật dụng để đo nhiệt độ trong lò, khi nào thấy lò trắng ra, thì búng một chút bột mì vào, bột mì bốc cháy phừng phừng là lò đủ nóng. Anh đứng gần lò nóng là lông tay bật cháy thiêu ! Lò to để có thể nướng một con heo, con cừu, con bê hay nửa con bò… một lúc.

cave4_web

Phải đào khối đất phủ kín bên trên mới giải phóng được 8 bậc cầu thang !

Từ lúc anh tìm ra bậc thang đầu tiên đến lúc tái tạo lại hoàn toàn cái lò bánh mì và xây lại ống khói cả gia đình Mai mất khoảng sáu tháng làm việc liên tục, ngày nào cũng nghĩ đến cái lò bánh mì. Anh tìm củi để đốt lò ba ngày cho Mai làm mẻ bánh mì truyền thống đầu tiên như thời xưa, một lượng củi không nhỏ và phải canh lửa liên tục. Không thể ngờ được ! Mùi bánh mì nướng trong lò thơm phức mấy ngày khắp nhà, một mùi thơm rất đặc biệt. Khói từ ống khói tỏa ra trắng toát, thơm thơm con đường đi dạo của làng, làm người ta ngạc nhiên, sao lại có khói bốc ra ở đây ! Họ không trông thấy cái lò bánh mì nằm dưới đất, bên cạnh con đường nhỏ họ đang đi. Nhìn làn khói trắng nhẹ nhàng bốc lên lan tỏa sự ấm cúng vợ chồng Mai cảm thấy hạnh phúc chen lẫn với một niềm hãnh diện, mấy ai có được một cái lò bánh mì như thế. Mai đem bánh mì biếu khắp làng……. MTT

(trích tiểu thuyết Hoa Gai của Mathilde Tuyết Trần)

Mobylettes, Eiffel và tháp canh de Vez mùa chớm thu

10. octobre 2021

Mobylettes, Eiffel và tháp canh de Vez mùa chớm thu ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Tự cách ly từ ngày đầu tiên, hạn chế tối đa tiếp xúc, chúng tôi phải nghe tiếng gọi của sự tự do, tự do đi chơi, tự do di chuyển vào một ngày chớm thu quá đẹp như hôm nay. Kể từ hôm 17.3.2020 cho đến nay, người nhà quê như chúng tôi bị đặt vào tình trạng khẩn cấp bất đắc dĩ không biết trước, trong khi dân parisien đã ồ ạt lên đường từ tối hôm trước túa ra các vùng du lịch để tránh phong tỏa Paris, họ đã biết trước và sửa soạn, các xa lộ về hướng Nam và vùng biển đều nghẹt cứng hàng trăm cây số. Chúng tôi thực sự ngỡ ngàng, có « chiến tranh » mà mình không hay biết, mặc dù theo dõi tin tức hàng ngày. Ba lần phong tỏa toàn quốc vì lý do dịch covid 19, lần thứ nhất 17.03-11.05.2020, rồi lần thứ hai 30.10-15.12.2020 và lần thứ ba từ 03.04.-03.05.2021, và những lệnh cấm đủ thứ, cấm nhà hàng, cấm văn hóa, cấm di chuyển (chứ đừng nói chi đến du lịch) đến con chó cũng phải ra ngoài đi ỉa một giờ trong một ngày…Cảnh sát đầy đường, phạt vạ….C´est interdit d´interdire ! Tự do trở thành một thứ tự do có điều kiện, người đủ điều kiện thì nhởn nhơ ăn chơi đi đó đi đây…. người không đủ điều kiện thì mất công ăn việc làm, chỉ nhìn thiên hạ ăn chơi mà thôi. Nhưng cái choc lớn nhất mà mọi người học được từ tình trạng này là tất cả « quyền lợi của quyền con người » thì chỉ cần cái « lệnh » từ trên ban xuống là mất hết, mất trắng..,,Người dân vô tội, nạn nhân, là người tù lỏng của xã hội. Chỉ cần nêu lên cái lý do sức khỏe toàn dân trở thành « chiến lược » quốc gia. Những thứ như tự do, dân chủ, bình đẳng, công lý chỉ còn lại là những từ ngữ sáo rỗng, rỗng tuếch…Kêu ca ai nghe, ai xử, nói ai nghe, than ai nghe…, thiên hạ biểu tình ở Paris và những thành phố lớn đã tởi tuần thứ 11, 12 gì đó, chưa hết… Ôi thôi, tất cả đều khổ não, buồn phiền. Chỉ có cái màn hình tivi là nhan nhản lếu láo nói nhăng nói cuội suốt ngày, thế mà mọi người ngồi nghe há hốc mồm, như nuốt chửng không cần phải suy nghĩ, lý luận. Nó cũng không chịu một hậu quả nhỏ nhoi nào của đời sống thực tế, nói trước quên sau, thật là đáng ghét.

Vì thế được đi chơi, nhưng chúng tôi không khỏi lo ngại, đi mấy chục cây số mới tới nơi, nhỡ nó không cho vào đuổi về thì sao ? Trời chớm thu quá đẹp, xanh, cao, trong vắt, không một gợn mây, nắng vàng ấm áp, gió nhẹ hây hây….một ngày lý tưởng, có còn gì đẹp hơn ! Vợ chồng tôi đi xem một cái triển lãm mobylettes !

Tôi cứ tưởng là xe cổ như những lần xem xe cổ con bọ WV hay các loại xe cổ của Pháp thì là ở những bãi cỏ ngoài trời, nên mạnh dạn đi, không sợ bị đuổi. Địa điểm hẹn là tháp canh làng Vez. Chồng tôi cũng tưởng là triển lãm xe mobylettes trên bãi cỏ trước tháp canh. Tháp canh bỏ hoang trong vùng Oise thì có nhiều. Làng Vez cũng không xa lắm, cách nhà khoảng 50 cây số, trời đẹp lái xe đi về cũng thích. Con đường liên tỉnh chạy xuyên qua những khu rừng mới chớm vàng, lá còn xanh nhiều, mát rượi. Tháp canh làng Vez nhìn từ dưới lên trên thì thấp thoáng, ẩn náu trong những rặng cây xanh um tùm, Tới bãi đậu xe, chúng tôi ngạc nhiên nhìn thấy chỉ có ba chiếc xe đậu với xe tôi nữa là bốn. Ít người thế này sao ?

p0 (2)Từ chân núi đi lên, ngang qua cái cổng sắt cao to đóng mở tự động, con đường vắng vẻ, không có ai, rợp bóng cây xanh um tùm và sạch sẽ. Tháp canh (Donjon de Vez) nằm trên một đỉnh của ngọn núi cao 119 mét (thấp hơn vị trí của nhà tôi cao 131 mét), nhưng đường bộ lên thì cũng dốc như thế mà ngoằn nghèo hơn. Lên được nửa đường, chúng tôi gặp hai người đi ra, như thế chỉ còn có hai xe là bốn người xem triển lãm ! Ấn tượng đầu tiên là tháp canh được bảo tồn rất đẹp, giữ nguyên vẹn vẻ hoàng tráng thời trung cổ thế kỷ thứ 14 của nó. Vào thế kỷ thứ 13, vua Philippe-Auguste biến mảnh đất làng Vez thành đất hoàng gia, năm 1214 nhà vua tặng mảnh đất cho Raoul Duchemin, một kỵ sĩ có công trong trận đánh ở Bouvines. Ông này cho xây dựng lâu đài, tường thành…Đến đời cháu của Duchemin là Jehan de Vez cho xây dựng tháp canh làng Vez hình lục giác năm 1360.

Năm 1430, trước khi bị bắt và bị thiêu sống tại Rouen, Jeanne d´Arc đã dừng chân tại Donjon de Vez để bảo vệ đất đai cho vua Pháp Charles VII trước sự hăm dọa chiếm đoạt của lãnh chúa quận công vùng Bourgogne Philippe Le Bon, là người chống lại vua Pháp Charles VII cùng thời. Bà lên tháp canh theo dõi sự tiến quân của quân Bourguignons. Làng Vez chỉ cách Compiègne có 30 cây số. Bị bắt bởi quân Bourguignons ở Compiègne năm 1430 trong một trận vây hãm thành phố Compiègne bởi hai đạo quân Bourguignons liên kết với một đạo quân Anh, Jeanne d´Arc bị bán lại cho quân Anh với giá 10 ngàn quan tiền vàng bởi kẻ chiến thắng là Jean de Luxembourg. Năm 1431 trong một phiên xử do Pierre Cauchon, giám mục địa phận Beauvais chủ trì, người đã liên kết với quân Anh, Jeanne d´Arc bị xử thiêu sống lúc mới có 19 tuổi. Vì thế ngày hôm nay Donjon de Vez, nơi cuối cùng của Jeanne d´Arc còn là một người chiến sĩ tự do, là một nơi tưởng niệm thánh Jeanne d´Arc có ý nghĩa.

Trong hình dạng hiện tại, Donjon de Vez cao 27 mét, có hình ngũ giác, năm tầng và thêm một đài quan sát trên tầng thượng, nơi lá cờ của Donjon kiêu hãnh bay phất phơ trong gió, bao quanh bởi một bức tường bằng đá tảng kiên cố dầy 2 mét, cao 13 mét và một chiến hào, có hệ thống đường hầm dẫn vào tháp canh. Điểm yếu duy nhất của nó chính là cái cầu treo bắc qua chiến hào dẫn vào cổng bằng sắt, có thêm hai cảnh cửa gỗ, cho nên hai bên cổng là hai ngọn tháp canh nhỏ. Tuy nằm lẻ loi trong rừng, nhưng nhiệm vụ của Donjon de Vez là bảo vệ cho bốn lâu đài ở hậu tuyền, đó là các lâu đài Coucy-le-Chateau, La Ferté-Milon, Pierrefonds và Montepilloy, trong thời đại con người còn đi ngựa, đi bộ, gửi thư và công văn viết tay bằng chim bồ câu, kỵ mã… và không có những phương tiện truyền thông hiện đại như bây giờ. Bên cạnh tháp canh là một nhà nguyện nhỏ, nói như vậy nhưng nhà nguyện nhỏ này to đùng như một lâu đài. Chỉ nội việc vác đá tảng, từng hòn đá, đã là một công trình vận chuyển bằng sức người, sức vật kinh khủng của con người thời ấy để xây những lâu đài, những tháp canh trên núi, trong rừng. Những lò sưởi to lớn dùng để đốt nguyên cả một thân cây để sưởi ấm chứng tỏ những mùa đông rất lạnh trong rừng. Ngoài những lỗ châu mai, khe rãnh trong tường, người xưa còn sáng tạo ra những lỗ hổng trên nền tầng cao nhất để ném đá, đổ chất lỏng cháy xuống…quân thù đang tiến vào tấn công. Thành quách vững chắc như thế, nên chiến thuật hay nhất là bao vây, hãm thành để cho người bị bao vây sức mỏi hơi mòn, cạn lương thực…

Trải qua nhiều lần đổi chủ, năm 1890 Léon Dru, một kỹ nghệ gia mua lại tháp canh và cho bảo tồn toàn bộ khung cảnh. Vì công trạng đó nên vợ chồng nhà Léon Dru được chôn cất trong lâu đài. Từ năm 1987 tháp canh được bán về tay ông Francis Briest với giá rẻ mạt, chỉ bằng giá tiền một căn phòng nàng hầu (chambre de bonne) trên nóc nhà ở Paris. Ông Briest là một chuyên gia định giá làm việc trong lãnh vực đấu giá, chủ sở hữu cơ sở bán đấu giá Artcurial, biến tháp canh thành nơi triển lãm các sản phẩm trong đời sống của thế kỷ hiện tại.

Những cái xe mobylettes cổ ở đâu ? tôi không thấy ngoài bãi cỏ.

Bước qua cái cầu treo vào cổng, thấy có 4 người khách đang dạo chơi, chúng tôi vào phòng bán vé. Cô bán vé thu tiền, niềm nở, chẳng hỏi han gì, thế là lọt ! Ra ngoài bãi cỏ, tôi hỏi nhỏ với chồng tôi: thế còn cái « pass sanitaire » ? Anh trợn mắt nhìn tôi: Có tổng cộng vẻn vẹn sáu người đến thăm viếng giờ này mà còn « pass » gì nữa ! Ở Paris trong một phòng họp có 500 người cũng không ai đòi « pass sanitaire » ! Chính phủ lại vừa đòi dân chúng phải thực thi cái gọi là « pass sanitaire » cho đến 15.11.2021, như vậy các lâu đài là những địa điểm văn hóa cũng phải tuân theo lệnh cũng đòi trình « pass » (bằng giấy hay bằng QR code trên điện thoại di động) mới cho vào tham quan, không thì « a lê hấp » mời ra, đừng vào, đừng đến làm chi cho mất công, chỉ để làm khổ dân, tước đoạt tự do và đè nén kinh tế không cho phát triển thôi sao ?! Bởi vậy nên mới có 3, 4 chiếc xe đậu trên bãi đậu xe và trong khu vực tham quan chỉ có 6 người khách ! Cô bán vé cho biết từ 20, 30 khách cho đến có khi 80, 90 khách tối đa mỗi ngày đến thăm tháp canh và mobylettes. Lúc chúng tôi đi về thì có khoảng thêm 8 khách nữa lần lượt bước vào.

Cuộc triển lãm xe mobylettes cổ nằm trong nhà nguyện nhỏ của Donjon de Vez ! Đây là một bộ sưu tập của một nhà sưu tập tư nhân được cho mượn để triển lãm. Chúng tôi bước vào nhà nguyện, đầu tiên hết là tầng hầm « crypte », ánh nắng chiều rọi trên hồ nước bên ngoài nhấp nhô sáng lung linh nhảy múa trên những chiếc xe mobylettes. Những chiếc xe cổ của thời 17 tuổi được sơn phết và trưng bày kỹ lưỡng trong một khung cảnh tương phản: cái khung của thế kỷ 14 ôm lấy sản phẩm của thế kỷ 20. Ở tầng một, nhìn hai nấm mộ của ông bà Léon Dru, và bức tranh Jeanne d´Arc làm khung cho những chiếc mobylettes, tôi phân vân không biết nhìn cái nào trước cái nào sau !

Chiếc mobylette (gọi tắt là mob) đầu tiên được sản xuất ra năm 1949 ở Paris Saint Ouen và ở thành phố Saint Quentin, bán được 14 triệu chiếc trên thế giới, đến năm 1983 thì bị Yamaha kiểm soát. Bộ sưu tập gồm có khoảng 30 cái xe trong đó có chiếc xe của Schumacher, và những chiếc xe mang nhãn hiệu Dax, Monkey, Caddy, Manhurin, Vespa, Zoomer được trình bày bởi Hubert Le Gall, rải rác trên 5 tầng của nhà nguyện, lên tới nóc. Những ai mới đến Donjon de Vez lần đầu tiên như tôi, bị phân trí, đây là bối cảnh lịch sử, đây là sản phẩm triển lãm, cái nào bắt mắt mình hơn ? Lúc đi thì tôi thích thú vì đi xem xe mobylettes cổ, đến nơi thì bối cảnh lịch sử có phần trội hơn.

Lên tới nóc nhà, tầng năm, chúng tôi lại vui hơn vì gặp « người quen ». Tầng năm vẫn còn là nơi triển lãm các xe mobylettes, ôi chao, phải vác ì ạch từng chiếc xe một lên năm tầng lầu. Cầu thang không phải là cầu thang thẳng, mà là cầu thang uốn lượn theo hình trôn ốc, bằng đá. Dưới mái bằng đá bảng đen là một hệ thống dầm nóc nhà bằng thép của…chính tay Gustave Eiffel làm ra. Về Việt Nam thấy bóng dáng ông Eiffel trên ba miền Nam Bắc Trung, ở vùng quê hẻo lánh nước Pháp có tháp canh cổ ở Vez lại cũng có bàn tay của ông góp phần xây dựng. Léon Dru đã mời Gustave Eiffel làm giàn nóc nhà hình cái nôi cho nhà nguyện bằng thép thay cho kèo cột bằng gỗ. Lúc qua đời Léon Dru để lại cho nhà nước một số tiền rất lớn, đủ để mua hai tác phẩm của Chardin và cả lâu đài Azay-le-Rideau. Đứng trên tầng năm của nhà nguyện tầm nhìn bao quát tận tới chân trời, thống trị cả một vùng rừng núi. Chung quanh tháp canh rất quang đãng, khác với tầm nhìn từ chân núi nhìn lên.

Ra về, trời chiều đang tàn còn rất đẹp, tuy còn được tham quan thêm tháp canh có hướng dẫn, nhưng chúng tôi bỏ phần này, hẹn lần sau có dịp sẽ trở lại. Lần này, no mắt rồi, nhìn nữa thì không thâu nhận được hết. Khi ấy, sẽ chấm dứt cái vấn nạn « pass » hay không « pass » ??? !!! MTT

dba8826e91218ce5-photo (2)

p2 (2)

p6 (2)

a6cba9d364f4fdc9-photo (2)

0783497155f48e94-photo (2)

numérisation0037 (2) 

Tranh của họa sĩ VINK lên sàn đấu giá

4. octobre 2021

Tranh của họa sĩ VINK lên sàn đấu giá ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Lâu rồi, bẵng đi bao nhiêu năm không có dịp liên lạc với anh, tình cờ tôi được nhìn thấy bức tranh « Chuyện bên sông » trong một cuộc bán đấu giá tại Paris với tựa đề Indochine của nhà bán đấu giá nổi tiếng Drouot. Bức tranh làm tôi mỉm cười, như nhận ra người quen. Năm nay anh đã hơn tôi hai tuổi. « Chuyện bên sông » là một tuyệt tác sơn dầu, ánh sáng lung linh, mầu sắc nhẹ nhàng tươi mát, hài hòa, hai chị em rủ nhau giặt áo, vừa trò chuyện tươi vui bên bờ sông Hương, thuyền mẹ thuyền con về bến đậu, cây cối ven sông đứng lại, trời không gió, nắng oi bức, lá cây rũ xuống che mát cho người, một cảnh rất thanh bình và bình dị, tưởng như không có gì đáng nói, đáng vẽ. Nhưng họa sĩ VINK đã « bắt » được cái hồn của cảnh ấy, vừa tôn vinh sự cần cù của phụ nữ, giặt áo mà lên tranh, có còn gì đơn giản hơn. Giống như lần bán đấu giá bức tranh tại Drouot của vua Hàm Nghi, tôi không có đủ tiền để tham dự mua bức tranh của họa sĩ VINK, nhưng tôi rất mừng cho anh được các nhà thẩm định giá chuyên nghiệp đánh giá cao tài năng và kết quả của anh. Bức « Chuyện bên sông » , khổ 80 x 60 cm, được định mức khởi đầu là 12.000 euros, chiếm hẳn một trang trong cuốn catalogue, cuộc bán đấu giá sẽ diễn ra ngày 16.10.2021.

Cùng được bán đấu giá cũng là bức tranh tạm dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt là « Nắng chiều trên sông Hương », khổ 30 x 40 cm, mầu nước trên giấy (aquarelle sur papier encadré), giá thẩm định đầu tiên là 3.700 euros. Bức tranh này có bố cục rất độc đáo, nhân vật người đàn ông trong tranh chỉ được vẽ một phần rất nhỏ, một cánh tay và lưng, nhưng người ngắm như thấy được khuôn mặt anh ta đang nhìn chiếc ghe trôi trên dòng nước phẳng lặng của sông Hương dưới ánh chiều đang lặn. Kỹ thuật vẽ đẹp tuyệt vời, siêu đẳng, mang âm hưởng hiện thực.

Họa sĩ VINK tốt nghiệp trường Académie royale des Beaux-Arts de Liège năm 1975. Bây giờ anh có cái hãnh diện được đứng chung một sàn với những danh họa Việt Nam trên đất Pháp: Bùi Xuân Phái, Lê Phổ, Nguyễn Mai Thứ…

003 (2)

Giới thiệu thành quả của họa sĩ VINK với bạn đọc của MTT, rất chân thành tôi chúc anh được thành công lớn. Nhân đây, tôi đưa lại một tin đã cũ từ 2010, một bài phỏng vấn họa sĩ VINK mà tôi đã thực hiện cách đây 11 năm rồi (bài viết đã đăng trên trang mạng mttuyet.fr

Họa sĩ VINK, tên thật là Vĩnh Khoa, (thuộc dòng hoàng tộc nhà Nguyễn, cùng thế hệ với hoàng tử Vĩnh San tức Vua Duy Tân), quê quán ở Đà Nẵng, đi du học và định cư ở Bỉ từ năm 1969. Đã có khá nhiều bài viết về tác phẩm cũng như sự thành công của VINK trên mạng. Ngoài tài năng thực thụ của một người xứng đáng mang danh họa sĩ, anh VINK còn có hai may mắn mà ít người có, anh có người bạn đường, cùng là họa sĩ, cùng làm chung một việc với anh hàng ngày, và anh là một trong những nghệ sĩ hiếm hoi, đương thời, có thể sinh sống bằng nghề vẽ của mình.

MTT có hân hạnh được tò mò, hỏi anh VINK vài câu hỏi, anh đã vui vẻ trả lời. Xin được giới thiệu thêm với các bạn vài nét tâm tình của VINK:

Tôi là người chưa có thành công, nên tò mò muốn biết sự thành công đột phá lần thứ nhất, đưa mình, người nghệ sĩ, ra ánh sáng đã để lại trong anh những kỷ niệm gì, những tâm tình gì ?

VINK cho biết:

Sau 5 năm vào nghề, tôi được một giải thưởng lớn về chuyện tranh ở Bỉ vào năm 1985. Phản ứng đầu tiên của tôi là suýt nữa không đi nhận giải thưởng. Suốt một buổi chiều, một buổi lễ long trọng có trực tiếp truyền hình và có sự tham dự của nhiều ca sĩ nổi tiếng, tôi thì không quen… Nhưng sau đó, mới ý thức đó là một vinh dự, nhất là Ba tôi ở quê nhà rất hãnh diện, và đây là niềm vui lớn tôi còn giữ lại của giải thưởng ấy.

Cũng tập tành vẽ vời từ nhiều năm nay, tôi hỏi anh VINK, anh sử dụng nhiều chất liệu vẽ, anh có thích một chất liệu nào nhất, tác phẩm nào nhất ?

Tôi sử dụng bút chì, màu nước, acrylique và sơn dầu. Hiện tại tôi thích vẽ tranh sơn dầu nhất. Trừ những bức vẽ nhanh sur le motif (thấy sao vẽ vậy) coi như là một hình vẽ lưu niệm hoặc là ghi chép, thì đường nét và mầu sắc của những bức tranh vẽ theo tưởng tượng chưa được coi là hoàn tất. Nếu tôi thấy các bức tranh này trước mắt, là tôi cứ kiếm cách thêm, bớt và sửa đổi.

Tôi liên tưởng đến vợ chồng anh chị họa sĩ Bé Ký, cả hai cùng là họa sĩ, nhưng mỗi người có một sắc thái hoàn toàn riêng biệt, nên cũng muốn biết, hai vợ chồng họa sĩ VINK và CINE (tên tắt của Claudine, người Bỉ) cùng nghề thì như thế nào, chị cũng là họa sĩ, kỷ niệm nghề nghiệp với chị chắc có nhiều, điều gì làm anh hài lòng nhất ?

Đó là hai đứa chúng tôi vẫn thích vẽ, làm việc chung. Ngoài ra chúng tôi còn thích đi bộ, đi du ngoạn, nhìn trời nhìn đất, đi xem triển lãm, nghe nhạc vân vân, tất cả chuyện ấy nuôi dưỡng được lòng yêu thích vẽ của chúng tôi. Nói tóm lại chúng tôi vẫn đồng hành với nhau.

Công việc khẩn trương nhất của anh bây giờ là việc gì ? hay dự tính kế tiếp ?

Là thanh toán cho xong cuốn chuyện tranh „Sur la route de Banlung“, đúng là để có thể tính chuyện kế tiếp là…vẽ tranh sơn dầu.

Chuyện tranh đang thực hiện được dựng trên nền tảng của một chuyện có thật, xảy ra năm 1993 ở biên giới Cam Bốt và Việt Nam.

Tôi luôn nghĩ rằng tôi là người thực ra cô đơn, thích chui vào một góc đọc sách, viết lách lăng quăng, lặng lẽ, nên cũng muốn biết một người nghệ sĩ có thực tài như anh VINK cần phải có những điều kiện nào để sáng tác. Anh VINK trả lời:

Yên tĩnh, không lo toan chuyện gì khác!

Có một số tranh phải ngồi trong atelier mới làm được, vì quen cái không khí của atelier và vì cần một số dụng cụ, tài liệu chỉ có trong atelier của mình. Ngoài ra vẽ loại tranh đi đường thì ngồi đâu vẽ cũng được. Khi vẽ thì tôi có thể nghe nhạc, nhưng khi viết kịch bản thì không.

Anh VINK vửa mới tham dự tuần lễ chuyện tranh đầu tiên của Việt Nam ở Hà Nội và năm ngày sau đó tham dự festival ở Huế năm 2010 với một cuộc triển lãm, tôi hỏi anh các sự tham dự ở Việt Nam đã để lại anh những ấn tượng nào ?

Ấn tượng nhất là tuần lễ chuyện tranh đầu tiên tổ chức tại Hà Nội vào đầu tháng sáu vừa qua. Lần đầu tiên được làm việc trên quê hương mình, trong cái nóng của vùng nhiệt đới, với người đồng hương, mà mình cùng chia xẻ tình cảm của những người đồng hương với nhau. Chuyện ấy đã qua, chỉ còn là những kỷ niệm của những gặp gỡ vui giữa muôn nghìn kỷ niệm vui trong nghề và trong đời sống.

Tôi biết là làm phiền anh vì anh cần sự yên tĩnh, nhưng tôi cũng vui vì „moi“ ra ở anh những câu trả lời rất chân tình. Anh đã bắt đầu theo học ngành kinh tế, bị „chỉ định“ theo anh nói vui, sau đó chuyển sang học về giáo dục (Pédagogie, Sciences de l’éducation) tại đại học Liège, nhưng can đảm bỏ con đường này, đi vào một con đường nghệ thuật, quyết định đó của anh thật là đúng lúc và đúng thời. Thân mến chúc anh chị tiếp tục dài lâu con đường đời hạnh phúc. MTT

002 (2)

Sự tích cái bánh croissant của Pháp

30. septembre 2021

Sự tích cái bánh croissant của Pháp ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Trong mùa dịch covid rất nhiều người trở về với công việc gia chánh nội trợ và không ít bạn, kể cả tôi, đều than là lên kí hơi nhiều, phải xuống kí, phải giảm ăn…Có người thử nấu các món mình chưa làm bao giờ, có người trổ tài những món ăn quen thuộc, đã nấu nhiều lần công thức thuộc lòng như cháo. Có bạn trổ tài làm bánh mì, men tự làm lấy, có bạn làm cỗ hoa quả…cho con đi thi ở trường ! Có bạn trổ tài làm bánh croissant đúng công thức của Pháp, có bạn làm bánh pâté chaud (friand) một thời lừng danh của Pháp, ở Việt Nam vẫn có các loại bánh này để ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều, ăn tối…Chưa khi nào tôi được bạn cho ăn « bánh…vẽ » nhiều như thế, theo hình chụp thì món nào cũng đẹp cả.

255px-SiegeOfViennaByOttomanForces

Tranh về sự kiện đế chế Ottoman vây hãm thành phố Vienne của Áo thời Trung cổ

Nhân đây tôi kể cho các bạn nghe sự tích cái bánh croissant của Pháp. Ngày xửa ngày xưa, người ta kể rằng, năm 1683 thủ đô Vienne của nước Áo thuộc dòng Habsbourg bị đế chế Thổ Ottoman bao vây, nhờ sự hợp lực với quân nước Hung đến giải cứu, nước Áo thoát khỏi sự vây hãm của đế chế Ottoman. Những người thợ người Áo làm bánh thường thức rất sớm để kịp làm bánh mì buổi sáng báo động cuộc tấn công của nước Thổ. Sau khi chiến thắng, để kỷ niệm và nhắc nhở lâu dài những đời sau, những người thợ làm bánh sáng chế ra một cái bánh mì ngọt có dạng trăng lưỡi liềm giống như trên cờ của đế chế Ottoman để….ăn hàng ngày, và gọi tên bánh là Kipferl. Nước Đức, cũng một thời là đồng minh có quan hệ gia đình hoàng gia mật thiết với Áo, cũng truyền bá ý tưởng, làm bánh, gọi tên là Hörnchen. Rồi đến Pháp cũng bắt chước, nhưng thay đổi cách làm bánh, thay vì làm như bánh mì ngọt (có thêm sữa, đường và trứng) thì người Pháp làm bằng pâte feuilletée (bột mì cán nhiều lần với nhiều lớp bơ), cầu kỳ hơn, ngon hơn, gọi tên là croissant ( ý chỉ trăng lưỡi liềm đang lên). Truyền thống ăn sáng của người Pháp đến bây giờ vẫn là ăn ngọt: cà phê sữa, sữa chua, trái cây, bánh mì baguette, bơ, mứt các loại, bánh croissant, bánh pain au chocolat…Người Đức có khuynh hướng ăn mặn buổi sáng, ăn nhiều thịt nguội, trứng, rau củ như cà chua, sà lách…Một bữa sáng trong khách sạn tại Pháp giả rẻ nhất là 9 € và lên tới 25€, tùy theo con số sao của họ, trung bình là 15€.

v (2)

Bánh croissant của Pháp hiện tại

Kể chuyện xửa xưa tiếp: người Áo bị vây hãm thì thất kinh thất hồn, muốn nhắc nhở con cháu đời sau không quên lịch sử, dùng ẩm thực để giáo dục về lịch sử và chính trị , tôn giáo nên lại sáng chế ra một món bánh làm đặc biệt trong dịp lễ Giáng Sinh đó là bánh Vanille-Kipferl. Loại bánh này được ưa chuộng ngay tức khắc vì nó rất dễ làm, trẻ con rất thích phụ cha mẹ làm bánh, nặn bột thành hình cong cong của croissant. Vì là bánh làm trong mùa đông nên nguyên vật liệu của nó cũng mang tính chất đó: hạt dẻ, bột mì, bơ, đường, vanille, ăn rất bùi, thơm và béo ngậy, tan chảy ra ngay trong miệng. Bánh Vanille-Kipferl là một thành công lớn của nước Áo. Loại bánh làm trong kỹ nghệ thì tiện dụng nhưng không thể nào ngon bằng bánh nhà tự làm lấy. Hiện nay, không biết có phải vì tình hình chính trị hay chỉ đơn thuần là một vấn đề kỹ thuật của kỹ nghệ làm bánh mà các bánh croissant không còn cong cong như trước mà lại thẳng đoong, và người ta cũng (cố tình) quên đi ý nghĩa « croissant » của nó.

Kipfler-à-la-vanille-1Tôi tặng bạn đọc xa gần công thức của gia đình tôi để làm bánh Vanille-Kipferl, loại bánh này làm xong để nguội, cho vào kẹo, lọ thủy tinh hay hộp thiếc để tặng, giữ được lâu đến một tháng. Bí quyết làm bánh là tìm sao ra cân lượng của các nguyên liệu để chúng hài hòa với nhau cho ra cái bánh ngon, kết quả của nhiều lần thử nghiệm.

Nguyên liệu bánh Vanille-Kipferl theo MTT:

60 gram bột hạt dẻ (hay bột hạnh nhân)

140 gram bột mì

1/4 thìa cà phê bột nổi

140 gram bơ để mềm, cắt nhỏ

30 gram đường

1 thanh vanille

Đường để bọc áo bánh: trộn đều trong một cái tô 50 gram đường nhuyễn (sucre glace) và 1 bao đường vanille

Cách làm:

Xẻ thanh vanille nạo lấy hạt, xay thân thanh vanille cho nhuyễn, rồi trộn với đường.

Trộn đường và vanille với bơ, xong trộn bột mì, bột nổi, bột hạt dẻ vào bằng tay các thứ nguyên liệu lại với nhau cho đều, nặn thành một viên to tròn xong để cho bột nghỉ trong tủ lạnh nửa tiếng.

Cán nhẹ cục bột cho hơi dẹp ra nhưng nặn ngay thành một thỏi tròn dài, đường kính độ 4 cm.

Lấy dao nhọn, sắc, cắt thỏi bột dần dần thành khoanh dầy khoảng 1 cm, dùng tay nặn nhanh thành hinh croissant.

Cho bánh vào lò đã nóng 180°, nướng 15 phút, đừng để cháy.

Lấy bánh ra, bánh còn nóng, cho bánh vào trộn với hỗn hợp đường nhuyễn và vanille trộn đều các mặt rồi để trên vĩ cho nguội.

Quan trọng là nguyên liệu bơ: lúc trộn bột thì bơ phải hơi mềm thì mới cắt bơ nhỏ để trộn được. Khi bột nở thì bơ phải cứng lại, vì thế nên mới cho vào tủ lạnh. Khi nặn bánh thì phải nhanh tay, đừng để cho hơi ấm của tay làm cho bơ chảy ra. Nếu bạn không có thanh vanille thiên nhiên thì thay bằng đường vanille bằng gói bán sẵn. Bạn có thể dùng bơ mặn (có muối) hay bơ lạt. Bạn có thể dùng bột hạt dẻ (noix hay noisette), hay bột hạnh nhân (amande), mỗi loại cho một hương vị khác nhau, bột hạt dẻ thì đậm đà hơn hơn bột hạnh nhân. Đừng cho nhiều bột nổi bánh sẽ nở to, nếu bạn dùng bột đã có trộn sẵn bột nổi thì khỏi cho thêm.

Thân mến chúc các bạn thành công, và tiếp tục gởi hình về cho tôi ăn bánh vẽ nhé…MTT

file0001983257909

les-fruits-coques-bonnes-pour-coeur

licensed-image

Senlis, thành phố trung cổ của điện ảnh Pháp

26. septembre 2021

Senlis, thành phố trung cổ của điện ảnh Pháp ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Có thể bạn đã lái xe chạy ngang qua Senlis cả ngàn lần mà vẫn không biết về thành phố đó. Điều này, không lấy gì làm lạ. Tất cả các xe cộ từ phía Bắc đổ xuống Paris trên xa lộ A1 đều phải qua cửa nạp tiền mãi lộ, cho nên xe cộ dồn ứ lại ở trạm thu tiền rất rộng lớn đến hơn cả chục cửa cho một chiều nối đuôi nhau chờ đến lượt trả tiền để đi qua. Vì thế nên khi đã đi đến đây rồi thì mau mau đi qua luôn, không dừng lại và không ra khỏi xa lộ. Đó là trạm Chamant của thành phố Senlis. Chamant là tên của một làng ngoại ô nằm trên lối vào Senlis từ phía xa lộ, chỉ cách Senlis có 1 cây số. Tại đây thỉnh thoảng xẩy ra một vài tai nạn ngoạn mục, vì các xe nhỏ và xe tải phải giảm tốc độ gấp và tranh nhau xếp hàng. Đúng vào một buổi sáng tháng 11 năm 2019, khi chúng tôi phải vào Paris vì có hẹn ở trung tâm điều trị ung thư Gustave Roussy thì vừa đi được đến nửa đường đã bị kẹt cứng, không nhúc nhích được nữa, radio loan báo sẽ kẹt xe ít nhất là ba tiếng đồng hồ, một chiếc xe tải đang bốc cháy dữ dội tại trạm thu tiền Chamant. Vợ chồng tôi đã lên đường trước giờ hẹn ba tiếng đồng hồ, đành phải tìm cách quay về, bỏ cuộc hẹn « lịch sử » trong cuộc chiến đấu chống ung thư của tôi. Mấy hôm sau đọc báo mới biết người lái xe tải đã bất chấp tất cả rào cản, đâm thẳng vào trạm, chiếc xe cháy bùng lên ngay tại chỗ, vì anh ta bị lên cơn bịnh không kiểm soát được hành động của mình nữa. Định mệnh !

Muốn đến Senlis, cách Paris chỉ còn 42 cây số (khoảng 30 phút xe hơi) và phi trường quốc tế Charles-de-Gaulle chỉ 25 cây số, tuy gần mà xa vì không có phương tiện nào khác là xe hơi, hoặc xe bus rất mất thì giờ và nhiêu khê. Senlis có một nhà ga xe lửa rất đẹp, nhưng tuyến đường xe lửa đã bị dẹp bỏ, thay thế bằng nhà ga xe bus. Tại sao phải đến hay nghe kể về Senlis ? Tôi cảm nhận là thành phố này có nhiều nét đặc biệt.

Trước nhất nói về thiên nhiên, cảnh đẹp thì Senlis nằm ở giao điểm của ba cánh rừng mang tên rừng Chantilly, rừng Ermenonville và rừng Halatte mà tổng diện tích lên đến 120 km vuông và hai con sông nhỏ mang tên Aunette và Nonette, phụ lưu của sông Oise. Điểm cao nhất của Senlis 78 m trên mặt biển nằm ở quảng trường thánh đường Senlis. Bây giờ đang vào thu, rừng bắt đầu thay lá, những ai yêu mùa thu với vẻ lãng mạn của nó thì tìm đến những cánh rừng thưa cạnh những con sông, mầu sắc của thiên nhiên, trời xanh trong vắt không một gợn mây, tiết mát rười rượi, nước sông nhẹ nhàng lững lờ trôi và lá cây từ vàng tươi chuyển dần qua muôn sắc mầu sang nâu là một bữa tiệc cho con mắt no nê của người ngắm cảnh. Tại khu rừng d´Halatte tôi đã vẽ một bức tranh. Senlis có 3 con đường đi dạo đường dài (Grande Randonnée) xuyên qua những khu rừng của các thành phố chung quanh, đó là GR 11, GR 12 và GR 655. Cùng hợp nhất với thành phố Chantilly nơi có lâu đài Chantilly và chuồng ngựa, với Ermenonville nơi an nghỉ của Jean-Jacques Rousseau, với thành phổ Compiègne nơi có nhiều điểm hẹn của lịch sử, đối với những ai thích lịch sử là một khám phá thú vị….và tốn kém, vì du lịch ở những nơi này hơi đắt (trú ngụ, ăn uống, di chuyển). Có những nhà hàng sang trọng quá mà chúng tôi chỉ đứng ngoài không dám vào.

Nói về thành phố thì tâm điểm của Senlis vẫn còn là một thành phố trung cổ tạo nên vẻ duyên dáng của nó. Lịch sử của thành phố bắt đầu từ thế kỷ thứ II. Nếu bạn ở Đức, đã biết Heidenberg, Würzburg hoặc Rothenburg…cũng là những thành phố trung cổ nổi tiếng nhưng đẹp hơn, hoàng tráng hơn trong thời hiện đại. Senlis nhỏ nhắn, xinh xắn hơn, diện tích thành phố chỉ có 24 km vuông với những con đường lát đá, những con phố nhỏ hẹp, góc ngách, những ngôi nhà nhỏ xíu mọc theo triền dốc hai bên đường…, những thánh đường, nhà thờ, tu viện, tàn dư của cung điện nguy nga thời trung cổ. Ở thành phố này phụ nữ thời hiện đại đều mang giầy thấp, không ai dại gì mà đi giầy cao gót trên đá tảng lót đường, trẹo chân. Senlis được người đời nay biết đến từ cái mốc lịch sử của thành phố từ năm 981 là thời điểm vàng son của Huges Capet, người được các bá tước bầu nên làm vua nước Pháp tại Senlis, rồi lên ngôi ở Noyon sáng lập ra dòng Capétien, các vua Louis cho đến vua Louis XVI đều thuộc dòng dõi Capétien. Khi vua Louis XVI bị hạ bệ và bị cách mạng chém đầu cũng chỉ được gọi đích danh là Louis Capet, và hoàng hậu Marie-Antoinette cũng chỉ được gọi là « bà vợ góa Capet ». Ngày nay một cây cột bằng đá đứng trơ trọi xấu xí ở một ngã ba đường để kỷ niệm vương triều nước Pháp. Cho nên Senlis là thành phố vương triều Huges Capet của lịch sử, cái nôi và là nơi trú ngụ của những vì vua nước Pháp từ đời Huges Capet cho đến Charles X, người dân Senlis cũng vì thế tự cho mình hơn những người dân khác.

Dân số của Senlis tăng vọt từ những năm 1920 sau Đệ nhị thế chiến với khoảng 6.472 dân lên thành 14.891 dân năm 2018. Nhà đất ở Senlis rất đắt, khó mua, vì thành phần dân chúng ở Senlis giầu có trên trung bình, có của ăn của để, trên 80% dân số là những người có nghề nghiệp cấp nhân viên trở lên tới thượng tầng, dưới 20% còn lại là thợ thuyền và nông dân giầu có (thống kê 2007). Những người giầu nhất Senlis thì lại không ở trong thành phố mà ở những làng nhỏ ngoại ô thành phố, trong những biệt thự nguy nga ẩn náu cô đơn giữa rừng.

Đối với một số người, cái tên Senlis là một nơi đem lại cho họ những kỷ niệm xấu xa, ly dị, thất nghiệp, phá sản, tội tù…vì các bản án của những ba tòa án tại Senlis. Những luật sư hành nghề tại Senlis không khi nào thất nghiệp và lương bổng của họ cao ngất ngưởng.

Mức sống kinh tế khá cao của Senlis khiến cho thành phố là nơi hành nghề của 53 bác sĩ chuyên khoa, 18 bác sĩ phẫu thuật răng miệng và 20 bác sĩ tổng quát, không kể đến những bác sĩ chỉ làm việc và khám bệnh trong các nhà thương tư và công. So sánh điều kiện săn sóc y tế với nhà quê thì quả là một trời một vực, cả một vùng rộng lớn chi có vẻn vẹn hai bác sĩ tổng quát !

Ở nhà thương công của Senlis có chuyên khoa phụ sản mà bác sĩ trưởng khoa là một người rất tốt bụng, ông đã cứu tôi thoát khỏi ung thư và vị bác sĩ này luôn giúp đỡ, thâu nhận dưới trướng của mình những sinh viên y khoa bác sĩ tập sự đến từ khắp nơi trên thế giới.

Trải qua hai cuộc Đại chiến thế giới thành phố Senlis cũng bị bom đạn của Đức làm thiệt hại nặng nề, nhưng cũng từ đó dần dà được xây dựng lại, bảo tồn được tôn trọng gìn giữ, không phá hẳn đi để xây cái mới, rất nhiều địa chỉ được ghi trong danh sách bảo tồn. Với vẻ đẹp tự nhiên thời trung cổ của Senlis và vẻ đẹp của những khu rừng chung quanh, thành phố đã trở thành phim trường cho nền điện ảnh của Pháp. Gần 40 bộ phim đã lấy Senlis làm khung cảnh. Những phim lịch sử nổi tiếng đã được quay ở đây, có thể kể ra Angélique et le Roy (1966), Peau d´âne (1970), La Reine Margot (1994), Versailles (2014)…MTT

MTT_foret_1

Tranh sơn dầu trên vải  » Cánh rừng d´Halatte » của Mathilde Tuyết Trần, khổ 170 cm x 120 cm

Senlis_(Oise),_carrefour_de_l'Obélisque

Đài kỷ niệm Huges Capet, người sáng lập vương triều Pháp của dòng họ Capétiens

MTT_s1

 Một nhà cổ ở Senlis

MTT_s3

Đường lót đá, nhỏ hẹp, rất sạch sẽ, không rác rưởi, không bụi bặm

MTT_s11

MTT_s7

MTT_s8

MTT_s10

MTT_s9

Cửa vào nhà kín cổng cao tường

MTT_s6

MTT_s2

MTT_s5

Nhớ nhà nhớ bánh Trung Thu

19. septembre 2021
tags:

Nhớ nhà nhớ bánh Trung Thu – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Bị cuốn hút theo với đời sống ở châu Âu nhiều năm trời tôi quên bẵng ngày Tết Trung Thu. Thấm thoát, trăng đã bắt đầu tròn và sáng trong đêm, đến ngày 21.9.2021 là vành trăng lại tròn thêm một lần nữa. Một lần về Hà Nội, ngang qua phố Hàng Mã đầy đèn lồng Trung Thu tôi mới sực nhớ lại, tại sao mình có thể quên đi Tết Trung Thu ? Lục lọi trong trí nhớ xa xăm, tôi cười một mình nhớ lại hình bóng con nít của mình mỗi khi rằm tháng tám trở về. Thuở ấy, ba tôi thường hay đầu têu cho con nít chơi Trung Thu, trong khi má tôi chỉ lo việc cúng rằm. Ba tôi mua cho chúng tôi những cái đèn lồng, rẻ thì đèn xếp, đắt tiền hơn là những chiếc đèn bằng tre và giấy bóng kiếng hình ngôi sao, con cá chép….lồng đèn càng lộng lẫy, càng công phu như hình con thiên nga, con bướm thì càng đắt tiền. Không ít « thảm cảnh » đã xẩy ra khi chiếc đèn của mình bốc cháy vì cây nến cắm không chặt, lung lay, ngã làm cháy chiếc đèn lồng bằng giấy, thế là chưa đi rước đèn, thì con nít đã mếu máo khóc òa….Được xếp hàng trong đám con nít của xóm, đi một vòng trong xóm, từ đầu ngõ này sang đầu ngõ kia với ánh sáng lung linh chập chờn của nến đỏ trong màn đêm xanh, ôi, thật là hãnh diện, hạnh phúc biết bao cho đứa con nít nhỏ là tôi. Những đứa lớn, biết hát, thuộc vài câu, bắt đầu sau cái đếm 1,2,3 của người lớn là ngoạc mồm ra hát rõ to:  » Tết Trung Thu rước đèn đi chơi, em rước đèn đi khắp phố phường..Lòng vui sướng với đèn trong tay, Em múa ca trong ánh trăng rằm, Đèn ông sao với đèn cá chép, Đèn thiên nga với đèn bướm bướm, Em rước đèn này đến cung trăng …. »

Ngoài lồng đèn xanh đỏ lộng lẫy, đám trẻ con còn được cha mẹ mua cho những con tò he làm bằng bột gạo, nặn bằng tay rất khéo léo và những cái mặt nạ. Con tò he, thực ra là khi thổi nó kêu « Tò Te », riết rồi nói trại ra thành « tò he », là một sản phảm thủ công rất độc đáo của miền Bắc. Người lớn thì chơi hẳn loại đèn kéo quân, công phu hơn.

Khi đi ngủ lại được nghe ba kể chuyện « Chú Cuội Hằng Nga », mơ màng thấy Chú Cuội ngồi trên cung trăng nhìn xuống trần gian luyến tiếc….Người lớn thì tất bật tặng quà nhau, những cái bánh Trung Thu, gói trà sen…Hồi đó, người ta đồn đại, nhà giầu tặng bánh Trung Thu có nhét những thỏi vàng nén ở trong bánh, nên cắt bánh Trung Thu phải cẩn thận, xem có thỏi vàng trong bánh hay không, con nít nghe há hốc mồm tin ra phết. Tặng quà qua, quà tặng lại…bánh Trung Thu, nào là bánh nướng, bánh dẻo, bánh mặn, bánh ngọt, mỗi nhà nhiều quá ăn không hết. Rồi lại cỗ Trung Thu cúng trong gia đình cũng không kém phần xôm tụ và thiên về món ngọt nhiều hơn như xôi ngọt, chè và hoa quả. Những đám múa lân tùng xình, tùng xình, tùng tùng xình « quậy » thêm lên làm cho tết của trẻ con thêm háo hức, nhộn nhịp, vui tươi….

Bây giờ ở nơi xa xôi, nghĩ lại thấy tục lệ Tết Trung Thu cho trẻ em thật là một nét văn hóa đẹp đẽ, lãng mạn, vừa là một dịp để người lớn giao lưu, bầy tỏ tình cảm gắn kết gia đình, hàng xóm, láng giềng, bạn bè….Người châu Âu chỉ có mỗi một dịp để gửi thiệp và tặng quà cho nhau trong một năm đó là vào dịp Noel. Mùa Trung Thu cũng thúc đẩy kinh tế thị trường, ngành nghề thủ công được phát triển, xã hội thư giãn, vui vẻ. Các ngành nghề làm bánh Trung Thu, lồng đèn, mặt nạ, tò he, quần áo, giầy dép…..có cơ hội phát triển. Thêm vào đó, không khí trong gia đình cũng trở nên ấm cúng hơn, các bà mẹ, các bà vợ quý, các cô con gái rượu…tha hồ trổ tài khéo léo làm bánh Trung Thu nhà để ăn, để tặng…Bỗng dưng, tôi thèm có một cái bánh Trung Thu lạ lùng, muốn làm lấy mà ăn cũng không có nguyên liệu, muốn đặt mua bánh ở Paris thì đã « cháy hàng », lại không có ai ở bên nhà mà nhớ đến người phương xa gửi cho cái bánh…Mùa dịch covid 19 năm nay lại thêm một cái buồn. Buồn quá ! MTT

PHOTO-2021-09-23-15-48-51

Mâm trái cây Trung thu năm nay của một bạn gái ở Hà Nội, rất khéo tay

PHOTO-2021-09-23-15-48-59

Con chó đáng yêu được hình thành bằng 3 quả bưởi, một trái đu đủ (thân) và một củ hành (đầu)

PHOTO-2021-09-23-15-52-43

Tháng chín cũng là mùa cốm ở Hà Nội. Cốm làng Vòng nổi tiếng nhất, dẻo, thơm, ăn với chuối chín thì rất tuyệt. Bạn tôi thường tặng một gói cốm gói trong lá sen để đem về Pháp, quý lắm.

Bài hát tặng những người cô đơn của mùa dịch covid19

13. septembre 2021

Bài hát tặng những người cô đơn của mùa dịch covid19 – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Trong mùa dịch covid19 đã từ hơn hai năm nay, người dân khổ sở trăm đường vì các biện pháp chống dịch trên khắp thế giới, những người cô đơn lại còn cô đơn hơn vì biệt lập, cách ly, liên hệ xã hội, tình cảm, gia đình bị cắt đứt, gián đoạn. Mấy ai thông hiểu và chia xẻ được tình cảnh của họ, sống cũng cô đơn, chết cũng cô đơn. MTT xin gửi tặng những tâm hồn cô đơn một bài hát của Goerges Moustaki, Ma solitude, bài hát này đã được MTT thâu từ năm 2012 tại thành phố Hồ Chí Minh, với các nhạc sĩ Hữu Hậu (synthesizer), Quốc Phúc (E-guitare), Hiển (E-Bass), Dũng (Batterie) của MPU Studio Nguyễn Đức Thịnh.

Pentdant la saison covid 19, qui existe depuis plus de deux ans maintenant. les gens ont souffert de cent manières à cause des mesures antiépidémiques dans le monde entier, les personnes seules sont encore plus seules à cause de l´isolement personnel et du confinement général. Apparemment on oublie, ignore leur situation, vivent seuls, meurent seuls. Dédiée aux âmes solitaires, voici une chanson de Georges Moustaki, Ma solitude, cette chanson est enregistrée par la voie de MTT et les musiciens Huu Hau (synthétiseur), Quoc Phuc (E-guitare), Hien (E-bass), Dung (Batterie) de MPU Studio Nguyen Duc Thinh en 2012 à Ho Chi Minh Ville.

Bản dịch Pháp-Việt của TS Phan Kim Hổ (Đức):

Ma solitude , Georges Moustaki

Pour avoir si souvent dormi

Avec ma solitude

Je m’en suis fait presque une amie

Une douce habitude

Elle ne me quitte pas d’un pas

Fidèle comme une ombre

Elle m’a suivi çà et là

Aux quatres coins du monde

Non, je ne suis jamais seul

Avec ma solitude

Quand elle est au creux de mon lit

Elle prend toute la place

Et nous passons de longues nuit

Tous les deux face à face

Je ne sais vraiment pas jusqu’où

Ira cette complice

Faudra-t-il que j’y prenne goût

Ou que je réagisse

Non, je ne suis jamais seul

Avec ma solitude

Par elle, j’ai autant appris

Que j’ai versé de larmes

Si parfois je la répudie

Jamais elle ne désarme

Et si je préfère l’amour

D’une autre courtisane

Elle sera à mon dernier jour

Ma dernière compagne

Non, je ne suis jamais seul

Avec ma solitude

Non, je ne suis jamais seul

Avec ma solitude 

Niềm cô đơn của tôi, Georges Moustaki

Vì đã ngủ quá thường xuyên

Với nàng cô đơn của tôi

Tôi gần như đã kết bạn cùng nàng

Một thói quen ngọt ngào

Nàng không rời tôi nửa bước

Thủy chung như hình với bóng

Nàng theo tôi khắp đó đây

Đến tận bốn phương trời

Không, tôi không bao giờ lẻ bóng

Với nàng cô đơn của tôi

Khi nằm cùng giường với tôi

Nàng choán đầy hết chỗ

Và chúng tôi trải qua những đêm dài

Cả hai đối mặt nhau

Tôi thực sự không biết

Sự đồng tình này sẽ đến đâu

Tôi có phải cảm nhận vị ngọt ngào

Hay phản ứng lại

Không, tôi không bao giờ lẻ bóng

Với nàng cô đơn của tôi

Tôi đã học được nhiều điều từ nàng

Tôi đã rơi nước mắt ra sao

Nếu đôi khi tôi ruồng rẫy nàng

Không bao giờ nàng chịu thua cuộc

Và nếu tôi thích tình yêu hơn

Từ một kỷ nữ khác

Vào ngày cuối đời mình

Nàng vẫn sẽ là bạn đường cuối cùng của tôi

Không, tôi không bao giờ lẻ bóng

Với niềm cô đơn của tôi

Không, tôi không bao giờ lẻ bóng

Với niềm cô đơn của tôi

Quê hương anh, quê hương tôi, Làng Sông Quy Nhơn

5. septembre 2021

Quê hương anh, quê hương tôi, Làng Sông Quy Nhơn- ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Mùa dịch Covid 19 bị giam hãm trong nhà, con người bày đủ trò để giết thì giờ, quay về lại với chính mình, người thì làm bánh, nấu ăn, người thì sửa máy móc, đọc sách…phần tôi lục lọi những hình ảnh đã chụp mà chưa có dịp xem từ hai chục năm nay. Chúng tôi năm nào cũng trở đi trở lại đất Bình Định, Quy Nhơn, Phú Yên…Một chị bạn tôi người gốc Quy Nhơn ngạc nhiên hỏi, bộ tôi có gia đình ở đó hay sao mà năm nào cũng về vậy. Từ chỗ không có dây rưa dễ má gì với mảnh đất này, dần dà tôi cũng có được một sợi dây tình cảm với Bình Định, để nhớ để thương một nơi trên quê hương tôi. Giờ đây mỗi lần về Quy Nhơn, tôi lại nhớ anh, người con của xứ sở, rặc Bình Định, từ giọng nói cho tới dáng người thâm thấp, chắc nịch.

Một hôm, anh hẹn đón vợ chồng tôi đi chơi, anh không nói đi đâu, nhưng dặn là đi suốt ngày. Hóa ra anh chở thẳng vợ chồng tôi tới Làng Sông. Nơi này, nhiều năm về trước, chúng tôi đã có ghé qua trong một lần đi du lịch tham khảo, nhưng cửa đóng then gài, không xem được gì. Lần này đi với anh, chắc tôi được xem nhiều hơn. Đang đi ngoài nắng, bước vào Làng Sông, dưới hai hàng cây sao cao ngất cho bóng mát tôi có cảm tưởng như mình bước vào một ốc đảo trên sa mạc, mát rượi ! Làng Sông là tên của một tiểu chủng viện Thiên chúa giáo, là nơi đặt nhà in Làng Sông đầu tiên trong việc hình thành và phát triển chữ quốc ngữ, được xây dựng khoảng năm 1872, hiện nay do các nữ tu phụ trách. Địa danh Làng Sông hiện nay thuộc huyện Tuy Phước, cách thành phố Quy Nhơn 20 cây số về hướng Đông Bắc. Tiểu chủng viện Làng Sông đã được tu bổ lại, rất khang trang, sạch sẽ. Quả thật, lần này được các nữ tu mở cửa cho vào xem thư viện, nhà thờ, anh có vẻ quen thuộc như về thăm lại ngôi nhà của anh.

Đã quá trưa, anh chở chúng tôi lắc lư gập ghềnh trong xe vì là trên những con đường đất đầy ổ gà, ổ voi nhỏ hẹp của những cái đầm nuôi cá, nuôi tôm. Ngồi trong xe chạy mà nhìn ra bên ngoài tôi có cảm tưởng xe đang chạy trên mặt nước nóng bỏng giữa trưa. Thỉnh thoảng xe luồn ngang qua xóm nhỏ, ba bốn nóc nhà của ngư dân, cửa nẻo mở toang hoang như không hề sợ trộm cắp.

Đi mãi, lắc lư mãi mới đến cái quán anh chọn để ăn trưa. Quán lá, mái tranh, nằm giữa đồng không mông quạnh, có gì ăn nấy, vậy mà khách vừa ngồi xuống bàn, bà chủ quán đã dọn đầy một bàn cơm canh, món mặn món xào rau luộc rau tươi nước uống bia bọt đủ cả. Chồng tôi đã quen mắt với những cái bàn thấp, những chiếc ghể đẩu bằng nhựa cũng thấp chủn, tuy rằng có khó khăn để ngồi, nhưng một khi đã ngồi thì ông ấy chẳng dám cục cựa gì cả, chỉ sợ mình mất thăng bằng té ngửa. Lần nào về nhà ông ấy cũng đặt câu hỏi, tại sao người Việt Nam từ Bắc chí Nam hay ngồi thấp thế để ăn. Nhưng ông chồng tôi cũng đã biết câu trả lời vì đã đi cùng tôi qua biết bao nhiêu là địa điểm, dân chúng ngồi xếp bằng ăn trên giường trên phản, trải chiếu ngồi ăn dưới đất, trên nền gạch hoa, ngồi chồm hổm quanh bếp lửa giữa nhà hay trong bếp để ăn cơm, các hàng quán vỉa hè hay trong nhà che nắng che mưa đều sử dụng bàn thấp, ghế đẩu thấp bằng nhựa nhẹ tưng cho dễ dọn dẹp, di chuyển, khuân vác, cái mốt ngồi ghế cao ăn trên bàn là cao cấp, trưởng giả, nhà giầu…hay dành cho người nước ngoài. Thức ăn dọn ra âm ấm, nêm nếm vừa miệng, quán cơm nhà quê ở Bình Định không khác gì những quán cơm xe tải dọc hai bên đường ngoài Bắc, rất đầy đủ và rất rẻ.

Ăn trưa xong, chạy về trung tâm Quy Nhơn vào một quán cà phê trên bãi biển…để nghỉ trưa. Rồi đi tiếp. Lúc ấy tôi còn khỏe re, có sức đi chơi đó đây. Đợi ánh nắng trong thành phố bắt đầu tàn, anh mới chở chúng tôi đi săn hình trên mỏm núi cao nhất ở Quy Nhơn. Không có anh là thổ địa, lại  » đi chỗ nào cũng lọt » vì anh là nhiếp ảnh gia nổi tiếng ở Quy Nhơn thì chúng tôi chẳng bao giờ được đặt chân đến đấy. Anh lái xe chạy vòng vèo lên núi, nghe anh nói cao khoảng 6-700 trăm mét. Lên đến đỉnh, ngồi trong xe có máy lạnh mà lại cảm thấy ấm, bước ra khỏi xe là tôi run lập cập vì gió núi ban chiều thổi quần quật. Trên đỉnh núi là các cột vô tuyến truyền tin phủ sóng cho khắp cả vùng. Ánh nắng vàng ấm âp của một ngày tàn rọi xuống vịnh Quy Nhơn thật là đẹp, phong cảnh núi và biển mờ ảo như một bức tranh thủy mạc. Chúng tôi được chứng kiến các nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp hoạt động: chọn góc và kiên nhẫn chờ lúc ánh sáng đẹp nhất trong khoảng khắc để chụp những tấm ảnh đẹp. Có hôm các anh thức suốt đêm để chờ đón buổi bình mình vào trong hộp hình.

Lần cuối cùng tôi gặp anh là hôm anh nhất định mời tôi đến nhà để anh nấu cho tôi ăn những món ăn dân dã đặc sản ở Quy Nhơn. Anh vừa khoe những món vừa đi chợ về xong, cá tươi, rau tươi….món gì cũng tươi rói, vửa nấu ăn thoăn thoắt, vừa kể chuyện nuôi chim yến. Anh không cho tôi phụ làm bếp, anh nói, dơ hết quần áo đẹp của tôi. Nhà tôi ở cũng thiết kế gian bếp theo kiểu Việt Nam là « ăn trong bếp », nấu đó ăn đó chứ không có phòng ăn riêng kịch hỡm. Anh đã cho xây nóc nhà thành chỗ nuôi chim yến, hoàn toàn bằng xi măng xám, có lỗ nhỏ cho chim yến bay vào và bay ra, đặt một máy phát thanh ngày đêm liên tục tiếng chim yến gọi nhau làm tổ…nhưng anh nói, phải kiên nhẫn chờ vì mùi xi măng còn mới quá, hôi quá, yến không bay vào làm tổ. Anh nói, nếu có thu nhập thêm bằng việc bán tổ yến thì gia đình anh đỡ khổ. Anh chép tặng tôi những video, những tấm hình anh chụp. Nhìn thấy những công trình kiến trúc to, đẹp, hiện đại thì anh vừa vui vừa có một chút buồn vì cái mới đó, cái giầu sang đó không có chỗ đứng cho anh. Trong lòng anh vẫn còn cái cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi, vẫn còn cái thằng cu ở chuồng chân đất, con cá con ốc tự tay bắt ở suối, cái guồng tre quay nước… Gặp anh cuối tháng một, thâng ba tôi bay về, tôi không nghĩ đó là lần cuối cùng. Thêm một người của thế hệ kiên cường trong chiến tranh đã ra đi mãi mãi. MTT

Hàng cây sao già cỗi rợp bóng mát đón khách ở Làng Sông
Chính diện tiểu chủng viện Làng Sông
Ngai thờ trong tiểu chủng viện Làng Sông
Toàn cảnh thành phố Quy Nhơn
Nhiếp ảnh gia săn hình ban đêm
Trương Văn Hắng – Cầu Tre
Trương Văn Hắng – Cha và con
Trương Văn Hắng – Cô gái tắm suối
Trương Văn hắng – Cụ già
Trương Văn Hắng – Cái guồng nước bằng tre

Bà Tám tám: Chích hay không ? mèo trắng hay mèo đen ?

1. septembre 2021

Bà Tám tám: Chích hay không ? mèo trắng hay mèo đen ? – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Bà Tám giựt mình vì hai câu nói. Câu thứ nhất: « Lịch sử sẽ phán quyết chính trị » (Dr. Raoult), và câu thứ hai:  » Người ta sẽ không bị kiểm soát « passe sanitaire  » (thông hành y tế) khi đi bầu cử tổng thống năm 2022  » của người phát ngôn viên chính phủ trẻ măng, mặt còn búng ra sữa bằng tuổi thằng con út mình và chính thức kết hôn đồng tính luyến ái với một dân biểu quốc hội. À ra thế, người ta sẽ gọi « nền dân chủ », « nền tự do », « nền độc lập » của một quốc gia là cái thớ gì, nếu chỉ có cái « passe sanitaire » là yếu tố duy nhất quyết định hết mọi việc sống còn ở trên đời ?!

Bà Tám nhớ lại, hồi đầu những năm 1970, khi di chuyển từ châu Á sang châu Âu, người ta cũng phải mang theo một cái sổ màu vàng chứng nhận người di chuyển đã chích ngừa các bệnh lao phổi, bệnh sài uốn ván, bệnh đậu mùa…., là những bệnh đã thành phổ thông và có thuốc chữa. Thuốc chích ngừa, nói cho đúng nghĩa là thuốc ngăn ngừa dịch bệnh, tạo ra kháng thể cho người được chích để khỏi mắc bệnh, không lây nhiễm cho người khác, không phải là thuốc chữa dịch bệnh. Ở châu Âu, bà Tám đã được nhiều lần chích ngừa, hàng năm bà Tám vẫn nhận được giấy gọi đi chính ngừa bệnh cúm, bệnh sưng phổi…khi đang yên ổn vì bà đã già, và chưa lần nào bà Tám mắc bệnh cúm cả. Chích ngừa, bà Tám đâu có sợ, vì nó là một biện pháp phòng bệnh hơn chữa bệnh.

Vậy mà, từ hồi đầu mùa dịch covid19 đến giờ đã hai ba năm nay bà Tám im re, dựa cột mà nghe đủ mọi loại tin tức. Không cần phải coi ti vi, nghe radio, chỉ cần mở cái mạng Internet ra là ôi thôi chỉ toàn là tin tức covid đủ chiều đọc mệt nghỉ nghe nhức cả cái đầu, đá bóng và chiến tranh nơi này nơi kia. Oải !

Thuốc chích ngừa mới được sản xuất ngay theo phương pháp mới biến đổi gen và được cấp giấy phép tạm thời trong khi đang có dịch và đem sử dụng ngay một cách đại trà trong dân chúng, hàng triệu người chen chúc nhau đến cơ sở đặc biệt được tạo dựng cấp tốc để chích, người được phép chích cho dân chúng được nới rộng ra là cả y tá, dược sĩ tại những nhà bán thuốc tây, đến nỗi người được chích như được coi là ban ơn sống sót, được hưởng trở lại mọi quyền tự do. Người đã được chích bỗng dưng cảm thấy mình có toàn quyền muốn làm gì thì làm, đi đâu thì đi, chẳng sợ ai nữa. Ấy vậy mà hóa ra, người được chích rồi vẫn có khả năng lây nhiễm cho người khác, và vẫn có thể mắc bệnh covid như thường. Bác sĩ chích một mũi thì có lương một mũi, bác sĩ giới thiệu bệnh nhân đi chích cũng được thưởng tiền tính theo mỗi người bệnh của mình giới thiệu. người dân được chích không tốn tiền, hoàn toàn miễn phí, chính phủ trả hết mọi tốn phí lấy trên tiền đóng thuế của dân. Sướng quá mà !

Nội trong gia đình bà Tám đã xảy ra căng thẳng, một phe chích và một phe không chích. Phe chich thì biểu « ba má chích ngay đi, chờ đợi gì nữa !  » Phe chưa chịu chích thì biểu  » chờ thuốc ngừa truyền thống, sợ bị thromboses lần nữa là tử ngay, không chích thuốc có gen biến đổi  » …Bên này không chịu chấp nhận lý luận của bên kia, cũng may là chưa chia rẽ đến nỗi không còn nhìn thấy mặt nhau như trong một số gia đình đã xẩy ra.

Bà Tám không chấp nhận những mỹ từ không đẹp, nào là « antivac », nào là « complottis », nào là « ich kỷ, không nghĩ đến người khác » gắn cho những người « chưa chích ngừa », vì « chưa chích ngừa » không phải là « không chích ngừa ». Bà Tám chờ sốt cả ruột thuốc chích ngừa của viện Pasteur Pháp đã tuyên bố nghiên cứu lâu rồi mà chưa thấy ra.

Rồi những câu hỏi đang chia rẽ xã hội Pháp được đặt lên hàng đầu mỗi ngày, hệ thống truyền thông Pháp ra rả tuyên truyền cho bốn loại thuốc gọi là thuốc tiêm chủng ngừa bắt buộc dân chúng phải chích. Hỏi bác sĩ , thì cũng có hai loại bác sĩ, bác sĩ theo chính phủ và bác sĩ « đặt câu hỏi ».

Bác sĩ theo chính phủ thì nói và làm theo đúng y như chính phủ dạy bảo, bảo sao nghe vậy. Cứ chích đi, không sao đâu chỉ có vài phần trăm có vấn đề mà thôi. Nhỡ bà Tám lọt vào trong số vài phần trăm đó thì sao ? Cái Số nó đã xui rồi ông trời đã gọi tên thì ráng chịu ! Bác sĩ « đặt câu hỏi » thì e dè hơn. Bác sĩ nào mà bản thân chưa chích ngừa thì bị rút giấy phép hành nghề, và hăm dọa bắt bỏ tù bằng lá thư hăm dọa nặc danh của ngài giám đốc tổ chức ARS ( Agence régional de santé, cơ quan y tế vùng) gởi tới tận phòng mạch, có bác sĩ đã ngồi tù, có bác sĩ đang đứng trước sự đe dọa đóng cửa phòng mạch trong hai tuần lễ mà 1.500 bệnh nhân của bác sĩ đó trở thành bơ vơ không nơi nào nhận săn sóc sức khỏe vì các phòng mạch khác đã quá tải vì tình trạng thiếu bác sĩ, nhất là ở vùng quê. Theo tin ngày hôm nay, 15.09.2021, cơ quan quản lý bác sĩ đoàn (Conseil de l´ordre) thông báo có 7% trên tổng số bác sĩ ở vùng Oise không chích ngừa và phải đóng cửa phòng mạch. Những nhân viên y tế cho đến hôm nay ngày hạn chót không chích ngừa đều bị sa thải hàng loạt. Sáng ngày 16.09.2021 bộ trưởng bộ Y tế Olivier Veran thông báo trên truyền thông đại chúng là có « vài 3.000 nhân viên y tế » bị sa thải. Số phận của « vài 3.000 » gia đình đi về đâu ? Ai quan tâm đến họ ? Trong khi đó, bà bác sĩ Christine Hochard của L’ile-aux-Moines thuộc vùng Bretagne nói đến con số 300.000 nhân viên y tế từ chối không chịu áp lực chích ngừa của chính quyền, bà là một trong những người phải đóng cửa phòng mạch ngay ngày 15.09. (Le Figaro, 19.9.2021)

Toàn là những vấn đề dao to búa lớn cả, làm bà Tám sợ thụt lưỡi. Hãi ! Im ! Vì đâu mà cái lưới trời lồng lộng « chích ngừa » bỗng dưng úp chụp lên đầu ? Vì đâu mà sức khỏe của mình, cái cánh tay của mình lại biến thành một chủ đề chiến trận an ninh quốc gia ? Vì đâu mà bà Tám bị ngăn chặn từ ngoài cổng nhà thương, lực lượng « an ninh » của bệnh viện xuất hiện không cho vào nhà thương dù có hẹn với bác sĩ trong nhà thương để chữa những bệnh « nền » của mình ?

Tại sao những thông tin khoa học, y học, không được phổ biến rộng rãi ? Tại sao vấn để tiêm chúng trở thành một vấn đề chính trị tối cao và trở thành chia rẽ dân chúng thành mèo trắng được hưởng tự do và mèo đen thì bị phạt không được hưởng tự do: không được đi ăn nhà hàng, vào quán bar, không được đi xem cinéma, không được đi thăm viện bảo tàng, không được đi nhảy đầm, không được ở khách sạn, không được đi du lịch….? Tại sao chỉ có loại thuốc tiêm chủng biến đổi gen được cho phép ? Thế nào thì được gọi là « thuốc tiêm chủng ngừa » ? và có phải bị tiêm chủng bắt buộc hay không ? Tự do cá nhân có xâm hại nguy hiểm đến an ninh quốc gia ?….

Bà Tám có nhiều câu hỏi còn bỏ ngỏ….dù hàng ngày vẫn đọc đủ mọi thứ tin tức của nhiều ngôn ngữ, của nhiều nước trên thế giới. Tại lãnh thổ quốc gia Pháp, người ta tịch thâu hêt những thứ thuốc được coi là để chữa bệnh covid như chloroquine, ivermectine…, vì những thuốc này bị cho là nguy hiểm đến tính mạng, cấm bán, cấm cho toa, mặc dù quân đội Pháp hàng năm đặt đến cả 3 tấn thuốc chloroquine.

Toa thuốc chữa bệnh covid19, nhiều người đã khỏi bệnh và có kháng thể, phải dấu tên thuốc để đừng cho thuốc bị cấm, không mua được nữa. Thuốc kháng đông máu như Plavix 75mg hiện tại bị hết lâu dài trên toàn quốc Pháp. Mới đây, một bác sĩ của bà Tám xác nhận là thuốc gọi là thuốc tiêm chủng covid hiện đang được sử dụng thực ra là thuốc chữa bệnh covid (curatif) theo phương cách biến đổi gen, đã gây ra hiện tượng tạo ra thêm những Variants, là những loại vi khuẩn Covid mới (con), tương tự như con vi khuẩn Covid trước (mẹ), bây giờ đã có tên là variant Delta (chữ D tiếng Hy Lạp). Những người đã chích ngừa thì có người bị bệnh lại, có trường hợp tử vong, và hậu quả của gen biến đổi sẽ ra sao thì không ai nói trước được.

Biết rằng, lịch sử sẽ phán quyết chính trị, biết như thế là chỉ để an ủi mà thôi vì lịch sử luôn luôn đi sau thời cuộc rất lâu, có khi cả mấy đời người chính trị vẫn chưa được phán quyết. Vì thế, người lạm dụng chính trị vẫn cứ đứng thẳng lưng, chẳng sợ lịch sử phán quyết, người Pháp lại có câu nói: « dân Pháp có trí nhớ ngắn », thì có ai mà dám đụng vô một cái lông tơ của ông nào, bà nào đang nắm quyền lực sinh sát trong tay đâu. Ngẫm lại cái bước đường cùng của vua Duy Tân: « Chúng ta không có một tấc sắt trong tay, một xu trong túi… », thì bà Tám tủi thân ngồi khóc, mình cũng đang ở bước đường cùng lúc nào không hay, chưa chích, không có tự do ! Ôi chao ! Cuối đời, dù đã biết nhiều bao nhiêu là kinh nghiệm xương máu của chiến tranh Việt Nam, nay ở xứ sở của Tuyên ngôn nhân quyền mới học được thêm bài học « tự do có điều kiện » y hệt như tù nhân chiến tranh khi xưa bị ở tù lỏng…hu hu hu….MTT

Trịnh Thị Việt Hà

27. juillet 2021
tags:

numérisation0009 (2)

Trịnh Thị Việt Hà

Em đã về trời, chị buồn lắm. Chị rất thương em, một cô em dâu nhỏ nhẻ thật thà dễ thương. Em không giống như người khác, chạy theo đồng tiền của chồng, nếu nói rằng « của chồng công vợ ». Em có cái hãnh diện của em là em tự lập, tự mình làm ra tiền để nuôi bản thân, và nuôi cả chồng con khi khó khăn. Chị chỉ là chị chồng, lại ở xa nhà, thỉnh thoảng mới gặp, lúc còn túng thiếu chị chẳng có quà gì cho em cả, chỉ có nụ cười. Chị em mình đồng cảm, thích gần gũi nhau. Ngày má qua đời, chị em mình khóc sưng mắt. Chị còn nhớ ngày chị lánh sang nhà em ngủ nhờ, chị mệt quá nên ngủ sớm, nửa đêm thức giấc giật mình vì sáu con chó Nhật của em cùng nằm trên giường vây quanh chị. Chó biết giữ cho chủ như vậy là nó khôn lắm.

 » Thôi về đi, đường trần đâu có gì…, tóc xanh mấy mùa….đời người như gió qua... » câu hát trong bài Phôi Pha của anh TCS bây giờ lại càng thấm thía hơn. Chị hát thầm tặng em bài hát để tiễn em về trời. Thôi hết những cơn đau của cơn bệnh ung thư hành hạ em mỗi ngày. Thôi hết những viên thuốc đắng làm quằn quại thân thế. Em đã chịu đựng can đảm chống cự đến phút cuối cùng. Em mang đi, có còn lại chăng trong linh hồn em là cái lo cho đứa con gái duy nhất của em, cháu của chị. Em đừng lo nữa, hãy phù hộ cho con, trời sinh voi sinh cỏ. Mơ ước của em, được khỏe lại, sang châu Âu chơi một chuyến, thăm bạn bè, thăm chị đã không được thực hiện. Em làm con bướm bay về đây nhé, thăm chị. Mấy ngày nay, chị có linh cảm có ai về thăm chị. Tự dưng những câu hát ám ảnh chị  » Có những ai xa đời quay về lại, Về lại nơi cuối trời, làm mây trôi… »… Chị sẽ nhìn những đám mây bay trên trời để nhớ đến em. Em sống một đời hiền lành, không hại ai, không làm điều gì xấu cho ai. Em về trời trước rồi, chị sẽ về sau. Chúng ta, những người có duyên nợ với nhau, sẽ gặp lại nhau nơi cõi trời hay nơi cõi tạm, kiếp này và những đời sau nữa, chị tin là như vậy, để trả nợ đời cho nhau, đày ải nhau, ganh ghét nhau, đấm đá lẫn nhau, trả thù nhau hay thương yêu nhau. C´est la vie !!! Hay hương linh của chúng ta sẽ thanh thản tiêu diêu nơi cõi vĩnh hằng, không còn trở về lại nơi cõi tạm nữa, điều mà chị chúc cho em chân thành. Ở nơi xa xôi, chị thắp nén hương vĩnh biệt em, hình hài của kiếp này, Việt Hà nhé. Thương em trong lòng. MTT

Nhạc phẩm Phôi Pha của Trịnh Công Sơn qua tiếng hát của ca sĩ Bằng Kiều:

Một trang trại đầy hoa ở vùng Aisne

16. juillet 2021

Một trang trại đầy hoa ở vùng Aisne – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Hết tháng hai năm 2021 tôi mừng thầm vì nghĩ rằng xuân về sẽ xóa sổ covid, vì đầu tháng ba đúng hẹn các cây đào nở rộ, tiếp đến là các loại cây ăn quả như cây táo, cây mận, cây lê….Nhưng trời chẳng chiều người, bất chợt băng giá mưa gió kéo đến làm cho hoa lá rụng tả tơi, thế là năm nay mất mùa không có trái ăn. Rồi tháng tư qua đi trong mưa gió lạnh lẽo. Tháng năm đến, tháng của mùa cưới thế mà năm nay ỉm ìm im, không thấy cưới xin đâu cả, từ đầu tháng đến cuối tháng tôi chờ đợi nắng ấm chưa trở về. Thở dài. Qua tháng sáu, tháng của hoa hồng, cây đã lên lá ra nụ chờ hoa nở. Thế mà ! Hoa vừa mới nở, mưa đã rơi xuống dầm dề, hoa úng nước trên cành, chết ngủm, rồi gió quật, tội nghiệp đời hoa mau tàn phai hương sắc. Tháng bẩy về, cũng mưa, đến giữa tháng cũng còn mưa gió, các loại hoa mùa hè lạnh quá không nở được, bụi hoa nào nở là may mắn lắm bởi chỗ trồng cho hơi ấm và khô ráo. Bên Pháp đã thế, chính quyền xiết chặt thêm các biện pháp hành chánh quản lý người dân vì covid, bên Bỉ và Đức lụt lội nặng, nhà cửa, xe cộ, người trôi trong nước lũ….Bên nhà báo tin dịch covid hoành hành….Tưởng như không có gì vui….

Bất chợt một lời mời đến thăm nhà của một người chị em họ khiến chúng tôi nhận lời ngay, được lúc cho di chuyển từ vùng này sang vùng kia, tội vạ gì mà chẳng đi, ra khỏi nhà cho đã…Ở tù trong nhà từ tháng ba 2019 đến giờ quẫn chân quẫn cằng, dù nhà mình có êm đềm cách mấy, có đẹp cách mấy đi nữa. Nói là đi từ vùng này sang vùng kia nhưng thực sự chẳng xa là mấy, chỉ khoảng trên 100 cây số, lái xe đi cái vèo là tới.

Vùng Aisne có lối kiến trúc nhà rất đặc biệt, hai nóc nhà như bậc thang, nguyên thủy là để lợp mái nhà bằng rơm rạ, về sau người dân thay bằng lợp ngói như vẫn giữ nguyên hình dạng ban đầu. Khác với thành kiến của một số người, nhà cổ, thường xây bằng đá tảng, kèo cột nóc làm bằng cây tự nhiên, không cứ hôi mùi ẩm mốc, đó là còn tùy việc sưởi ấm nhà, thông khí và sạch sẽ nhà. Nhà của người Pháp thông thường rất sạch sẽ, ngăn nắp, bày biện có mỹ thuật dù nghèo hay giầu tùy từng hoàn cảnh, chứng tỏ người ta rất yêu quý tổ ấm của mình.

Nơi chúng tôi đến thăm hóa ra là một trang trại cổ, chung quanh nhà chính có nhiều kiến trúc như nhà kho, nhà chứa rơm, nhà chứa thóc gạo, nhà chứa xe, hầm, chuồng nuôi bò, ngựa, heo, gà vịt, thỏ…., vườn hoa, vườn cây ăn trái, đồng ruộng…bây giờ chỉ còn là nhà ở và những chứng vật thay đổi theo với thời gian năm tháng. Một sự thăm viếng rất dịu dàng, nên thơ, làm quên đi chuyện thời sự covid. Mời các bạn thăm trang trại cùng chúng tôi, một chút thư giãn trong mùa dịch với nhiều tin trái chiều làm nhức đầu mệt tim, vào một ngày không mưa tuy có mây xám vần vũ. MTT

MTT_1B

Bên cạnh chiếc cổng to, chỗ để xe đã được những bông hoa chào đón

MTT_11B

Ngôi nhà chính của trang trại với mái có bậc thang đặc biệt của vùng Aisne. Bên cạnh lối vào nhà là một chiếc bàn nhỏ với chiếc ghế ngồi nghỉ chân

MTT_13B

Chủ nhà có lẽ có nhiều bạn đến thăm, có bàn nhỏ ngồi chơi ngắm cảnh thơ mộng

MTT_9B

MTT_4B

Một chiếc bàn mời khách bên cạnh tường hoa kim ngân (chèvrefeuille) đang nở rộ thơm ngát

MTT_5B

Một chiếc ghế giữa đám hoa và thảm cỏ mượt mà

MTT_12B

Một bộ xa lông trong căn nhà nhỏ

MTT_3B

Lối vào vườn hoa

MTT_2B

MTT_8B

MTT_6B

Một góc của nhà chứa rơm rạ, bị thủng mái vì cơn mưa đá vừa qua

MTT_7B

Chiếc xe thồ cổ cả trăm năm tuổi

MTT_10B

Khung mái bằng gỗ và thân cây thiên nhiên trải qua bao thời gian vẫn đứng vững….

Ưu việt trong mùa dịch Covid 19

4. juillet 2021

Ưu việt trong mùa dịch Covid 19 – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Có lâm vào cảnh nguy khốn mới biết được tính chất con người và cả xã hội. Xã hội người Việt lóe sáng được tính ưu việt tiềm ẩn của mình những khi bị chao đao. Ưu việt ở chỗ đoàn kết xã hội, tình người chứa chan và được bộc lộ, một người vì mọi người, mọi người vì một người trong mùa dịch Covid. Ai chỉ ích kỷ, chỉ nghĩ đến mình không có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam. Những bếp ăn 0 đồng, những xe quần áo 0 đồng, những chuyến xe về quê 0 đồng, bánh mì 0 đồng…., những bữa ăn treo trên cây, ngoài lề đường….ai thiếu đến lấy….Sự tự phát, tự động của người giúp đỡ và lòng tự trọng, biết nghĩ đến người cùng cảnh thiếu thốn như mình khiến cho việc tổ chức cứu trợ thêm dễ dàng và có ý nghĩa.

Tôi ngồi đây mà thật là cảm động khi đọc những hàng chữ điện thoại trực tiếp từ trong nước gởi sang báo tin dịch bệnh, cách ly, rồi nghĩ lại thân phận mình ở Pháp không một ai giúp đỡ trong suốt hai năm dịch bệnh đồng thời lại bị chữa trị ung thư, không có thông tin…sống ở làng mà như là sống biệt lập ở một hành tinh xa lạ.

Tôi giật mình sợ hãi cái « máu lạnh » của xã hội Pháp, mặc ai nấy sống, khôn sống dại chết, chỉ có tiền là mua, mua, mua ….và mua, mua vật chất và mua cả « services » (phục dịch), không có gì mà người châu Âu lại không biến thành một nguồn lợi thâu tiền. Nếu có yêu cầu được giúp đỡ, thì phải gọi điện thoại, xin hẹn, lập hồ sơ, trả đầy đủ tiền dịch vụ….từ bữa ăn mang tới nhà, chở đi chợ, chở đi bệnh viện….Xã hội Pháp trong tình trạng hiện nay hoạt động dựa trên sự tổ chức, kiểm soát, tiền và chia rẽ, biệt lập trong nhiều tầng lớp theo phe phái chính trị. Ngay cả trong một gia đình, cha mẹ con cái khác chính kiến với nhau là đã chia rẽ, có vấn đề đụng chạm trên thực tế chung sống.

Trong suốt hai năm dịch bệnh vửa qua, phong tỏa xã hội và giới nghiêm cả ba đợt, mỗi đợt kéo dài mấy tháng tại Pháp, vợ chồng tôi không hề có sự giúp đỡ của một ai, đang trị bệnh ung thư mà tôi vẫn ráng lết đi chợ, nấu ăn, ngó qua ngó lại chỉ có hai vợ chồng. Hàng xóm láng giềng, nhà hành chánh làng….tất cả đều im lặng, im thin thít, mỗi ngày. Hỏi thăm tin tức của tôi, chỉ có một đôi vợ chồng già ở đầu làng. Trải qua hai ba năm như thế, đến bây giờ nhờ biết tin tức những gì xẩy ra bên nhà, tôi mới giật mình thấy sự im lặng đó ở đây bên Pháp quả thật là đáng sợ. Những người làm thuê đến nhà tôi vài lần để ủi đồ, quét nhà lau nhà…., khi tôi trong thời gian hóa trị không có một chút sức lực nào cả, đều diễn tả một sự lạnh lùng vô cảm như rô bốt, không có một chút tình cảm nào, họ làm việc chỉ vì được trả tiền, lại còn than van là lương ít, việc cực nhọc…đến trễ, đi về thì đúng giờ. Khi khỏe, tôi vẫn làm việc nhà không than van là việc cực nhọc cơ mà !

Thành phố của tôi ở bên nhà đang cơn dịch bệnh, đến tâm điểm. Sáng nay vừa mới thức dậy, điện thoại đã báo tin. Cô em bán rau củ quả báo tin chợ đóng cửa sáng qua lúc 7 giờ sáng. Phần bán ngày hôm đó thì có người mua bớt dùm, cho đi một phần và mang về lại nhà một phần những thứ rau củ để được vài ngày ăn dần. Đồ ăn dự trữ trong nhà của cô em thì có mì gói, trứng và gạo cho gia đình bẩy, tám người. Hôm qua, cô em được đi xét nghiệm cả khu phố, không tốn tiền. Cô em thuộc vào thành phần bán lẻ nhỏ nhất ở chợ, không có vốn, không có phương tiện để rao bán qua mạng, rồi thuê xe ôm đem tới cho từng khách hàng. Hình thức như thế, bán lẻ qua mạng, giúp đỡ tiêu thụ, lại làm phát triển công việc cho người nghèo cần tiền sinh sống như chạy xe ôm giao hàng. Bên Pháp không có xe ôm, ở Paris và vài thành phố lớn chỉ có người nghèo phải chạy xe đạp trong mưa gió tuyết rơi để giao hàng. Cô em được xét nghiệm rồi được cho về nhà tự cách ly 14 ngày.

Nỗ lực xét nghiệm từng người dân trong từng khu phố không kể giàu nghèo, có tiền hay không có tiền thật đáng nêu gương. Bên Pháp, thì dân sợ bị xét nghiệm, lại chỉ làm xét nghiệm khi có việc gì bắt buộc như phải vào nhà thương mổ chẳng hạn. Bên Pháp, dân sợ bị đưa vào nhà thương, người già thì bị lọc lựa, coi như là một đi không về, mắc bệnh ở nhà thì chi được chính quyền khuyên uống Doliprane (Paracetamol) để hạ sốt, các thứ thuốc khác có thể giúp thí dụ như ký ninh thì bị cấm triệt để, cấm bán, cấm bác sĩ viết toa theo kế hoạch đã được dự tính của các lobbies dược phẩm kỹ nghệ. 

Một người Pháp đang ở trong nước báo tin về Pháp, ở Việt Nam, hễ quân đội đến nhà đưa đi cách ly là đi, người ấy ngạc nhiên nói thêm, ở bên Pháp thì không thể nào có chuyện như thế. Nhìn những trẻ em sáu bẩy tuổi ngoan ngoãn trước khi bước lên xe còn ngoái lại tạm biệt gia đình để đi cách ly tôi không khỏi xót xa cảm động.

Ngạc nhiên là phải, một quân đội của dân, từ dân mà ra, người dân có tin tưởng được bảo vệ, phải khác một quân đội chuyên nghiệp, được thu nhận và chỉ vì tiền và danh vọng. Người dân Pháp chưa thể quên những người dân Pháp khoác áo vàng bị cảnh sát bắn mù một mắt, đánh bị thương, xịt hơi cay.

Những người chống lại cách ly, sợ bị cách ly, không khai báo có tiếp xúc với F0, bỏ trốn…là những mầm bệnh ẩn giấu làm cho công việc trị dịch bị dai dẳng, kéo dài. Hy vọng là thành phần này không nhiều, nhờ tính tự giác của mỗi người và trước sau gì khi phát bịnh thì cũng lộ ra.

Tôi đọc báo bên nhà hàng ngày, tin tức về bệnh dịch covid trong nhiều tỉnh thành. Nhưng tin tức trên báo có khi thấy đâu xa lạ, có người viết lại phát huy không đúng chỗ, đúng đối tượng, có lẽ vì không có so sánh với tình hình các nước, hình ảnh không có chú thích rõ ràng với chủ đề khiến cho chỉ có người trong cuộc mới thông cảm. Có những thông tin có tính cách « nêu gương » cá nhân điển hình, như những bài báo nói về cô hoa hậu này, cô ca sĩ kia….đi làm việc covid, làm việc từ thiện,,,khiến cho người đọc ở nước ngoài thấy như kể ơn kể công xa lạ, quảng cáo, không muốn bắt chước. Hay những thông tin lập tượng đài kỷ niệm vô cùng hoành tráng, tặng thưởng cầu thủ bóng đá bạc tỷ trong lúc này chỉ gây thêm bối rối hoặc bất mãn.

Bạn bè trong nước kêu gọi quyên giúp thì mới thấy được sự khẩn cấp của tình hình, chung tay cứu đói và những thông tin đến từ người thân cận, bạn bè, người đã từng gặp nhau thì làm nổi da gà, có tác động mạnh.

Cô bạn tôi ở một chung cư trong trung tâm thành phố Hồ Chí Minh kể:  » Ngày thử nhất 3.7 lock thang máy, 11 trưa nghe phường thông báo là ở tầng 12 block B có F0 là nữ. Thế ra vội đi xuống siêu thị gom một số rau củ, thịt cá trước khi bị lock nhưng quên mất nhà chỉ còn 2 kí gạo. Hơn 12 giờ, con trai mới đi làm về, dặn mua thêm gạo, mì và bún…trước khi lên nhà (vì lên nhà là khỏi xuống). Làm như mọi người biết hôm nay nhà mình bị giăng dây hay sao í, mà sáng nay bà chị gọi nói sẽ mua cho mình bò rèm thăn, chị sếp của con dâu gửi đến cho gà vịt, măng dưa cải, nhân viên cũ gửi biếu mấy trái thanh long nhà trồng, cậu em cùng block nói khi nào nhà hết gạo kêu em, em để sẵn dưới xe. Khi thông tin cho các anh chị em, bạn bè, đồng nghiệp, sui gia, ai cũng nói cần gì cứ gọi. Lâu nay gia đình mình cùng cả xã hội đều chung tay giúp đỡ cho những hoàn cảnh khó khăn, nhất là thời Covid, không nghĩ có một ngày mình được đề nghị giúp đỡ nếu cần. Đúng là Covid còn hơn cả giặc. »

Mạng lưới xã hội của một người Việt là gia đình, là anh chị em, là bạn bè, là hàng xóm láng giềng, là đồng nghiệp, là sui gia…những sợi dây tình cảm tưởng là mong manh nhưng thật ra là được kết rất chặt khi có nguy biến. Đó chính là nguồn gốc của một mối đoàn kết không gì phá nổi.

Trong xã hội Pháp, tất cả những sợi dây tình cảm đó đã và đang bị phá vỡ bởi truyền thông đại chúng, cứ đọc báo, nghe đài, xem truyền hình là nhan nhản « anti-…. » , chồng chống vợ, vợ chống chồng, đàn bà chống đàn ông, phe tả chống phe hữu và ngược lại, kẻ « xanh lè » chống nông dân và chống người lái xe cũ, cứ nhân danh mầu xanh là chống đủ thứ có quan hệ mật thiết đến đời sống của người dân từ việc sưởi nhà mùa đông, di chuyển bằng xe hơi cũ, cho đến năng lượng, cho đến nhà nông, người chăn nuôi bò, heo, gà vịt….chống, chống và chống. Vai trò của nhà thờ thiên chúa giáo, tôn giáo chính của người dân Pháp, là một trong những sợi dây liên kết bị làm mờ nhạt.

Những câu châm ngôn như « lá lành đùm lá rách », « một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ », « một miếng khi đói bằng một gói khi no » ….không phải là những từ ngữ sáo rỗng, nó là bài học thuộc lòng, là kim chỉ nam cho lòng biết đoàn kết, bác ái, tương trợ của người Việt. MTT

Một kỷ niệm đẹp, Ngăn cách

19. juin 2021

Một kỷ niệm đẹp, Ngăn cách – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Trời buổi trưa tháng tư nóng muốn chảy mỡ, không ai ra đường hay di chuyển, phố xá vắng tanh, chiếc taxi chở vợ chồng tôi chạy chầm chậm hết đường Điện Biên Phủ ra Ngã Ba Hàng Xanh trong nắng ngắt. Mùi nhựa đường bốc lên đầy mũi. Hồi xưa, má tôi cấm không cho đi đâu buổi trưa, trúng nắng là bịnh nặng, bây giờ tôi cũng không biết nghe lời má dạy. Trong một căn nhà ba tầng trong hẻm là studio thâu thanh, ở tầng thượng. Người ở đây không nói là tầng mà là tấm, nhà mấy tấm, ba tấm, bốn tấm…hỏi ra mới biết đó là cách nói của thợ xây nhà, đúc mấy tấm xi măng ? Vào trong nhà tầng dưới mát rượi, lên đến tầng thượng thì nóng hầm hập, tầng này một nửa xây kín có mái, một nửa làm sân để trống trời, nên cái nắng gắt trưa hè hắt vào trong nhà vô tội vạ. Hôm nay các nhạc sĩ đã thâu nhạc nền sẵn nên mới đầu giờ trưa chỉ có anh Thịnh và anh Hậu ở đó. Anh Thịnh cũng không ở lại lâu, chút rồi đi. Anh Hậu đóng cửa ngoài lại, bật máy lạnh lên, Pierre thở ra, ông ấy đẫm mồ hôi, còn tôi thì nói không ra tiếng vì nóng quá. Bởi vậy, studio dành buổi tối để thâu cho ca sĩ chuyên nghiệp còn buổi trưa cho đến chiều là những người ham hát mà chẳng có nghề hát như hạng tôi. Rõ ràng là phân biệt đối xử nhưng phải chịu thua luật chơi thôi, không thì người ta chê là « vịt kiều chảnh ».

Anh Hậu bật máy, tôi bước vào phòng kín để thu, cái phòng lót thảm, tường, vách và cửa dán mút mầu đen, bên trong chỉ có cái micro và một cái giá nhạc, tai nghe. Sau vài giây thử nhạc trong tai nghe, anh Hậu ra dấu bắt đầu thâu. Anh Hậu là người khó tính, rất tiết kiệm lời nói, chỉ yên lặng làm việc của mình. Pierre kiếm chỗ ngồi một góc, không cục cựa. Tôi định thần, thở ra, nhạc dạo đầu nổi lên, rồi cất tiếng hát, nhắm mắt, thả hồn vào một bài hát tình giữa trưa hè oi bức…Anh Hậu đề nghị thâu lại lần thứ hai. Thông thường, lần hát đầu là những cảm xúc tự nhiên, bộc phát, thâu thêm lần thứ hai, mắt mở, là những cảm xúc đã được người hát tự động sửa lại, bớt thật. Tôi ra nghỉ lấy hơi, bỗng thấy một anh bước vào studio, tay xách một cái hộp dài, hóa ra đó là cây đàn violon, anh đến để thâu cho tôi tiếng đàn của anh. Tôi chỉ hát trên nhạc nền, không có phần phụ họa của những nhạc cụ chính. Đến phiên anh thu thanh, nhìn cái dáng dấp như người đi chơi tennis, quần cụt, áo thung polo, đi dép, không ai có thể đoán được anh là một nghệ sĩ đàn violon. Chẳng cần phải vào phòng thu, tiếng đàn được truyền thẳng vào máy, nên anh thảnh thơi đứng giữa phòng thu chơi đàn…dễ và nhẹ như trò chơi. Đến giờ Pierre vẫn thích thú nhớ đến anh. Tiếng đàn day dứt, buồn bã…tô điểm cho bài hát của tôi thêm đậm đà. Anh Hậu bỗng buông ra một câu khen:  » Bài này chị hát hay  » và không muốn thâu thêm thâu lại gì nữa. Chết rồi, mấy bài khác mình hát không hay ?! Mời các bạn nghe bản nhạc « Ngăn cách » của Y Vân qua tiếng hát của Mathilde Tuyết Trần tháng tư năm 2006 với sự phụ họa của các nhạc sĩ Hy Đạt (Violon), Hữu Hậu, Quốc Phúc, Hiền và Dũng, thâu thanh bởi Hữu Hậu.

s5

Mùa hoa Serenga nở

Tháng sáu mùa hoa – Mathilde Tuyết Trần, France 2021

13. juin 2021

Tháng sáu mùa hoa – Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Bạn thường hỏi tôi tháng nào đẹp nhất ở Pháp để lên lịch đi du lịch ở Pháp. Mùa xuân thì mưa dầm dề, gió bấc lạnh lẽo, tuy tháng 3 các loài hoa xuân nở rộ nhưng người đến từ xứ nóng e ngại tiết trời ẩm ướt, lạnh lẽo của mùa xuân xứ ôn đới, lại đi du lịch có ít ngày thì uổng phí đi. Hoa đào nở tháng ba, hoa tu líp nở tháng tư, là những tháng còn lạnh, thời tiết thay đổi ngày nắng ngày mưa rất bất chợt.

Những ai chỉ thích Paris thơ mộng, lãng mạn, vĩ đại với những cung điện, đền đài nguy nga, viện bảo tàng…thì đến Paris lúc nào chẳng được. Dưới một góc nhìn cá nhân, Paris với dòng sông Seine lững lờ thì ngày nào cũng là đẹp, con phố, ngõ ngách nào cũng có duyên, nhiều điểm phải đến của một thành phố rộng lớn. Ở Paris cả hai tuần đi chơi không hết, mệt nghỉ. Thời trẻ, khỏi phải nói, tôi rất mê Paris qua khía cạnh văn hóa, kiến trúc của nó. Càng lởn tuổi, càng hiểu biết tôi lại càng thấy Paris xa tôi dần. Đắt đỏ, dơ bẩn, hợm hĩnh, uy quyền, đè nén, chia rẽ, phân biệt đối xử, người giầu kẻ nghèo….những tĩnh từ không mấy đẹp của người ở nhà quê tỉnh nhỏ nhìn vào Paris. Tôi chẳng thích đem tiền vào Paris phung phí nữa. Người Pháp nhà quê có câu diễu:  » Em biết trời mưa mình làm gì không ? Không ! Cứ để cho nó mưa như ở Paris !  » Nói theo kiểu mấy ông bạn già của tôi thì ai hiểu được chết liền !

Đi xuống miền Nam có biển Địa Trung Hải thì ấm hơn vài độ, nhưng biển mùa xuân còn lạnh lắm, không ai dám xuống nước cả hay phơi mình trong nắng. Gió lạnh quất vào người thì bịnh ngay. Biển miền Bắc hay biển Đại Tây dương của Pháp lại càng không muốn đi, vắng lặng, phí tiền vô ích, mỗi năm chỉ được ba tháng hè vui chơi.

Mãi đến tháng sáu thì bạn nên đến Pháp là tháng đẹp nhất trong năm. Tiết trời mát lạnh, sáng sớm khoảng từ 13° trở lên, trưa chiều có thể lên đến trên 25°, ít mưa. Tháng sáu có thể xem là cuối mùa xuân đầu mùa hè, vì bước qua tháng bẩy, tám là hai tháng hè nóng nhất trong năm. Tháng sáu lại là tháng của hoa hồng bên Pháp, tất cả các loại hoa hồng đều nở rộ, nhìn đâu cũng thấy hoa hồng, mùi thơm ngào ngạt. Đồng ruộng ở nhà quê đã thay đổi mầu sắc, từ mầu đất nâu chuyển sang thành thảm xanh đậm của lúa mì, thảm vàng rực của hoa dầu (cây colza), thảm tím đậm của cây gai dầu (cây chanvre), thảm tím nhạt của hoa gai, thảm xanh non của lúa mạch….. Nhìn tới chân trời, những sự thay đổi mầu sắc diễn ra hàng ngày tùy theo độ trồng của ruộng, rất mát mắt. Dọc theo bờ ruộng nổi lên, tô điểm cho mầu sắc của ruộng là những loài hoa dại đỏ, vàng, trắng, tím…lay động theo chiều gió thổi.

Ruộng hoa gai có lẽ là đẹp nhất. cọng gai dài, cao, ẻo lả, mảnh mai uốn mình theo những làn gió thổi qua tạo thành những gợn sóng tím nhạt rất đẹp. Hoa gai lại kén nắng. Nắng gắt thì hoa không nở, nắng ít bóng râm nhiều thì hoa cũng khép. Mà đời hoa gai chỉ kéo dài ba, bốn ngày là tàn. Hoa gai đang nở từ ba hôm nay, vào giữa tháng sáu. Rình được lúc nắng vửa, thường là trưa đến chiều, ra ruộng xem hoa gai nở là một hạnh phúc. Nhưng cứ mỗi lần thăm ruộng hoa gai thì trong một góc nào đó của ký ức tôi lại nhớ về nạn đói ở miền Bắc năm Ất Dậu 1945, Nhật ra lệnh trồng gai thay lúa để phục vụ cho chiến tranh làm cho dân chúng thiếu gạo ăn, chết đói gần 2 triệu người. Thảm cảnh đó những ai đã trải qua thì làm sao mà quên được. Người Pháp gặt hái gai, cuộn thành bó tròn nặng cả tấn, rồi chuyên chở sang Mã Lai để dệt thành sợi rồi lại nhập về châu Âu. Thời đại toàn cầu hóa rất cần nhân công rẻ để cho lợi nhuận đạt mức tối đa !

Bài hát « Nắng chiều » của Lê Trọng Nguyễn tôi hát từ năm 2008 đến nay đã được 13 năm tuổi, có vẻ hợp với khung cảnh làng quê, bài này tôi thâu thanh hai lần cho nên có hai phiên bản khác nhau, xin mời các bạn nghe phiên bản thứ nhất, tôi hát « cứng » với nhịp điệu vui tươi sôi động của ban nhạc với các nhạc sĩ Hữu Hậu (Synthesizer), Quốc Phúc (E-Guitar), Hiền (E-Bass), Dũng (Batterie) để thính giả rủ ra sàn nhẩy…Chúc các bạn vừa xem ảnh hoa chụp trong làng tôi ở, vừa nghe nhạc, tươi vui ra khỏi cơn dịch covid một cách nhẹ nhàng lả lướt. MTT

hoagai1

Ruộng hoa gai, trồng bên hàng cây đoạn ( cây tilleul, Linden tiếng Đức) và hoa mỹ nhân (coquelicots) dại mọc ven ruộng

hoagai2

orges1

Bên lúa mì xanh đậm bên lúa mạch xanh non…

hong2

Đường trong làng rất sạch, hoa hồng trước nhà nở rộ, trời xanh mây trắng….

hong3

Góc nào cũng có hoa và hoa hồng đủ mầu sắc…..

hong5

Vườn nhà quê…

Ngày mẹ sinh ra con – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

31. mai 2021

Ngày mẹ sinh ra con – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Nhà quê bên Pháp vào tháng năm, bên trồng lúa mì thì lên xanh, bên trồng hoa colza thì vàng rực hút mắt…

Ngày mẹ sinh ra con là một ngày đáng nhớ trong đời cho đứa con và cho người mẹ, lẫn người cha trong vai trò phụ. Sợi dây liên kết, cái dây rốn hình như không bao giờ đứt đoạn, nó vẫn hiện hữu dù đã bị cắt đứt và trở nên vô hình. Và dù cho tình cảnh nào bất chợt, con bỏ rơi hay con đem cho, ao ước muốn tìm lại người đã sinh ra mình, hình hài và tính chất, vẫn là một điều thiêng liêng trong suốt cả cuộc đời.

Hồi đó, những năm 40, 50, người ta chỉ vào nhà thương khi….bệnh nặng, tai nạn gần chết. Sanh đẻ không được coi là bệnh tật, do những cô mụ đảm đương. Cô mụ hay bà đỡ đẻ là một nghề nghiệp phổ thông cho những phụ nữ « mát tay » có kinh nghiệm đỡ đẻ trong quá khứ, trong chiến tranh, trong « bất đắc dĩ »…, Đẻ ở nhà bà đẻ, hay đẻ ở nhà mình, đẻ ở ngoài đồng ruộng, đẻ trong cánh rừng, đẻ bên bờ sông…, người mẹ chấp nhận tất cả tình huống, chấp nhận luôn cả cái chết để cho con mình được sống. Mẹ tròn con vuông là nhà có phúc đức bầy mươi đời. Bây giờ, phụ nữ có điều kiện chỉ muốn mổ lôi con ra vì sợ đau đẻ, vì sợ hết đẹp mà không cho con bú sữa mẹ.

Nghĩ đến những đức tính của người mẹ, nổi bật nhất là sự hy sinh của mẹ, rồi đến lòng vị tha, sự cần mẫn suốt đời, những thứ ấy hợp lại là tình yêu của mẹ, là lòng của mẹ…Không có gì đau khổ hơn là người mẹ phải khóc con, không có gì đau khổ hơn là người mẹ đành đoạn phải bỏ con để đi đánh giặc. Chú tôi ra trận tuyến đánh Pháp, vợ chú, giao đứa con mới đẻ cho mẹ tôi, chị nuôi cháu hộ em mai mốt em về, để đi vào bưng biền với chú. Hai vợ chồng ra đi không trở lại, chiến tranh đã nuốt chửng cả hai người. em tôi lớn lên như cái bóng của chúng tôi, lặng lẽ, gọi ba má tôi bằng ba má, chưa bao giờ trông thấy hai người sinh thành ra mình, cũng không biết ngày sinh tháng đẻ của mình, chỉ biết cái tên: Hòa Bình.

Tôi có may mắn nhiều hơn em, được sinh ra trong hoàn cảnh ổn định của gia đình, được cha mẹ yêu thương, nuông chiều, dậy dỗ, cho ăn học. Thói tiểu thư, thói trưởng giả, thói tạch tạch xè (tiểu tư sản)…đó là những điều mà các ông bạn mao ít mao nhiều mắng tôi khi tôi đã ra ngoại quốc du học. Thời ấy, con gái được đi du học không nhiều, đặc biệt lắm, chỗ du học chỉ cho cánh con trai nhà giầu, có thần có thế ra nước ngoài học tập để mà trốn lính, con gái thường chỉ là tiểu thư thượng hạng dân ma ri cu ri mới tụ nhau lại cả đám bên Pháp và Thụy Sĩ. Bọn họ khinh thường tôi, dân trường Việt, nghèo mà ham.

Cuộc đời mới lớn, tự do có rất nhiều hấp dẫn, quên mẹ quên cha. Đến khi tôi có bầu đứa con thứ nhất, lãnh thiên chức làm mẹ, mới hiểu được…một phần của mẹ mình. Năm tháng trôi qua, ngày càng thấm thía cái cảnh khổ « Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư », ngọt bùi cay đắng, nếu cha mẹ tôi biết được từng chi tiết những cảnh đời đau khổ của tôi ?! thì chỉ làm khổ tâm thêm cha mẹ. Tôi có một chị bạn, sống theo những gì cha mẹ muốn, không ở nước ngoài, phải học bác sĩ, lập gia đình với người đàng hoàng có tương lai, bây giờ chị tâm sự là chán nghề và không hạnh phúc, nhưng chị có sức mạnh để đi tiếp. Đằng nào thì cũng khổ nhiều khổ ít, nhưng cũng có những đôi lứa không bị bão táp của cuộc đời làm tổn hại, may mắn hạnh phúc bên nhau suốt đời.

Tình yêu đôi lứa có cái ánh hào quang hấp dẫn của nó, để sinh con cái, để tiếp nối giống nòi. Con gái của mẹ đi tiếp con đường mẹ đã đi qua, hết đời này sang đời khác…Nếu không có vài người phụ nữ bị bắt phải làm nô lệ trên những hòn đảo hẻo lánh, cô đơn giữa biển khơi xa xôi…thì ngày nay không có con người ở đấy, không có một xã hội sinh sống, khai thác và giữ đảo cho một quốc gia. Tre già măng mọc, nỗi vui của đứa con gái ngày xưa là được ngắm nhìn mấy đứa cháu của mình, biết là mình đã trồng người ở đâu đó. Ngoài việc trồng người về hình hài, trồng người về tinh thần, kiến thức cũng là một cách trồng người cho các thế hệ sau.

Lúc nhỏ, ngày sinh nhật là ngày của mình, mình là tâm điểm của mọi sự chiều chuộng, quà cáp, « ăn » sinh nhật. Về già thì ngày sinh nhật là ngày của mẹ mình, ngày mẹ sinh ra mình. Kết thúc một bài tản mạn về ngày mẹ sinh ra con bằng một bài hát với tựa đề « Anh yêu em » tôi thấy thật ra không có gì là lạ, là lô gich, vì tình yêu đôi lứa là thứ tình cảm, thứ hào quang thông thường nhất để cho người con gái lãnh nhiệm vụ làm mẹ một cách tự nhiên nhất của mình, nối tiếp truyền thống cho mình, rộng hơn nữa là cho giống nòi, xã hội.

Có bao giờ bạn ngắm nhìn một đôi chim bồ câu bay vờn cánh, tỏ tình, âu yếm với nhau vào tháng Năm, tháng đẹp nhất trong năm, tháng của cưới hỏi và bắt đầu « sản xuất » ? Để kỷ niệm ngày mẹ sinh ra con tặng bạn bài hát « Anh yêu em », viết lời và tiếng hát Tuyết Trần, nhạc và hòa âm: Phan Trat Quan,  jazzig, thu thanh năm 1986. MTT

senhoTay

Sen hồ Tây Hà Nội nở vào tháng năm 2021 của một bạn gái Hà Nội gửi tặng

Về một bài hát của kỷ niệm: Làng tôi

26. mai 2021

Về một bài hát của kỷ niệm: Làng tôi – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Trong hành trang khi tôi ra đi du học cách đây đã hơn nửa thế kỷ, tôi nhớ thuộc lòng vài bài hát hay hát ở nhà nghêu ngao, Lòng mẹ, Làng tôi, Bèo dạt mây trôi….Những bài nhạc tình bolero tôi không để ý mấy, thời ấy cho là « nhạc sến », nghe thoáng ngoài tai rồi thôi, vậy mà nó cũng ăn sâu vào tiềm thức của tôi, té ra tôi cũng thuộc nằm lòng nhiều bản nhạc sến vì bị nghe mãi qua đài phát thanh.

Ba bản nhạc ấy tôi thu thanh lần đầu tiên vào đầu năm 1984 với nghệ danh Mai Thi, cùng sự hợp tác của nhạc sĩ Phan Trat Quan, người soạn hòa âm và đệm đàn ghi ta theo phong cách châu Âu cho tôi hát. Bài hát Làng tôi đặc biệt được hòa âm vào năm 1983 với một sự thôi thúc của tiếng kèn tiến quân, nhắc nhở lại khung cảnh chiến tranh của cuộc chiến chống thực dân Pháp và tiếng bass thật trầm làm nền cho khung cảnh súng đạn của chiến trường. Tuy về phần kỹ thuật thâu thanh không được hoàn thiện cho lắm, nhưng mời các bạn nghe lại bản nhạc Làng tôi (©Mathilde Tuyết Trần/Phan Trat Quan) qua tiếng hát nghiệp dư của tôi của kỷ niệm xa xưa.

Sau đó, chỉ được vài năm thì con đường ca hát của tôi tắt ngủm vì nhạc của tôi quá chọn lọc, quá Jazz, quá kén người nghe, không đi vào thị hiếu của người Việt ở Pháp và hải ngoại khi ấy, thính giả cho là lạ tai, không chuộng. Tôi bỏ hát, tập trung vào việc học cho ra trường…. bằng tiếng Đức. Mặc dù hoàn toàn không nói tiếng Việt trong gia đình mà nói tiếng Pháp với chồng con, khi đi làm lại sử dụng hoàn toàn tiếng Đức, cũng như ít tiếp xúc với bạn bè người Việt, nhờ vào việc hát và đọc tiếng Việt, trải qua bao thời gian năm tháng tôi vẫn giữ được tiếng Việt một cách lưu loát.

Thời gian qua đi….Bây giờ nhờ có mạng Internet, tôi mới biết được là bài hát lòng của tôi ngày xưa, bản nhạc Làng tôi của nhạc sĩ Chung Quân, được sáng tác năm 1952, năm sinh của tôi. Bản nhạc này đã chiến thắng cuộc thi sáng tác với đề tài nói về quê hương và con người Việt Nam của một….gánh hát cải lương xuất thân từ miền Bắc: Kim Chung, của ông bầu Long (Trần Viết Long, nghệ danh Trần Lang).

Chung Quân khi ấy mới 16 tuổi, còn là vô danh, tên thật là Nguyễn Đức Tiến, sinh năm 1936 tại Hà Nội. Bài hát được dùng làm một trong những bản nhạc nền của phim Kiếp Hoa, phim điện ảnh tiếng Việt đầu tiên có lồng tiếng. Những bản nhạc khác trong phim đều trở thành những nhạc phẩm nổi tiếng trong nền âm nhạc Việt Nam mang phong cách lãng mạn cổ điển trước chiến tranh chống Pháp : Dư âm cùa Nguyễn văn Tý, Nhạc đường xa của Phạm Duy Nhượng, Giọt mưa thu của Đặng Thế Phong và Cây đàn bỏ quên của Phạm Duy. Đạo diễn của phim là ông Doãn Hải Thanh, vai chính do các nghệ sĩ cải lương Kim Chung, Kim Xuân, Trần Quang Tứ, Ngọc Toàn, Tuấn Sửu đảm nhiệm, ngoại cảnh được quay tại Hà Nội đầu thập niên 1950. Phim Kiếp Hoa được trình chiếu lần đẩu tiên tại rạp Đại Nam Hà Nội từ năm 1954.

Báo Tuổi Trẻ ngày 25.05.2018 viết lại:

 » Ngày phim ra rạp Đại Nam và Bắc Đô, khán giả Hà Nội ùn ùn kéo đến. Đến khi vào Sài Gòn chiếu tại hai rạp Nam Quang, Nam Việt, trẻ con đi « phe vé » nườm nượp. Bộ phim này đã mở đầu cho « nghề » phe vé ở Việt Nam.

Nhưng trận đánh tại Điện Biên Phủ nổ ra năm 1954 khiến ông bầu Kim Chung không thể mạo hiểm làm phim kế tiếp. Sau khi Việt Nam ký hiệp định Genève, vợ chồng ông đã quyết định chuyển một nửa đoàn cải lương Kim Chung vào Sài Gòn. Một nửa đoàn Kim Chung ở lại Hà Nội, do vợ chồng người em là Tiêu Lang và Kim Xuân quán xuyến.

Tất cả đều hi vọng hai năm sau hai đoàn Kim Chung sẽ tái hợp. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Vợ chồng ông bầu Trần Viết Long – Kim Chung quyết định di cư sang Pháp.

Ông bà để lại cho vợ chồng người em Tiêu Lang – Kim Xuân và đoàn Kim Chung một nửa gia sản. Ngay cả bộ phim Kiếp hoa cũng được chia đôi, vợ chồng Trần Viết Long – Kim Chung giữ một bản, vợ chồng Tiêu Lang – Kim Xuân giữ một bản. Ngày lên đường sang Pháp, ông bà Trần Viết Long – Kim Chung đã không thể mang theo bộ phim Kiếp hoa (với 11 hộp phim tất cả).

Vợ chồng Tiêu Lang – Kim Xuân ở lại Hà Nội được anh chị giao cho một bản Kiếp hoa. Sau này ông Tiêu Lang đã quyết định tiếp tục khai thác Kiếp Hoa bằng cách đưa cho một người chuyên buôn bán phim đưa đi các rạp chiếu. Nhưng vì dính đến chính trị, người đàn ông này bị khám nhà và bị tịch thu bộ sưu tập phim, trong đó có Kiếp hoa.

Ông Tiêu Lang cho biết: « Đó vừa là rủi ro với cá nhân tôi, nhưng lại là điều may cho bộ phim. Vì thời đó không có điều kiện, tôi có giữ bộ phim cũng sẽ hỏng. Sau khi tịch thu phim, công an đã gửi phim về Viện tư liệu phim, ở đây người ta đã lưu giữ rất cẩn thận.

Năm 1981, anh chị tôi ở Pháp về chơi, Viện tư liệu phim đã mời anh chị tôi và vợ chồng tôi lên xem cuốn phim đó », ông Tiêu Lang bồi hồi nhớ lại. « 

Phim Kiếp Hoa (1954) trên Youtube.

Diễn viên điện ảnh Như Quỳnh trong phim « Đến hẹn lại lên » là con gái của cặp Kim Xuân-Tiêu Lang. Nhạc sĩ Chung Quân sau đó sáng tác thêm nữa, nhưng chỉ có bản nhạc Làng tôi của ông là sống mãi với thời gian. MTT

Đi buôn cái chữ…nghĩa

24. mai 2021

Đi buôn cái chữ…nghĩa ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Chồng tôi thường hay « mắng yêu » tôi rằng là đã học về kinh tế học như tôi mà tôi đi buôn chữ nghĩa thì coi như là thất bại, đại thất bại, xôi hỏng bỏng không ! Quả thực là như thế, từ hai mươi năm nay tôi sống bằng nghề viết lách theo « kinh tế thị trường » nhưng tiền vô thì ít tiền ra thì nhiều, hết cả vốn lại còn lỗ nặng. Tôi chống chế, em cho đời đấy, thế mới là bác ái là yêu người. Anh cười, thế ai yêu em ?!

Khi tôi liệt kê danh sách những khoản tiền chi tiêu cho việc hình thành một cuốn sách thì chồng tôi cũng cười, biết thế mà cũng làm ? rồi ai nuôi ăn nuôi ở cho ? ăn cơm nhà vác tù và hàng xóm à ?

Nói như vậy nhưng anh ấy biết là tôi đam mê lắm, cứ ngồi suốt ngày suốt đêm ở bàn với cái máy tính, gõ phím lóc lóc. Hễ tôi mà buông bút đứng dậy, rủ rê anh ấy chở đi chỗ này chỗ kia, đi tham khảo thì ông chồng tôi như bắt được vàng, mừng lắm vì được cùng vợ đi ra khỏi nhà, hay nhiều khi anh ấy rủ ngược lại tôi, đi chỗ ấy đi, có chuyện này chuyện kia hay lắm…để có dịp chở vợ đi chơi, đi du lịch.

Tôi còn nhớ, cách đây gần hai mươi năm, nhân dịp anh được nghỉ làm hai tuần, tôi rủ anh đi chơi…về Việt Nam. Leo lên máy bay đi, leo lên máy bay về chỉ trong vòng có hai tuần lễ, phí quá, nhưng phải chịu vậy thôi vì công ăn việc làm là trên hết.

Tôi còn tự hào là trung tâm Sài Gòn là như cái túi áo của tôi, nhắm mắt tôi đi đâu cũng trúng. (Bây giờ thì khác lắm rồi, thay đổi lắm rồi). Tôi dắt anh đánh một vòng quanh chợ Bến Thành, về trở lại đường Lê Lợi, xuống đến ngã tư Lê Lợi/Pasteur, chỉ cho anh ấy xem cái góc nước mía/khô bò Viễn Đông người ăn uống đông nghẹt, gần sát Chùa Chà có một chuồng nuôi chim bồ câu rất lớn mà má tôi cấm tôi không cho ra đó, (Chùa Chà phát xôi nếp nước dừa cho mọi người khi họ cúng, tôi và mấy đứa con nít trong xóm Pasteur rủ nhau ra đó xin ăn!), đi ngang rạp Casino, hồi đó còn vẽ hình các tài tử minh tinh màn bạc có cả Jean-Paul Belmondo trên bảng quảng cáo giăng trên cột ngang của rạp, vào hẻm Pasteur ăn tô phở Minh, vòng cửa sau căn nhà cũ thông với hẻm Pasteur của ba má tôi ra phía trước, tới góc Tòa Đô Chánh, bọc một khúc ngắn Lê Thánh Tôn, ra đường Nguyễn Huệ, ngang qua rạp Rex cũ, chỉ cho anh xem thương xá Eden, Nhà hát lớn, ra cột cờ Thủ Ngữ, bến nhà Rồng, dọc bờ sông Sài Gòn xuống xưởng Ba Son, ngang qua Sở Thú, trường Trưng Vương, chỗ hồ bơi Nguyễn Bỉnh Khiêm, rồi thẳng nhắm dinh Độc Lập mà đi, qua Nhà thờ Đức Bà, trường Taberd, Buu điện, công trường Công Xã Paris (nhìn bệ tượng Đức Mẹ, anh ấy bảo đây là bệ tượng Đức giám mục Pigneau de Behaine và hoàng tử Cảnh mà), rồi xuôi đường Công Lý, ngang qua Tòa án và dinh Gia Long, về lại Lê Thánh Tôn…tôi chỉ cho anh xem tận mắt tất cả kỷ niệm của tuổi thơ tôi nằm trong khu vực này…

Chỉ thăm Việt Nam lần đầu tiên được có hai tuần ngắn ngủi nhưng chồng tôi vô cùng hạnh phúc và rất là ấn tượng. Tôi hẹn năm sau hễ có về thì tôi dắt anh đi thăm Điện Biên Phủ, anh ấy nói « về chứ ! ».

Về lại Pháp, bỗng một cuối tuần rảnh rỗi, anh hỏi tôi « Nhà của Bá Đa Lộc ở gần đây. Em muốn đi thì anh chở đi ? ». Tôi tròn xoe mắt nhìn anh không hiểu « Bá Đa Lộc của thế kỷ trước ? », « Ừ, ông giám mục mà em kể đó ! « . Người Pháp có cách nói « à côté », « près d´ici » để chỉ khoảng cách ngắn, như cái địa danh mà anh nói « gần đây » hóa ra là hơn 200 cây số (!) nhưng đối với anh ấy là « gần ».

Thế là chúng tôi lên đường đi đến quê hương của Đức Giám mục Bá Đa Lộc, người đã có mặt trong lịch sử Việt Nam từ thời chúa Nguyễn Phúc Ánh chưa thống nhất giang sơn làm một mối. Kể lể dông dài để cắt nghĩa thời gian bắt đầu tôi đam mê viết về những sự kiện lịch sử mà tôi khám phá ra sự nguyên vẹn trinh trắng của nó, chưa ai viết về nó, những đề tài để tìm tòi, tham khảo và sáng tác.

Và cũng từ đó vợ chồng tôi bắt đầu có tốn kém cho việc viết lách của tôi. Trước hết là tiền di chuyển, tiền đường, tiền khách sạn ở lại một ngày, hai ba ngày…để đi đến những địa điểm tham quan, học hỏi, văn khố…. Chồng tôi hãnh diện khoe với mọi người rằng: « Tôi đã phục dịch vợ tôi qua gần 500.000 cây số đến nay trên đường bộ ! ». Đúng thế, hơn hai mươi năm chúng tôi đã cùng nhau vượt bấy nhiêu đó cây số đường trên đất Pháp, đốt hết một máy xe, phải mua máy khác (cũ) gắn vào.

Song song với tiền di chuyển, là tiền mua tư liệu từ những tờ giấy copy, tạp chí, sách báo….nói chung là ấn phẩm. Mỗi lần tôi tìm ra được một tiệm bán sách cũ, là bảo đảm chồng tôi bước ra với hai túi nặng đầy sách. Giá sách cũ cứ là 5, 10 đến 15 € một quyển, nhưng sách cũ, hiếm thì giá lại khác, trên trời dưới đất. Tôi mua bao nhiêu sách anh ấy cũng không rầy vì anh cũng thích sách.

Rồi máy tính và phụ tùng ! Tôi đã làm việc với máy tính từ năm 1986/87, nên với sự tiến triển, phát minh, chế tạo của thời gian đến nay thì lại càng nhiều hơn lên, nào là máy tính văn phòng, màn hình, hệ thống âm thanh, laptop, ipad, điện thoại di động, máy in, máy scan, ổ cứng….thay đổi máy móc nhiều lần, hai ba cái tủ đựng toàn là những vật liệu cũ còn dùng được, nhưng bị thải ra. Đến bây giờ thì toàn bộ hệ thống của tôi bị coi như là đã cũ, hết hợp thời, nhưng vẫn còn dùng được. Cái bàn phím tôi đang gõ lách cách cũng đã hơn hai mươi năm tuổi. Đó chỉ là nói về phần « cứng », còn về « phần mềm » thì nhiều thay đổi quá, tôi chạy theo cũng không kịp, phải đi xin xỏ, năn nỉ ỉ ôi.

Lại còn phải tính thêm phí tổn cho nhà mạng. Từ khoảng đầu tháng năm năm nay, các quảng cáo dữ tợn, hung hăng xâm chiếm tự động trang mạng của tôi, mà muốn gạt bỏ quảng cáo đi tôi phải tốn thêm tiền ! Nếu không trả tiền, thì họ liệt trang mạng của tôi vào loại « nguy hiểm », người xem trên mạng không nên vào ! Bây giờ vào mạng, trang nào cũng đầy rẫy quảng cáo gạt ra không kịp, nhỡ lướt qua nó một cái là mình đã nhảy vào….

Sau cả năm viết lách sáng tác một mạch một cuốn sách tạm ổn, tôi dần dần làm dàn trang với hình ảnh. Dàn trang cũng mình, sửa bản in cũng mình…tôi làm việc ngày nọ qua ngày kia đến mờ cả mắt vì nhìn màn hình lâu, không nhìn thấy lỗi gõ nữa.

Qua đến giai đoạn đưa đi in ở Pháp, thì hẳn là giá tính bằng euros chắc chắn là cao hơn in ở trong nước. Giá in phụ thuộc vào rất nhiều thứ: chất lượng giấy bìa, chất lượng giấy bên trong, mầu giấy, in trắng/đen hay in mầu, khổ sách, độ dày, cách đóng sách, cắt sách…. Nhà in nhận từ người đặt hàng một phiên bản đã hoàn toàn hoàn thiện, mỗi một yêu cầu thay đổi cần người chuyên nghiệp in ấn « can thiệp » phải được tình thêm tiền bằng giờ phụ trội, 75 euros HT (chưa thuế) cho một giờ. Vì thế tôi phải nhắm mắt cho qua để tiết kiệm tiền vốn khi phát hiện ra trong bản đưa in còn sót vài lỗi sơ ý không nhận ra trong khi đọc sửa bản in. Cộng thêm với giá in là giá giao hàng tận nhà.

Cầm cuốn sách mới tinh khôi, mới ráo mực, còn thơm mùi giấy, mùi mực, lại còn những phí tổn khác để gửi sách đến tay người đọc: bao bì, băng keo, bút viết, phí bưu điện, tiền di chuyển vác sách ra bưu điện. Bạn có thấy thiếu một chi tiết đáng kể không ? Nhân công ! Vì tất cả tôi làm hết, từ A đến Z, nên không có phí tổn nhân công, tôi chỉ bóc lột chính tôi.

Cái công thức của châu Âu, chuỗi dây chuyền về sách « chaine de livre », thì tác giả của tác phẩm hưởng bản quyền từ 8/10/12 %, phí tổn sản xuất in ấn 15-19%, nhà xuất bản 11-20 %, phân phối phát hành 6-10 %, phí kho, vận chuyển, hóa đơn 11-14 %, tiệm bán sách 25-38 % định nghĩa trên giá bán thực sự của cuốn sách (giá euros), áp dụng cho những tác phẩm mà số lượng nó phải là 5.000 cuốn thì mọi người tham gia chuỗi dây chuyền về sách đều có thể sống được, nhất là tác giả với tác phẩm của mình.

Tháng 4 năm 2020 bộ Văn Hóa của Pháp cho biết những con số thống kê mới nhất của năm 2018-2019:

Số tác phẩm mới xuất hiện trong năm 2019 : 68.171 tựa sách

Số lượng sách trung bình được in cho mỗi tác phẩm năm 2018: 4.732 cuốn

Số sách bán được trong năm 2019: 435 triệu cuốn

Số doanh thu trong việc bán sách 2019: 2.670 triệu euros

Số tiền các nhà xuất bản trả cho tác giả trong năm 2018: 467 triệu euros

Số lượng tác giả (đủ mọi ngành nghề) : 101.600 người

Số lượng người đọc trên 15 tuổi ít nhất một cuốn sách in: 91%

Số người lao động trong ngành in ấn, sán xuất trong năm 2015: 13.310 người

Số người lao động trong lãnh vực thương mại, tiệm sách (2015): 10.240 người

Trong số doanh thu thì tiểu thuyết chiếm 22%, kế đến khoa học xã hội nhân văn 15% và du lịch, đời sống chiếm 13%. Thống kê cũng cho biết 30 tác giả hàng đầu và tác phẩm đã bán được từ ít nhất 171.400 cuốn cho đến 1.573.700 cuốn trong năm 2019. Tác giả nghèo nhất bán được khoảng từ 300 đến 400 cuốn sách trong năm.

Con tằm tôi rút ruột nhả tơ xong rồi, làm được một hạt cát phù sa cho đời rồi, thì kiệt sức và….kiệt quệ. Một người anh lớn đi trước rất thân ái viết cho tôi những lời đậm đà chữ nghĩa làm nguồn an ủi và động viên cho tôi:  » Chờ cho đến lúc những người viết lách như chúng ta sống được bằng ngòi bút chắc phải trăm năm nữa. Mình phải sống bằng kinh tế thị trường, còn viết lách thì giống như …, vì có lãi xu nào đâu?  Đối với những người có cái nghiệp thì viết là để trả, để làm công quả, và tồn tại, j’écris donc je suis, nói triết lý cho vui. Viết còn là một sự giải trình, không viết thì không biết đi về đâu. Nếu có ai đọc và chia sẻ thì đó là một “món lợi tinh thần“ và một niềm vui. Nhưng cũng có lúc buồn khi người ta đi trên đường “thấy chân lý mà hững hờ”, nói như nhà thơ Thụy Điển Stromer. Nhưng kệ, phải tiếp tục viết nhé. Nói vui thôi. Em nhớ, viết cuối cùng cũng là hạnh phúc. Tiền em không thể mang theo khi ra đi, nhưng chữ nghĩa thì có, vì đó là tài sản của em. Đó là phần lãi vô hình của em, và cũng là phần an ủi. Có thể cũng là vài hạt phù sa cho đất nước này. » .

Chồng tôi xuống hầm, moi mấy chai rượu cũ mèm, 40 năm cũng có, đem lên ăn mừng thêm một chiến bại kinh tế với tôi khi cuốn sách mới đã ra lò, lại thêm một lần lỗ vốn, thất bại là mẹ thành công mà lị. Nếu không có chồng tôi chống lưng từ hai mươi năm nay thì tôi đã ngủm củ tỉ từ lâu, và lại còn được bạn bè chung thủy cho là hào phóng, vinh dự thay. Phần xác thì anh đã lo chu toàn đầy đủ. Chồng tôi là nhất đời ! MTT

Lòng Mẹ và Ngày của Mẹ

9. mai 2021

Lòng Mẹ và Ngày của Mẹ – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Một trong những bản nhạc tôi mang theo trong ký ức lúc rời xa quê hương là bài hát Lòng Mẹ của nhạc sĩ Y Vân, cùng với bài hát Làng Tôi và bài dân ca Bèo dạt mây trôi….Bản nhạc Lòng Mẹ này tôi có dịp thâu thanh năm 1984, lúc tôi mang thai đứa con gái sau cùng, với hòa âm theo phong cách Pháp và tay đàn ghi ta của nhạc sĩ Phan Trat Quan (cha Việt mẹ Pháp), vì thế tôi hát « thẳng » không luyến láy.

Những bà mẹ Gio Linh, những bà mẹ Bàn Cờ, những bà mẹ đội bom đạn, những bà mẹ súng thù dí vào thái dương, những bà mẹ chất độc da cam, những bà mẹ gánh gồng buôn thúng bán bưng….đằng sau một một người đàn ông hay một người đàn bà hy sinh xương máu là có một người mẹ khóc con trong âm thầm lặng lẽ, thậm chí mẹ khóc nhiều lần cạn cả nước mắt…Đó là hình ảnh những bà mẹ tôi đem theo trong hành trang khi tôi ra đi, đất nước còn chìm đắm trong chiến tranh…

Năm tháng qua đi, tuổi già chồng chất. Ngày xưa mẹ hay nói, khi nào con có con thì con sẽ hiểu….Đúng như thế, khi đứa con gái trở thành một người mẹ, thời gian mang bầu chín tháng mười ngày rồi sinh nở trong đau đớn cùng với niềm vui chào đón đứa con mới ra đời, gái hay trai gì cũng quý, miễn là nó khỏe mạnh, bình thường là mừng lắm rồi, đi vào con đường đầy chông gai của mẹ mình đã đi qua…, đó chỉ là mới bắt đầu…Cứ thế, thế hệ này nối tiếp thế hệ kia…những hy sinh, những thiệt thòi từng giờ từng ngày từng tháng từng năm của những người mẹ trên khắp thể giới vẫn chỉ là thầm lặng của bản thân để cho sự sống lên mầm ra hoa kết trái. Nói sao cho đủ, viết sao cho hết. Tôi không giận những người đàn ông chỉ biết vinh danh giới mình, chỉ nói về anh em mình, dẫm đạp lên một nửa thế giới, một nửa loài người, vì may mắn thay còn có những người đàn ông biết nghĩ khác. Sáng nay, chồng tôi nói, ngày nào mà trái đất chỉ còn có một người đàn ông và một người đàn bà là còn sự sống, y hệt như Adam và Eve trong Kinh Thánh xa xưa…

Hôm nay, một ngày xuân nắng ấm rất đẹp trên đất Pháp, sau giờ trưa, chồng tôi hái ngoài vườn cho tôi vài nhánh hoa Flieder mầu tím thẫm vừa mới nở,…tôi mở máy nghe lại bài hát Lòng Mẹ, bài hát để tạ ơn mẹ của tôi, sau gần 40 năm với bụi thời gian. Đứa con gái ngày xưa nay đã lên lão, tháng năm này đã bước vào tuổi 70, mẹ ơi. Tôi vẫn nhớ về mẹ, về ba với tất cả tình yêu thương trong sáng của tuổi 18 ngày nào. Không phải chỉ riêng trong Ngày của Mẹ ở Đức hay ở Pháp. MTT

Sách mới: Vua Duy Tân, Prince d’Annam Vinh San. Duyên nghiệp 29 năm lưu đày, 1916-1945, trên đảo La Réunion. ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

9. avril 2021

Ngày phát hành chính thức: 20.04.2021

Đặt sách : info@mttuyet.com

Sách mới: Vua Duy Tân, Prince d’ Annam Vinh San. Duyên nghiệp 29 năm lưu đày, 1916-1945, trên đảo La Réunion. ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Về vua Duy Tân, các tác giả tiền bối đã viết nhiều, nhất là giai đoạn trước năm 1916, trước khi vua Duy Tân lên đường đi đày. Các cụ có nhiều lợi thế, vì biết chữ Hán và gửi người ở Pháp, sang Pháp lục lọi trong văn khố, tìm tư liệu rồi dịch ra tiếng Việt, công ấy nhiều lắm. Tôi chỉ có cái lợi thế là tôi thuộc lớp đàn em, lại sống ở Pháp, biết cảnh biết người, đặt những điều mình viết vào hoàn cảnh sống thực tế. Con tôi cũng hỏi, tại sao tôi lại quan tâm đến một ông vua trong quá khứ. Có điều gì đó thôi thúc tôi viết về vua Duy Tân, ngoài những yêu cầu của một vài báo chí trong nước. Sức không đóng góp được kiến thức về khoa học kỹ thuật cho đời, tôi mạo muội viết một cuốn sách theo tinh thần Nguyễn Du « Mua vui cũng được một vài trống canh » để truyền đạt đến độc giả những gì tôi biết về vua Duy Tân, hầu lấp một vài chỗ trống trong cuộc đời ngoại lệ một vị vua triều Nguyễn. Người ta hay nói, phụ nữ hay thiên về tình cảm, tay viết của tôi cũng không thoát khỏi định kiến ấy, sự phán xét cuối cùng tất nhiên là quyền của độc giả.

Kẻ thù và bè bạn

Đặt vua Duy Tân vào vị trí của nhà vua khi đi đày ở vào năm 1916, đầu thế kỷ thứ 20, vào một môi trường hoàn toàn xa lạ, tiếp xúc với người dân bản xứ ! Triều đình nhà Nguyễn đã giáng vua Duy Tân xuống trở lại làm hoàng tử Vĩnh San khi truất phế vua, và nhà vua lên đường đi đày với cái tên: Prince d´Annam Vinh San. Có cơm có canh mà ăn không ? Mối duyên nợ với bà vợ trẻ, tiểu thư con quan, không yêu mà mới cưới có mấy tháng tan vỡ nhanh chóng như bọt xà bông. Rồi bà công chúa Vinh San ấy về Huế, cô gái 17 tuổi đó lên tàu một mình trở về. Duy Tân, 16 tuổi, ở lại một mình, không bao giờ gặp lại. Đang yên ấm trong tháp ngà với kẻ hầu người hạ, chàng thiếu niên 17 tuổi ấy bỗng dưng tất cả phải làm một mình, để sống trong một xã hội thu nhỏ hoàn toàn xa lạ với mình, với tiếng thổ ngữ của người nô lệ créole. Trải nghiệm đó cũng là một nhức nhối, cay đắng trong đời nhà vua, đồng thời có những hậu quả sau này. Các con của vua Duy Tân đều phải mang họ mẹ, vua Duy Tân không được lập hôn thú chính thức với một người phụ nữ nào khác vì bà Mai Thị Vàng chống đối lại yêu cầu ly dị của nhà vua. Mãi đến khi vua Duy Tân tử nạn thì các con mới được phép đổi tên mang họ cha. Nhưng vì không thông hiểu cách đặt tên cầu kỳ của nhà Nguyễn, vua Duy Tân có 4 tên, nên các con vua Duy Tân mang tên húy của vua làm họ: Vinh San, gây ra không ít rắc rối.

Điều làm cho nhà vua, sau một thời gian ở đảo ý thức ra là sự đi đày của mình vô hạn định, tới chết mới kết thúc. Bản án đày ải của triều đình nhà Nguyễn và chính quyền thực dân thuộc địa dành cho hai vua Thành Thái-Duy Tân dần dần bộc lộ sự dã man thâm trần của nó: không một người thân được đi từ Huế sang đảo, không một người thân được từ đảo trở về Huế. Ý thức này làm cho nhà vua vùng lên, xông tả xông hữu, tìm mọi cách để chấm dứt cảnh đi đày cho mình và cho gia đình mình. Xin lấy vợ bản xứ người Pháp, xin nhập quốc tịch Pháp, xin về ở Paris…tất cả những cái „xin“ ấy đều bị bác bỏ, Đời sống nhà vua trên đảo tiếp tục bị theo dõi, lập hồ sơ.

Kẻ thù của vua Duy Tân là ai ?

Cái triều đình An Nam xênh xang áo mũ là một. Những ông quan đại thần chỉ lo cho vinh quang phú quý của chính mình. Cái hội đồng hoàng tộc ở Huế là hai. Tị nạnh, ghen ghét, không ưa gì hai cha con Thành Thái-Duy Tân, sợ vua làm quá thì liên lụy đến cả nhà. Cái chính phủ bảo hộ thuộc địa Pháp là ba, muốn giữ uy quyền và quyền lợi của giới tư bản đang khai thác các mỏ khoáng sản, các đồn điền cao su, trà, cà phê…, các vận chuyển hàng hóa xuất nhập như tơ lụa, gia vị, gỗ quý, trầm hương…tấp nập. Cái bộ Thuộc địa ở Paris nhiều uy quyền là bốn. Cái „phòng nhì“, cơ quan an ninh và tình báo Pháp, nguy hiểm là năm.

Năm kẻ thù nặng kí đè lên số phận đơn thân độc mã của Duy Tân, một „ông vua nhõng nhẽo“ theo lời quan toàn quyền Pháp.

Bộ máy hành chánh đô hộ thuộc địa chỉ hoạt động được khi nó đàn áp, kiểm soát, đè nén các dân tộc bị đô hộ. Các quan thuộc địa, toàn quyền, khâm sứ…đúng là có toàn quyền để đặt những ông vua bù nhìn và một hệ thống cai trị bản xứ làm tấm bình phong để mà cai trị cho dễ dàng. Trong mắt thần dân, những ông vua bị đi đày biệt xứ là những ông vua yêu nước.“

Rồi đến Phan Bội Châu, Trần Cao Vân và Thái Phiên, những chí sĩ anh hùng chống Pháp của lịch sử Việt Nam cũng đẩy vua Duy Tân vào thế kẹt. Không phải là nhà vua không yêu nước. Nhưng chính vì điểm này mà nhà vua tự trói mình nộp mạng, một thiếu niên đang lớn, bị kích động bởi tự ái và danh dự, mặc dù nhà vua đã lượng trước được là mình đang đối mặt với cái chết và thất bại vì lưới của „phòng nhì“ giăng mắc khắp nơi. Tôn Quang Phiệt đã nhận định về cụ Phan Bội Châu:

… Con đường cụ đi là con đường cách mạng, chứ không phải là con đường cải lương, mà đã làm cách mạng thì phải dùng gươm súng diệt kẻ địch, nên người nào còn cầm gươm súng đánh giặc thì cụ còn coi là đồng minh của mình 1, …lập đảng bảo hoàng không đi đến kết quả, cụ chuyển sang chủ nghĩa dân chủ….»2

Và tác giả nhận định:

….Như thế, chẳng qua Phan Bội Châu sử dụng về mặt chính trị vua Duy Tân cũng như một lá bài đồng minh trong một giai đoạn nhất thời. Vua Duy Tân đã thiếu sáng suốt ở điểm này, cuộc khởi nghĩa Thái Phiên và Trần Cao Vân chỉ mời và đưa vua Duy Tân ra làm tấm bình phong, thực sự các ông không còn bảo hoàng nữa, không còn tôn vua, hy sinh vì vua và muốn cứu nền quân chủ nữa, mà đã chuyển hướng tư duy sang một chế độ dân chủ mới mẻ hơn, xa lạ hơn. Mà vua Duy Tân niên thiếu lại thấy mình có bổn phận, trách nhiệm với tiền nhân, muốn đòi uy quyền thực sự làm vua của một nước, không làm bù nhìn, thương yêu đồng bào của mình và không muốn mang tiếng là hèn nhát. Hai bên, vào thời điểm ấy, đồng thuyền nhưng thật ra không đồng mục đích, hiểu lầm tình thế và thời thế, để cùng đi đến thất bại…..“

Vua Duy Tân đã thực lòng hy sinh hạnh phúc riêng, mối tình giữa nhà vua và tiểu thư Hồ Thị Chỉ vì công việc. Lại còn cay đắng hơn, khi biết người mình yêu phải làm vợ vua Khải Định.

Còn những người bạn của vua Duy Tân là ai ? Khi ra đi và đến đảo, nhà vua không có lấy một người bạn. Thủ thế, ít nói và e ngại tất cả. Đó là tâm trạng đầu tiên của vua Duy Tân, nhìn đâu cũng sợ người ta hại mình. Duy Tân sống đơn độc khá lâu. Dần dà Duy Tân có những người bạn cùng trang lứa, làm quen và yêu những cô gái ở đảo. Hãy nghe một người bạn thân trên đảo La Réunion tả tính cách của Duy Tân:

….Với một người đối diện mà ông không quen biết, ông rất kín đáo trong lời nói, nhưng khi ông gặp gỡ bè bạn, thì ông lại là người bạn đồng hành dễ chịu hơn hết cả, ông trở nên vui vẻ hồn nhiên, dễ chịu, hóm hỉnh, vui vẻ cười một câu chuyện cười hay, một cách chơi chữ hài hước hay một trò đùa, ông đã rời khỏi mọi sự ràng buộc, và nếu trong một cuộc trao đổi nghiêm trang, ngôn ngữ của ông vẫn trau chuốt, ngược lại, trong vòng thân mật, ông trút bầu tâm sự một cách tự do, nói chuyện với một sự sỗ sàng nhất định, sử dụng từ ngữ lóng hay tiếng bản xứ, đôi khi tống ra những từ ngữ phẩm chất chính xác và rất rõ ràng, hay đôi khi ông có những phản ảnh rất hài hước (vì ông rất thông minh và rất dí dỏm), nhưng không bao giờ rơi vào sự thô lỗ hay thậm chí dung tục và càng ít hơn nữa là một sự độc ác, luôn luôn tránh làm phật ý hay xúc phạm ai, chạy trốn lời vu khống hay ác khẩu, nhưng luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ và làm vui lòng….”

Và một mái ấm gia đình với bà Fernande Antier, nơi vua Duy Tân tìm sự an ủi và tình yêu thương của các con. Những mất mát vì đói kém, bệnh tật, bão biển, thiếu thuốc men vua Duy Tân cũng đã trải qua bằng sự qua đời quá sớm của bốn người con lần lượt. Vua Duy Tân không hề than van về nỗi đau khổ ấy của một bậc cha mẹ. Người con gái lớn nhất là Suzy và cũng là duy nhất trong lúc vua Duy Tân còn sinh thời được vua đặc biệt yêu thương. Có thể nói, vua Duy Tân là một người cha lý tưởng, nghiêm nghị nhưng giầu tình thương, lo lắng, săn sóc con cái, để ý cả đến những cái “mốt” ăn mặc cho phụ nữ, thậm chí lấy làm tiếc là lương tháng trong quân đội của ông không đủ để mua một cái sắc đầm làm quà cho con gái. Những chi tiết rất thực với đời thường này, làm cho người đọc gần gũi với một vì vua nhà Nguyễn hơn hết cả. Hãy nghe Claude Vĩnh San, con thứ của vua Duy Tân tả khung cảnh sống thường ngày trong gia đình:

… Mẹ tôi cũng như tất cả phụ nữ khác trên đảo, rất yêu mến những khoảng không gian có hoa. Phía trái, gần nhà để xe, mẹ tôi trồng cây thành bục những cây dương xỉ, cây đuôi chồn. Ngay cả dưới mái hiên rộng mở phía trước nhà, là một kiến trúc điển hình của nhà ở đảo, bên cạnh những cái ghế dựa bằng mây, ngự trị trên những cái bàn nhỏ cao là những cây xanh, cây khoai môn và cây đuôi chồn. Tất cả những thứ ấy tạo ra không gian tươi tắn và làm cho căn nhà dễ chịu hơn lên. Trong khoản sân sau, cha tôi cho dựng nên một cái chuồng chim lớn, cũng là nơi nuôi gà, vịt. Còn nhỏ chúng tôi vào cả bên trong chuồng để chơi đùa. Tôi còn nhớ những con rùa đất, chúng dạo chơi trong sân, và các anh em tôi nghịch bắt chúng bỏ vào một cái bồn đựng đầy nước, mà chúng tôi thường tắm trong đó. Ngôi nhà nhỏ thường bị đánh thức dậy từ sáng sớm bởi những tiếng sủa không đúng lúc của Friquette, một con chó bẹc giê đức, giống chó mà cha tôi rất yêu thích… „

Bạn của ông cũng là người cùng chiến đấu trong kháng chiến chống Đức quốc xã với ông. Ông là người đến với quân đội kháng chiến Pháp một cách vô tư, và họ làm chứng cho sự dấn thân của ông:

Trên đảo La Réunion, ngày 18.06.1940, khi hoàng tử Vinh San nghe từ đài BBC giọng nói của một vị tướng đọc lời kêu gọi qua làn sóng điện, câu nói : « Ngọn lửa kháng chiến Pháp không thế dập tắt và sẽ không bao giờ tắt… » đã chạm vào trái tim ông, và ông kêu lên : De Gaulle ? ? Tôi đã nghe cái tên này ở đâu đó…Nhưng bất kể ! Dù cho người ấy có què một chân, phải đi theo ông ấy ! »

Georges Vĩnh San, con trai trưởng của vua Duy Tân, đã bình luận cái quyết định theo kháng chiến Pháp chống lại Đức-Nhật-Ý trong Đại chiến thế giới lần thứ hai như sau:

…Tôi nghĩ rằng, trong suy luận của cha tôi, tướng De Gaulle phải đi vào kháng chiến chống quân Đức quốc xã đang chiếm đóng nước Pháp, cũng như Ngài phải đi vào kháng chiến chống chính quyền thực dân Pháp bảo hộ tại Việt Nam, thì cả hai đều cùng có một chí hướng yêu nước như nhau….“

Hoàng tử Vinh San không ngại sức khỏe, thức đêm ngủ ngày, để „vào trận“ mà không ai bắt buộc ông phải làm. Một người bạn chiến đấu ghi lại:

….Chúng tôi cảm thấy sự theo dõi của cảnh sát trở nên thực sự chặt chẽ, nhất là đối với tôi, với người mật thám gần nhà để xe. Vậy thì đi đâu ? Cả hai chúng tôi đều không muốn đầu hàng bằng cách khóa miệng máy truyền tin của chúng tôi.

Vinh San nghĩ đến cái nghĩa địa ở phía Đông, hướng ra biển. Chúng tôi có thể truyền tin từ một cái huyệt trống. Ý tưởng này tốt. Ban đêm, quả thật, người ta tránh đi thăm nghĩa địa vì mê tín dị đoan hay niềm tin. Chúng tôi suy nghĩ một thời gian về khả năng này. Nhưng chúng tôi phải từ bỏ nó, vì cách nghĩa địa des Volontaires, Salaune đã đặt một gác canh. Và ba cái cổng của nghĩa địa phía Đông đều đóng cổng từ lúc 6 giờ tối bởi người gác nghĩa địa ở ngay phía trước. Nếu muốn xâm nhập, thì phải leo tường cao hơn 2 thước tây. Vào nghĩa địa bằng hướng biển ? Chúng tôi không thể vì gác canh, và hơn nữa, bãi đá thì quá dài từ nhà ga cho đến nghĩa địa. Chúng tôi tìm một giải pháp khác…..“

(Salaune là tên một nhân vật của chính quyền đảo theo Pétain)

Và hoàng tử Vinh San đã đem khả năng truyền tin vô tuyến điện của mình để giúp con tàu Le Léopard đến tiếp thu đảo La Réunion. Sự kiện này khiến hoàng tử Vinh San bị bắt giam ngay lập tức bởi chính quyền theo phe Pétain của đảo, lệnh được ký bởi thống đốc Pierre Aubert, người sau này còn có khả năng và điều kiện để hại hoàng tử. Lòng yêu khoa học kỹ thuật, mơ ước những nhà máy mọc lên trên quê hương, mơ ước sự phát triển của một thành phần nông dân tay cầy tay cuốc trở thành những công nhân xây dựng tổ quốc….và khả năng nhìn thằng vào thực tế làm cho vua Duy Tân có một tầm nhìn khác hằn những vị vua khác của nhà Nguyễn.

„….Nếu hoàng tử Vinh San không nản chí phấn đấu tìm kiếm một lối ra cho mình, nếu hoàng tử chìm đắm trong tuyệt vọng như đã thổ lộ với em là Vĩnh Chương trong một lá thư gửi từ Rottweil bên Đức vào tháng 9 năm 1945, hoàng tử Vinh San còn nêu lên hoàn cảnh sống khó khăn của mình : « Em biết không, trong những năm sau cùng gần đây, anh không thể làm được việc gì cho em, tại vì những ý nghĩ về cái chết của anh mà anh bắt buộc phải làm việc cho những đứa con anh…. » ?

Sự bền bỉ và tấm lòng trong sạch của vua Duy Tân

Viết về vua Duy Tân tôi thấy nổi bật lên hai đức tính: bền bỉ, nhẫn nại, chịu đựng và dù nghèo nhưng không tham vật chất, tiền bạc. Điều rất đáng ngạc nhiên, vì đã là „vua“ thật sự, đã sống trong một khung cảnh hoàng tráng, kẻ hầu người hạ, không hề lo nghĩ đến chuyện cơm áo gạo tiền cho bản thân, „sướng như vua“ chẳng đã là một câu nói thông dụng trong tiếng Việt. Thế mà, trong điều kiện sống với con người, với những đe dọa của thiên nhiên như bệnh tật, bảo biển, thiếu ăn thiếu mặc và những đe dọa từ chính quyền thực dân cai trị đảo, hoàng tử Vinh San đã làm tất cả để kiếm tiền nuôi con: làm nài ngựa ở trường đua, biểu diễn nhạc, sửa chữa máy radio, máy chiếu phim…, làm đồ chơi bằng gỗ, đi câu cá để cải thiện bữa ăn….và dạy con, phải sống bằng chính năng lực của mình.

Không tham tiền, hoàng tử Vinh San đã đánh bật sự chào đón của đám tình báo Anh quốc với 30 triệu quan Pháp để vua Duy Tân từ bỏ ý định trở về quê hương, mà đó lại là hoài bão duy nhất của nhà vua. Vua Duy Tân có phải là lá bài của De Gaulle hay không ? Gia nhập kháng chiến Pháp, theo De Gaulle, hoàng tử Vinh San, một người, là vua của một nước, đã từng đeo Bắc đẩu bội tinh hạng 4 của Pháp, mà chấp nhận nhập ngũ với hạng „binh nhì“ truyền tin. Tướng Lelong vì thăng chức cho hoàng tử lên „chuẩn úy dự bị“ mà bị bộ Thuộc địa Paris khiển trách nặng nề vì tội „lạm dụng chức vụ“ và hăm họa lột lon tướng của ông. Hãy đọc một đoạn mà người đọc cảm thấy xót xa cho thể trạng sức khỏe của nhà vua:

Đến khi xảy ra vụ 1.500 lính Đông Dương ở Cap de Moramanga, cách Tananarive khoảng 100 cây số, nổi loạn, từ chối không chịu phục vụ ai hết dù Anh, dù Pháp, dù theo Pétain hay theo De Gaulle, tướng Lelong nảy ra ý đem hoàng tử Vinh San đi thuyết phục đám lính nổi loạn. Nhưng các sĩ quan đều phá ra cười khi trông thấy một anh hạ sĩ, mảnh khảnh, đầu đội một cái kê pi to quá khổ mà chỉ có hai cái tai nhô ra để giữ lấy nó không rớt xuống vai, mặc bộ quần áo kaki cũng to quá khổ, đôi giầy nhà binh cũng to quá khổ, lại đeo một cái túi dết chéo ngang qua, thật là một người lính quèn, không thể trình diện hoàng tử, cựu hoàng của những người lính già, những hạ sĩ quan Đông Dương như thế được. Tướng Lelong phải phong cho hoàng tử lên chức « aspirant », chuẩn úy tập sự, ngay lập tức, nhưng sau đó ông bị khiển trách nặng nề bởi bộ Thuộc địa vì « lạm dụng » chức vụ và hăm dọa sẽ lột lon ông ! Chuẩn úy Vinh San được một bộ quân phục vừa vặn hơn, đàng hoàng hơn, và ông thuyết phục với tài ăn nói rất điêu luyện được mọi người cảm mến tuân theo lệnh và cầm lại vũ khí vào hàng ngũ.“

Tướng De Gaulle sau đó ký sắc lệnh liên tiếp để thăng trật cho hoàng tử Vinh San, bậc sau cùng trước khi hoàng tử Vinh San tử nạn là cấp bậc thiếu tá chỉ huy.

Một cựu thượng sĩ tên là Lê Duy Lương, thông ngôn cho tiểu đoàn lính thợ O.N.S (không chuyên môn) ở Madagascar, kể lại:

Trong buổi gặp gỡ đầu tiên với Cựu hoàng, tôi có hỏi Ngài như sau: Tại sao Ngài không lập một chính phủ lâm thời để hoạt động cho danh nghĩa Việt Nam ? Ngài đáp: „ Chúng ta không có một tấc sắt trong tay, một đồng tiền trong túi. Trong hoàn cảnh này, chúng ta phải nhờ cậy nước Pháp trước đã. Về phần tôi, tôi không muốn trở lại ngôi báu mà chỉ muốn làm một chiến sĩ mà thôi. Sau này, khi nước nhà đã được giải phóng, đã được độc lập, ai muốn làm vua làm chúa gì, sẽ do quốc dân quyết định bằng bầu cử. “ 3

Người ta thấy lấp lánh thái độ đối xử của một bậc đế vương trong mọi tình huống và dần dần tiến về con đường dân chủ cho đất nước dân tộc. Cuối cùng nhà vua đã đạt được một mục đích của đời mình, với sự trợ giúp của tướng De Gaulle, dù nước Việt vẫn còn trong chế độ bảo hộ thuộc địa Indochine: Pháp phải chấm dứt bản án đi đày biệt xứ vô thời hạn của triều đình An Nam và chính quyền cai trị thuộc địa Đông Dương áp đặt lên cả hai gia đình vua Duy Tân và vua Thành Thái. Và từ năm 1945, cái tên nước Việt Nam được sống lại, không còn bị cấm đoán và chỉ được xử dụng cái tên « Indochine française » nữa.

Và cuộc hội kiến nhiều mong đợi với tướng De Gaulle ngày 14.12.1945 đã đem lại cho vua Duy Tân những gì ? Tất cả mọi kẻ thù của cả hai người đều vểnh tai nghe ngóng. Với một cái quyết định cuối cùng như thế là chuyện tình cờ tai nạn của một chiếc máy bay rơi trên bầu trời Trung Phi ngày 26.12.1945, chỉ mười hai ngày sau cuộc hội kiến. Rồi tướng De Gaulle cũng rời chính quyền ngày 20.01.1946, chưa đầy một tháng sau đó. Cuộc chiến chống Pháp đã bắt đầu và kết thúc bằng trận Điện Biên Phủ năm 1954 và Pháp phải từ bỏ mộng chiếm lại Việt Nam bằng vũ lực, rút hết quân năm 1956, chấm dứt công cuộc viễn chinh đô hộ gần 100 năm.

Là một tản mạn lịch sử, những dòng chữ theo gót chân hoàng tử Vĩnh San đi đày đến đảo 29 năm, sống một cuộc đời „nó làm cho ta đau khổ nhưng không làm cho ta xấu hổ“ rất đúng nghĩa như lời vua Duy Tân nói, nhà vua có niềm vui khi đi vào kháng chiến Pháp chống lại Đức-Nhật-Ý, một cách chống lại sự tiếp quản của quân Nhật trên quê hương, qua đảo Madagascar, đến Paris, đi sang Đức, rồi rớt máy bay ở Cộng hòa Trung Phi, nằm trong lòng đất châu Phi 42 năm sau mới được một mình trở về cố đô Huế an nghỉ ngàn thu…Cái nghiệp của nhà vua quá nặng, nhưng sau vua Tự Đức, vua Duy Tân là vị vua xứng đáng nhất của triều đại nhà Nguyễn. MTT

1Tự phê phán, trang 25

2Tự phê phán, trang 23

3Hồ sơ Duy Tân, Hoàng Trọng Thược

Sách mới: Vua Duy Tân – Prince d´Annam Vinh San, Duyên nghiệp 29 năm lưu đày 1916-1945 trên đảo La Réunion

16. mars 2021

Vua Duy Tân, Prince d´Annam Vinh San – Duyên nghiệp 29 năm lưu đày, 1916-1945, trên đảo La Réunion

Khổ sách A5, 319 trang, tiếng Việt, với 111 hình ảnh

Ngày phát hành: tháng tư năm 2021

ISBN: 978-2-9536096-3-9

Giá 25€

Đặt sách:  info@mttuyet.com

Sách nộp lưu chiểu ở Thư viện Quốc gia Pháp BNF và xuất bản ở Pháp

Từ dạo có mạng Internet dần dà xuất hiện trên truyền thông quốc tế hình ảnh của một vì vua bé con ngập lụt trong bộ mũ áo triều phục lộng lẫy ngày lễ đăng quang của Ngài ở một đất nước xa xôi, ở một thời khắc xa xôi của quá khứ dưới thời Pháp đô hộ để trở về trong trí nhớ và ý thức của nhiều người. Đó là vua Duy Tân trong thời Việt Nam bị Pháp đô hộ.

Vua Duy Tân đăng quang lên ngôi vua lúc 7 tuổi năm 1907, bị truất phế rồi bị Pháp và triều đình An Nam bắt rời khỏi đất nước của Ngài để đi đày ở một hòn đảo chơ vơ giữa biển khơi của Ấn Độ Dương cách Paris 10.000 cây số mang tên La Réunion từ lúc nhà vua mới 16 tuổi, năm 1916.

Hai mươi chín năm sau vào đúng ngày Giáng Sinh 1945 vua Duy Tân, trong bộ quân phục của France-Libre, tử nạn máy bay trên bầu trời Trung Phi trên đường từ Paris về đảo La Réunion thăm gia đình, dự tính trước khi cùng tướng De Gaulle trở về cố hương trễ nhất vào tháng 3 năm 1946.

Để rồi, sau bốn mươi hai năm an nghỉ trên một đất nước Phi châu còn xa lạ hơn nữa, hài cốt vua Duy Tân được bốc lên hồi hương về lại Huế năm 1987. Một mình. Vợ, con lưu lạc ở Pháp và ở đảo La Réunion. Một số phận, một cuộc đời của một vị vua nhà Nguyễn thời cận đại kêu gọi sự tò mò của độc giả và những thế hệ sau.

L´empereur Duy Tan – Prince Vinh San

Le tragique destin de 29 ans d’exil, 1916-1945, sur l´ile de la Réunion

Format A5, 319 pages, texte en Vietnamien, 111 images

ISBN: 978-2-9536096-3-9

Prix 25€

Date de parution : en Avril 2021

Commande : info@mttuyet.com

Depuis longtemps l´image d´un roi-enfant, submergé dans sa robe d’apparat et sa couronne, d´un pays lointain et son passé glorieux, court dans le monde, rappelle les gens curieux de son nom et pose des questions sur la vie et le décès de ce roi: Duy Tan.

Né en 1900 à Hue, fils de l´empereur Thành Thái, couronné empereur à 7 ans, déporté par la France coloniale et par la Cour d´Annam après une révolte avortée, en exil à 16 ans, loin et isolé de son pays, à perpétuité, sur l´île de la Réunion, mourrait dans un accident d´avion à 45 ans. Oublié ensuite 42 ans dans sa tombe à M´Baiki en Afrique Centrale, cet empereur d´Annam, connu depuis sa déportation aussi sous son nom propre de prince : Vinh San, est finalement revenu, seul, sur sa terre natale à Hue en 1987.

Tant de compassion pour la vie d´une personne historique et d´un héros national. Ce livre essaie de tracer sa vie d’exilé sur l´île, sa vie privée, femmes et enfants, son engagement comme résistant, puis soldat de deuxième classe, radio-télégraphiste pour la France-Libre durant la deuxième guerre mondiale, sa sortie d’exil avec l´aide du général De Gaulle, son entretien historique avec le général De Gaulle et sa mort tragique, 14 jours après l´entretien, le 26.12.1945 dans un accident d’avion òu plane un soupçon d’assassinat qui aurait entravé une issue pacifique du conflit indochinois, car gardé longtemps en secret.

Vẽ tranh

3. mars 2021

Triển lãm ở Villers-Cotterêts, cái nôi của ngôn ngữ Pháp hiện đại

Vẽ tranh – Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Nhân cuộc triển lãm ảo, bạn quý thì quan tâm thăm hỏi, gợi cho tôi viết một bài về công việc vẽ tranh. Đó là một „thú tiêu khiển“ khá tốn kém, nếu bạn không sống bằng nghề vẽ tranh.

Cũng còn tùy theo hình thái nghệ thuật: sơn dầu, acrylique, mầu nước, phấn mầu, hay aquarelle, mực tàu, mực dành cho gốm sứ…., và tùy theo vẽ trên gì: giấy bằng coton, bản gỗ, khung căng vải, giấy bản thưởng, gốm sứ ….mà mức độ tốn kém khác nhau. Những nguyên liệu làm bằng thiên nhiên tất nhiên đắt tiền hơn những thứ người ta sản xuất đại trà bằng chất hóa học.

Trước khi vẽ, có người thường thử các hình thái nghệ thuật rồi mới chọn một thứ, có người thì xăm xăm từ đầu biết mình chỉ sử dụng được một, hai loại mà thôi. Tôi là cái đứa tò mò, cái gì cũng thử, má tôi la rầy hoài, cái gì cũng „xía“ vào thì chẳng nên cơm nên cháo gì đâu, một nghề cho giỏi thì mới làm nên sự nghiệp được, cứ coi như cô Bé Ký, chỉ có mực tàu và giấy bản. Má tôi nói thật là đúng, tôi không làm việc gì đến nơi đến chốn, tự trách mình như thế. Trời ơi, có ai có được cái tài thiên phú như Bé Ký, đặt bút xuống là xong ngay một hình vẽ rất đẹp. Tôi nhớ lúc tôi còn nhỏ, cô Bé Ký có khi bán tranh ở đường Lê Lợi, tôi chạy chơi loắng quắng ở phố nhà, ngã tư đầu này là Pasteur/Lê Lợi, đầu kia là Pasteur/Lê Thánh Tôn, một khúc ngắn ngủn là cả một tuổi thơ của tôi, rồi ngồi lê la chồm hổm dưới đường xem tranh của cô không muốn về nhà. Năm 1987 tôi về nhà tìm lại họa sĩ Bé Ký thì bà đã chuyển sang vẽ tranh sơn mài, nhiều bức đẹp bán cả ngàn đô, tôi không có tiền mua, chỉ mua một chục bức mực tàu trên lụa và đặt một tấm tranh mực tàu trên lụa khổ lớn.

Tôi có bà bạn người Pháp, bà cũng chỉ „đụng vô“ aquarelle và bút vẽ, nhưng bà tận dụng nó, biến nó thành nghề nghiệp kiểm tiền. Bà dùng bản vẽ của mình để chụp ảnh vi tính, rồi từ đó bắt ông chồng, một chuyên viên vi tính, sản xuất ra cho bà những sản phẩm như in trên giấy, in trên sành sứ. Bà xây hẳn cái hàng hiên thành xưởng sản xuất: tách, đĩa, thiệp, giấy viết thư…và cái nhà để xe thành chỗ chứa vật dụng. Sau này bà thử nghiệm nhiều lần rồi chuyển sang vẽ tranh acrylique theo yêu cầu của khách hàng. Tôi và cái đấng ông chồng không có can đảm làm như thế chỉ vì mỗi người có ….nhiều sở thích riêng ! Chồng tôi chỉ ham làm những việc nặng như xây nhà, sửa máy xe, lắp ráp xe…cũng toàn là những „thú vui“ tốn kém cả. Anh ấy hì hục suốt mấy năm trời để lắp ráp hoàn chỉnh một chiếc xe jeep của quân đội Pháp, từng con ốc, từng cái bù lon đều mua nguyên bản chính ! Bây giờ, lại thêm một cái máy khác đang chờ đợi được hoàn chỉnh tiếp.

Trở lại chuyện của tôi, thử hết các thứ rồi, tôi mới quyết định chọn cho mình vẽ bằng sơn dầu trên vải. Trước khi vẽ bức tranh đầu tiên, tôi đi mua các thứ. Mua cọ vẽ, vì tôi không thích vẽ bằng „dao vẽ“, thì phải mua nhiều cỡ cọ từ nhỏ tí cho đến to bản, 10 cái không đủ, 20 cái cũng chưa đủ, 30 cái thì vừa đủ…cho đến cả 50 cái cọ ! Mà cọ bằng gì ? Thường là lông heo, cứng…hoặc là lông những con thú khác mềm mại hơn, nhuyễn hơn. Mua mầu, cũng thế. Ở nước ngoài thì kiểu cách pha chế như hồi tôi học ở Việt Nam, pha bột mầu nguyên chất với dầu lin, mất nhiều công sức, chai lọ lỉnh kỉnh, dầu đủ loại, cho nên một thời gian sau, khi đã vẽ hăng, tôi đổi sang mầu ống, đắt tiền hơn nhưng được cái tiện lợi, dễ dàng cho việc sáng tác. Một ống màu nhỏ, tùy theo mầu mà giá cả khác nhau, mầu đỏ làm bằng máu của thú vật là đắt nhất, giá cách đây mấy mươi năm là đã 250 DM một tuýp, các màu xanh là mầu làm từ khoáng sản cũng đắt, mầu tương đối rẻ là mầu làm từ đất, từ nâu đậm đến vàng đất. Nhiều nuances (sắc mầu) được pha sẵn, người vẽ pha, trộn thêm nữa thì đạt được độ tình nhuyễn của mầu sắc cao hơn. Trình độ bảo quản mầu sắc cũng tốt hơn, có hiệu bảo đảm đến hàng trăm năm không đổi mầu, không rạn nứt.

Đến mua khung. Việc này mới khó, vì phải biết cách đóng khung, biết cách căng vải. Khung, căng không đúng cách thì ôi thôi, mỗi góc một cường độ căng khác nhau, cái khung bằng gỗ cứ „vênh“ lên, tháo ra tháo vào mãi mà nó cứ vênh ra, hay chùng lùng bùng ! Tôi tìm ra một ông họa sĩ khó tính, kiêu ngạo nhưng thất thời, lối vẽ tranh của ông không được ưa chuộng, ông bán tranh không được, bèn xoay sang bán vật liệu vẽ tranh kiếm sống. Khung tranh của ông thì tuyệt hảo, các cây gỗ thẳng, không cong, đóng thành khung, vải bố căng lên, vì ông có sức mạnh để kéo vải, đều và phẳng căng. Tôi mê cái cửa hàng nho nhỏ của ông, nhưng đầy ắp vật liệu vẽ tranh lên đến nóc, cứ hai ba ngày tôi lại mò đến đem tiền để dành đến nộp cho ông để đổi lấy mầu, lấy cọ, lấy khung vải….Một cái khung vải theo khổ tôi muốn vẽ, khoảng 50×70 cm giá tròm trèm 100 DM, to hơn thì đắt hơn…

Có khung vải thì phải đặt nó lên cái….giá vẽ. Tôi đi vác về một cái giá vẽ bằng xe Straßenbahn, khỏi phải nói là sức ẻo lả như tôi là phải cố gắng lắm mới vác được nó về nhà, Cái giá bằng gỗ tốn của tôi hết 250 DM, bây giờ là 250 oi rô ! Tôi phải mua hai cái giá để vẽ tranh và để chờ tranh khô. Tôi phải nhịn không lái xe nữa, đi bộ đi làm, để tiền dành cho xăng dầu, sửa chữa, thay bánh xe…làm tiền mua cọ, mua mầu….

Còn về nội dung của tranh ? Mình vẽ đại, muốn ra cái gì thì ra, hay là theo trường phái hội họa đã có: cổ điển, lãng mạn, trừu tượng, hiện thực, siêu hiện thực, ngây thơ…? Thực ra, trong mỗi họa sĩ đều có tiềm ẩn một tài năng, một bản tính nhất định, cây cọ cũng như cây bút có đặc tính riêng tư duy nhất, không thể có người thứ hai (trừ những kẻ giả mạo). Bức tranh cũng như văn vần, le style c’est moi, không ai bắt chước được ai hết. Xem tranh biết người. Những nhà tâm lý học, những nhà nghiên cứu nghệ thuật, lịch sử nghệ thuật…đều có thể viết tràng giang đại hải về một Dali, Magritte, Picasso, Modigliani, Tamara Lempicka, Edward Hopper …..Họa sĩ thì có nhiều như cỏ mùa thu, nhưng họa sĩ nổi tiếng có một trường phái riêng biệt như Van Gogh thì rất hiếm. Nhưng rất thương cảm ông, cả đời ông không bán được bức tranh nào, chết trong nghèo túng và tuyệt vọng. Theo bạn, hãy bình tranh của tôi xem nào nhé, tôi cũng chẳng bán được một bức nào cả ?! Dạo tôi làm ở cơ quan trung ương bảo tàng viện của một thành phố, thấy những cuốn sách to bản, nặng chình chịch hàng mấy kí lô, viết về những bức tranh, đọc không hết chữ.

Tranh vẽ thì phải có chỗ chứa, chỗ treo, dần dà cái phòng tôi chật cứng lại, tôi lại thích vẽ tranh quá khổ, cái nào cũng to cồng kềnh, khó kiếm chỗ cất, chỗ treo. Mỗi lần phải chuyên chở tranh đi đâu là tôi phải thuê xe tải nhỏ để chở. Đã có người hỏi mua, nhưng khi ấy tôi lại không muốn bán tranh của mình, thấy như là đứt từng khúc ruột. Tranh vẽ để bán là loại tranh mà người vẽ hoàn hoàn không có cảm xúc vào trong tranh, chỉ có cái thỏa mãn là mình đã hoàn thành xong một bức tranh và có người mua. Ở trong nước, những người thợ vẽ chuyên nghiệp tại những cửa hàng bán tranh thường hay cho in một tấm hình chụp trên vải rồi vẽ (hoặc tô mầu) chồng lên trên, hoặc chép theo y bản chính lại, khách đặt mua kiểu gì cũng có. Tranh chợ thì lại bán chạy như tôm tươi.

Có một dạo tôi mê mải vẽ trên gốm sứ, nhà lại đầy gạch, bát, đĩa, tách…Xong giai đoạn gốm sứ, tôi lại đam mê thêu tranh….đến nỗi ngón tay cầm kim bị cong queo, thì tôi phải dừng lại. Hễ ngoài trời nắng ấm trong xanh, thì tôi ru rú ở trong nhà vẽ vời đủ cách đủ kiểu vì ánh sáng tự nhiên là ánh sáng cần thiết và tốt nhất cho việc vẽ, các họa sĩ chuyên nghiệp thường có những xưởng vẽ cao, rộng với ánh sáng ban ngày.

Trong một bữa ăn thân mật nhưng khá hoành tráng ở nhà một anh chị bạn quý, tôi được xếp ngồi cạnh nữ nghệ sĩ điện ảnh Trà Giang, lúc đó đầu óc còn lơ mơ màng màng vì vửa mới qua cơn đột quỵ, tôi không biết là mình được cận kề với một nữ họa sĩ tăm tiếng, đến nỗi mấy năm sau mới hiểu ra là mình đã lỡ duyên tương ngộ, tiếc ơi là tiếc. MTT

Dạy trẻ con lớp mẫu giáo làm quen với mầu sắc và vẽ ở Pháp

Học trò Pháp ngoan kinh khủng ! Các em học cách phân biệt khung tranh.

Dạy vẽ trên gốm sứ ở lễ hội làng ở Pháp

Triển lãm ảo: Tranh sơn dầu – Kỳ 4

28. février 2021
Triển lãm ảo: Tranh sơn dầu – Kỳ 4

 

Alte Ansicht von St Alban im Frühling – Cảnh cũ nhà thờ St Alban khi xuân về tranh sơn dâù trên vải, huile sur toile, Öl auf Leinwand, 140 x 110 cm

Dr. Richard Kreidler, Museumsdienst Köln (Tiến sĩ Richard Kreidler, Cơ quan phục vụ Bảo Tàng Viện Köln):

Những lâu đài hoa nở rộ lộng lẫy, lưng lửng trên không, chân dung, cảnh vật „ một căn phòng trong một giấc mơ „ – bên cạnh đó là một bức tranh rất chi tiết vẽ cảnh điêu tàn đổ nát của nhà thờ Saint Alban trong khu vực Gürzernich với công trường khảo cổ và cũng là khu vực xây cất một bảo tàng viện mới để chứa đựng trường phái tranh cổ điển của thành phố Köln trong tương lai: Nội  dung của tranh Tuyết Trần có mục đích gì trong một hình thức vừa thôi thúc vừa có tính chất xa cách ?

Không phải một cách vẽ phóng túng cực độ và bất chợt mà hiện nay đang được xử dụng đến độ dư thừa, mà là một sự làm việc cống hiến đến nỗi quá độ các đề tài vẽ đã tạo ra sự hiện hữu của hai thái cực trong các bức tranh.

Diễn dải qua sự hình thành các tranh, hai thái cực hiện hữu này đã kích thích sự tăng trưởng sống động qua phong cách nghệ thuật hóa đối tượng, con người và hoa như là sành sứ, như đã sửa soạn sẵn sàng để lên sân khấu, hay là được tạo bằng tơ lụa trước mắt chúng ta, được bảo quản, hấp dẫn nhưng xa cách.

Với những kỹ thuật vẽ theo lối Á Châu, được toàn hảo bởi sức hấp dẫn của thế giới hiện đại trong tranh, Tuyết Trần đã khêu gợi cho người xem một tầm nhìn gần như hiện thực ảnh các đối tượng vẽ.

Cùng một lúc, cách nhìn riêng tư và những kinh nghiệm tâm trí đã in dấu ấn quan trọng trong sự thành hình tác phẩm, cho dù đó là một sự hiện hữu đơn giản của một đề tài trong khung cảnh sống cá nhân hay là trên đường đi: một cảnh vật, hoa bán trong tiệm hoa, hay là bông dâm bụt trên sân nhà. Qua tranh, những hồi tưởng đầy mâu thuẫn và những đánh giá các hiện vật tiểu sử cá nhân được thể hiện. Vì thế một loạt quang phổ về hoa hồng đã được mở ra qua sự thể hiện bằng mầu sắc và đường nét trên những khung cảnh và hậu trường lạ lẫm.

Theo dõi sự chuyển động của những cánh hoa người xem chìm đắm trong một biểu tượng tối cao của cây cỏ „ bởi vì trong không gian đóa hoa hồng không tên của nàng đã làm tan biết khẩu vị cay đắng của hoa cà „ ( trích R.M. Rilke ). Những đóa hoa vĩ đại, gần như làm nghẹt thở, vừa trang điểm không gian vừa nuốt chửng người xem: Mất Mát và Chiếm Đoạt trong tính chất „ hoa đã được hái „.

Cũng cùng trạng thái hư ảo này Tuyết Trần đã diễn đạt những cảnh vườn hoa và nhìn ra biển, mà trong đó con mắt người xem bấu víu vào mọi chi tiết, để giữ cái Gần, trong khi chiều sâu và tầm xa của tranh làm cho bối rối.

Các cấu trúc căn bản một sự không tưởng cuối cùng, được diễn tả qua những mảnh vải hay một nền hoa văn náo động, cũng đã hiện rõ nét qua những phần chân dung rọi sáng lóa. Ngay cả trong chân dung Mẹ và Con cũng rõ nét một tình cảm nối kết mâu thuẫn. Trẻ con trở thành một dấu hỏi, khi chúng không còn đẹp đẽ-hài lòng như bức chân dung hai đứa trẻ con ngồi yên lặng song đôi trên một bực thang.

Với phong thái vẽ rất chi tiết và toàn mỹ hóa sự hiện hữu Tuyết Trần không hề làm giảm cái giá trị quen thuộc của Hiện Thực trong phương hướng về nhãn quan cũng như về tâm hồn của người xem tranh.  Những tấm bảng đường méo mó vẹo vọ, những hố đào khảo cổ đầy cỏ dại, những tấm bảng gỗ bị gió bão vặn vẹo của một hệ thống chỉ đường, lẽ ra là chỉ đúng hướng – một tình trạng quen thuộc trong nhiều năm giữa lòng thành phố– minh chứng,  qua sự bảo toàn những dấu vết bằng một phong thái vẽ rất tỉ mỉ, sức đấu tranh với một Thực Tế luôn luôn thay đổi theo thời gian, đáng lý ra là không níu kéo lại được, và thực tế này vừa bảo vệ sự hiện hữu của nó lại vừa luôn luôn thoát chạy.

La forêt d’Halatte – Cánh rừng ở Halatte tranh sơn dâù trên vải, huile sur toile, Öl auf Leinwand, 170 x 120 cm

 

Mandala 1 tranh sơn dâù trên vải, huile sur toile, Öl auf Leinwand, 60 x 60 cm

Mandala

Trong một buổi thăm viếng thánh giáo đường Chartres tôi rất chú ý dến nền đá hoa bằng gạch đen trắng trước bàn thờ Chúa.  Pierre mới cắt nghĩa rằng đấy là một cái labyrinthe sám hối, người tín đồ quỳ gối trên nền đá hoa lạnh lẽo và tìm đường đi trên labyrinthe này bằng cách lê lết trên hai đầu gối cho đến khi tìm được lối ra. Trên đường về tôi liên tưởng đến bánh xe luân hồi và từ đó tôi vẽ trong đầu những bức tranh với ba chủ đề chính: labyrinthe của thánh giáo đường Chartres, bánh xe luân hồi và hoa sen. Bó hoa sen này tôi đã ôm theo lên máy bay trên đường trở về sau khi đã an táng mẹ tôi, vào một cuối năm ta. Tôi còn nhớ người nhân viên khám hành lý xách tay ở phi trường,  thấy tôi ôm bó hoa sen, và lỉnh kỉnh đem theo nào là bát hương, chân đèn đồng, lư đá, mỗi khi qua kiểm soát thì máy báo động kêu inh ỏi, anh ta hỏi  » Cô có chuyện gì … ?  »  » Dạ, má tui mới chết, tui đem đồ bàn thờ theo, qua bển.. . ». Anh ta thông cảm ngay  » Thôi, cô qua đi ! « . Đó là người nhân viên phi trường dễ thương duy nhất mà tôi được gặp. Về đến nhà, tôi lập ngay bàn thờ má tôi trên bàn học, khói hương nghi ngút, và tôi vẽ phác thảo ba bức mandala liên tục khi bó hoa sen còn tươi, chưa tàn. Bức Mandala 1 diễn tả hoa sen trong hài hòa với labyrinthe de Chartres, bức Mandala 2 diễn tả bánh xe luân hồi ẩn mình trong cánh hoa sen, bức Mandala 3 diễn tả hoa sen và bánh xe luân hồi. Khi tôi nhìn lâu và chăm chú vào tranh thì tôi có cảm tưởng là bánh xe luân hồi quay tròn, còn labyrinthe de Chartres thì cuốn hút tôi vào đấy, để tìm đường ra. Có lẽ đây là một trạng thái tự kỷ ám thị khi đầu óc tôi đang bận rộn với những suy nghĩ về cái chết và sự sống.

 

Adieu Corsica, Vĩnh biệt Corsica tranh sơn dâù trên vải, huile sur toile, Öl auf Leinwand, 100 x 80 cm

Les fleurs en dimension surréelle, portraits, paysages, une chambre dans le rêve, la ruine d‘une église avec le site archéologique… en détails minuscules… Pourquoi la distance, entre cette apparence extérieure des choses et sa façon de voir la vie, de son intérieur ?

Son style, un excès de détail consacré, produit l‘existence de la contradiction existentielle. La vie est représentée d‘une façon exagérée par son art des pinceaux, les êtres-humains et les fleurs comme en porcelaine, prêts pour la scène, conservés, attirés mais intouchables en même temps.

La pratique des techniques asiatiques, perfectionnée par les compositions modernes, donne une vue photographique réelle, pourtant son traitement des couleurs et de la lumière crée un sentiment d‘étouffement, d‘attraction, noyé par ses motifs. Perte et possession, loin et près, calme et agité… le temps dans ses tableaux est aussi contradictoire, il se manifeste mais aussitôt disparaît … ( Dr. Richard Kreidler, Historien de l‘art )

Triển lãm ảo: Tranh sơn dầu – Kỳ 3

27. février 2021
Triển lãm ảo: Tranh sơn dầu – Kỳ 3

Năm bức tranh hoa hồng với năm mầu sắc khác nhau là biểu tượng của năm hoàn cảnh trong đời người. Có những người sinh ra đời đã mang theo vận mạng mình nhiều may mắn, mọi chuyện đều trôi chẩy theo ý muốn. Nhưng có những người kém may mắn hơn, đụng chạm vào thực tế không như ý nguyện. Mầu hồng là mầu của hạnh phúc bỗng chốc biến thành mầu của đau khổ. Mầu đỏ mầu của tình yêu bỗng chốc biến thành một sự lãnh đạm. Mầu xanh, hy vọng biến thành tuyệt vọng. Mầu trắng tinh khôi là mầu của thanh thoát trở thành kìm hãm. Mầu vàng mầu của niềm tin biến thành sự phản bội. Mỗi người tự cho mỗi mầu một ý nghĩa, nó thay đổi theo thời gian và theo cảm nhận. Mới bạn xem tranh và tìm thấy ý nghĩa của bạn trong tranh, tranh sơn dầu trên vải của Mathilde Tuyết Trần, 140 cm x 120 cm.

 

 

Triển lãm ảo: Tranh sơn dầu – Kỳ 2

27. février 2021

Triển lãm ảo: Tranh sơn dầu – Kỳ 2 Les images du passé – Bilder einer Vergangenheit

Adieu Cavalière, je t´aimais bien – Vĩnh biệt Cavalière, tôi đã yêu nơi đây, tranh sơn dâù trên vải, huile sur toile, Öl auf Leinwand, 105 x 75 cm

Volker Wienecke (Cơ quan bảo trợ Nghệ thuật và Văn hóa của tiểu bang Nordrhein-Westfalen (Stiftung Kunst und Kultur des Landes Nordrhein-Westfalen)

Không phải bức tranh „Mönch am Meer » mà là một người mẹ trẻ với hai đứa con. Cái bị đeo lưng đã sửa soạn xong, sự tạm biệt đang diễn ra. Sau lưng họ, người xem tranh, tham dự vào khung cảnh nhưng thật ra không phải đứng trong tranh.

Một buổi sáng mùa xuân rất trong và lạnh ở miền Nam nước Pháp, cây cối còn trụi lá và, như tựa đề của tranh đã nói với chúng ta, một ngày chia tay.  „ Vĩnh biệt Cavalière , tôi rất yêu nơi đây….“  Bàn tay vẫy chào của đứa trẻ đứng bên tay phải, không phải để vẫy một con tầu đang chạy qua, mà vẫy chào nguyên cả một sự kiện: Đây là một cuộc chia ly của ba người với một nơi chốn thương mến và hơn thế nữa, là chia ly với một quãng thời gian đã qua, rất đẹp, mà một khi nhớ lại, lại sẽ buồn.

Người nghệ sĩ Tuyết Trần với một ngôn ngữ tạo hình đơn giản, mềm mại và mài dũa nhưng rất chi tiết đã đạt đến mức độ đưa người xem tranh vào một khung cảnh sống đẹp, gần như hư ảo. Với mầu sắc sáng và mãnh liệt, mà cô cũng đã dùng để diễn tả một cách gây ấn tượng cái ánh nắng sáng lóa của buổi trưa, cô đã truyền đạt được không khí của một sự hoài cảm đang đứng ngay chính giữa của Quá Khứ và Hiện Tại.

Cô tạo hình tượng những cái mà đáng lẽ ra người ta chỉ cảm nhận được.

Cô níu lại cái mà trên Thực Tế không thể níu lại được.

Người nữ nghệ sĩ việt nam Tuyết Trần đã sống hơn 35 năm tại Âu Châu. Sau khi tốt nghiệp ngành học Kinh Tế Quản Trị tại trường Đại Học Kỹ thuật Aachen,  cô đã làm việc tại vài cơ sở tư nhân trước khi nhận nhiệm vụ Khoa học gia Kinh tế và Quan Hệ Âu Châu trong một cơ quan hành chánh Đức. Bắt đầu từ giai đoạn này cô đã vẽ – song song với những công việc hàng ngày tuy đòi hỏi nhiều trọng trách nhưng không một chút nghệ thuật nào cả – như là kết quả của một sự phát triển cuộc đời, có thể so sánh với sự phát triển cuộc đời của nhà họa sĩ „ quan thuế“ Henri Rousseau.

Cũng giống như Rousseau, Tuyết Trần đã tự tìm ra hướng đi riêng biệt của mình mà không cần phải trải qua một học trình nghệ thuật, mà trong hướng đi đó, nội dung cũng như hình thức càng ngày càng rõ nét nghệ thuật tạo hình mà các trường phái Hiện thực ảnh, Siêu hiện thực và Ngây thơ đã chiếm chỗ trong tranh của cô.

Cho đến nay trong số 35 bức tranh của Tuyết Trần có thể được chia làm ba chủ đề chính: khung cảnh, con người và hoa lá. Tất cả mọi bức tranh, dù là đề tài nào đi nữa, đều toát ra một không khí đa sầu, hoài cổ. Những tựa tranh, nối kết với một kỷ niệm rất riêng của cô, cũng nói lên điều này. Mặc dù mầu sắc của người nghệ sĩ sử dụng thường hay là những mầu sắc trong sáng và sống động, nhưng mà cái thế giới rất đẹp trong tranh mà cô diễn đạt lại thường toát ra một ấn tượng về sự mong manh và phai tàn.

Tuyết Trần thuộc vào một thành phần nghệ sĩ hiếm hoi của thời đại hôm nay, những người với rất nhiều kiên nhẫn và nhiều xúc cảm để tạo ra những tác phẩm của họ, phải sau nhiều tháng làm việc cô mới thỏa mãn với kết quả của mình. Các bức tranh của cô đều có một cách cấu tạo rất phẳng và đều đặn đáng ngạc nhiên, làm người xem nhớ lại kỹ thuật vẽ láng của Dali, và không thể nhìn thấy nét cọ vẽ. Các họa sĩ yêu thích của Tuyết Trần là Dali, Renoir, Magritte, Georgia O´Keefe, Edward Hopper và Tamara Lempicka.

Les demoiselles Mai-Phi et Ti-Fanny – Hai cô bé Mai-Phi và Ti-Fanny tranh sơn dâù trên vải, huile sur toile, Öl auf Leinwand, 120 x 100 cm

Chi et Mai-Phi – Hai anh em Chí và Mai-Phi, tranh phấn dầu trên giấy vải nhật bản, 50 x 70 cm craie à l’huile sur papier en coton japonais, Ölkreide auf Japanischem Baumwollpapier

Komm zurück – Trở lại, tranh phấn dầu trên giấy vải nhật bản, 50 x 70 cm, craie à l’huile sur papier en coton japonais, Ölkreide auf Japanischem Baumwollpapier

Boudha ma joie – Phật vui tranh sơn dâù trên vải, huile sur toile, Öl auf Leinwand, 50 x 70 cm

Avec son langage de création artistique et sa technique, simple, souple, lisse, mais très détaillée, Tuyet Tran a réussi à créer une atmosphère presque surréelle dans ses tableaux. Ses couleurs claires, transparentes mais intenses, qu‘elle a pris pour reproduire la lumière phosphorescente du soleil de l‘après-midi par exemple, donnent l‘impression d‘une nostalgie, qui domine exactement la frontière fragile entre le passé et le présent. 

La vie pendant très longtemps dans les grandes villes, incontournable à cause de son gagne-pain, a donné à Tuyet Tran le besoin d‘être dans la nature. Elle aime peindre les paysages, les fleurs, les arbres mais aussi les portraits. Ses tableaux dans l‘ensemble, peu importe le motif, lié avec un événement de sa vie, réveillent un sentiment nostalgique et mélancolique, ce qui est accentué aussi par leurs titres. Ses couleurs sont toujours éblouissantes, claires, transparentes et vivantes, mais ce monde bien beau, qu‘elle dépeint, semble très fragile et éphémère. Elle montre, en fait, ce que l‘on peut seulement sentir. Et elle retient, en fait, ce que l‘on ne peut pas retenir, en réalité.

Après avoir fait beaucoup d‘expériences dans sa vie, elle a commencé à peindre, à tel point qu‘on peut la comparer avec le peintre H.Rousseau – un ancien douanier. Comme lui, elle a trouvé son style, sans avoir besoin une formation académique, elle peint avec son intuition et ses émotions, tandis que la forme et la contenance de son art figuratif se balancent entre le réalisme photographique, le surréalisme et le style naïf. Tuyet Tran appartient à un petit cercle d‘artistes de notre temps, qui prennent plusieurs mois, avec beaucoup de patience et de sensibilité, pour créer ses oeuvres, jusqu’au moment elle est satisfaite du résultat. Ses oeuvres possèdent une structure étonnement lisse et homogène, qui fait penser à la technique à lasure de DALI òu l‘on ne voit pas la traces des pinceaux. Elle aime Dali, Renoir, Magritte, Georgia O´Keefe, Edward Hopper et Tamara Lempicka.  (Volker Wienecker, Historien de l‘art)

Die vietnamesische Künstlerin Tuyet Tran lebt seit fast 35 Jahren in Europa. Nach ihrem Studium der Betriebswirtschaft an der RWTH Aachen arbeitete sie in verschiedenen Privatunternehmen, bevor sie als Wissenschaftlerin für Betriebswirtschaft und Europaangelegenheiten im öffentlichen Dienst tätig war.

Erst hier begann sie – parallel zu ihrer ebenso anspruchsvollen wie unmusischen Tätigkeit – mit der Malerei, als Ergebnis einer Lebensentwicklung, die vielleicht mit der des „Zöllners“ Henri Rousseau verglichen werden kann. Wie jener hat auch Tuyet Tran ohne jede kunstakademische Ausbildung einen eigenen Stil für sich gefunden, bei dem Intuition und Emotion im Vordergrund stehen, während Form und Inhalt ihrer immer gegenständlichen Bildkunst zwischen Fotorealismus, Surrealismus und Naiver Malerei angesiedelt sind. Dabei lassen sich bei den mittlerweile rund 35 Werken drei verschiedene thematische Schwerpunkte unterscheiden: Landschaften, Personenbildnisse und florale Motive. Gemeinsam ist allen Bildern, unabhängig vom gewählten Motiv, eine schwermütige, nostalgische Grundstimmung, die auch in den sehr persönlichen, an konkrete Erinnerungen anknüpfenden Bildtiteln anklingt. Zwar sind es fast immer strahlend klare und lebendige Farben, die die Künstlerin benutzt, doch die schöne Welt, die sie zeigt, wirkt oft sehr zerbrechlich und vergänglich.

Tuyet Tran gehört zu den wenigen Künstlern unserer Zeit, die mit sehr viel Geduld und Sensibilität ihre Werke schafft; oft braucht sie mehrere Monate, bis sie mit einem Ergebnis zufrieden ist. Ihre Bilder haben eine erstaunlich glatte und gleichmäßige Struktur, die an die Lasurtechnik von Dali erinnert und bei der die Pinselführung nicht mehr zu erkennen ist. Zu ihren künstlerischen Vorbildern gehören neben Dali auch Renoir, Magritte, Georgia O´Keefe, David Hopper und Tamara Lempicka.

Triển lãm ảo: Tranh sơn dầu của Mathilde Tuyết Trần – Kỳ 1

27. février 2021

Triển lãm ảo: Tranh sơn dầu của Mathilde Tuyết Trần – Kỳ 1

Nhân các bạn gợi ý làm một cuộc triển lãm ảo, một ý kiến rất hay, vì đã lâu rồi tôi bỏ quên mất những mầu sắc, giá vẽ và những cây cọ. Loạt tranh « Lataule mùa xuân » gồm có 6 bức khổ 60 x 60 cm, sơn dầu trên vải, vẽ cảnh làng tôi ở trong mùa xuân về tiếp nối đông tàn. Sáu bức tranh này có thể triển lãm rời ra hay gộp chung lại thành một mảng tường tranh. Bức thứ sáu còn đang vẽ dở dang….Họa sĩ nào cũng có thể còn một hay vài bức tranh dở dang, không vẽ tiếp vì…cụt hứng, hoàn cảnh thay đổi hay nhiều lý do khác. Mời các bạn thưởng thức năm bức đã xong….

Mầu sơn dầu tôi dùng là mầu của Đức, rất bền, sau 100 năm vẫn không đổi màu nguyên thủy của nó, không rạn nứt, không vỡ. Cách pha mầu đó là bí mật về kỹ thuật của những họa sĩ, làm thế nào để lớp sơn dầu lót mầu trắng ngà, những lớp sơn vẽ tranh và lớp sơn tráng bóng hay mờ cuối cùng không bị thời gian, ánh sáng và bụi bặm, ẩm ướt là những tác động chính của môi trường làm thay đổi. Bức tranh vẽ Montmartre xuất hiện gần đây của Van Gogh là một bằng chứng đó cho kỹ thuật vẽ bậc thầy xuất sắc của ông. Năm 12 tuổi tôi tình cờ được ba tôi cho đi học vẽ ở một lớp vẽ của một ông bác sĩ tổ chức trong khuôn viên của Viện Pasteur Saigon. Trong lúc tôi làm quen với cây cọ, giấy bản và mầu sắc thì ba tôi đi uống bia, ngồi chờ chở tôi về trên xe ếch bà. Thời đó tôi học cách pha mầu của thầy họa sĩ bằng bột mầu và dầu lin thiên nhiên. Trong nhà bỗng nhiên xuất hiện những lọ thủy tinh, những túi bột mầu thiên nhiên, những chai dầu lin, cọ đủ cỡ, giấy bản to….Bột mầu thiên nhiên bán theo cân lượng, nhiều khi mua chỉ 50 gram là nhiều, làm từ đá mầu mài ra, hay từ đất…thiên nhiên. Bây giờ thì người ta sản xuất bằng mầu nhân tạo nhiều hơn. Học gì tôi cũng đều rất mê mải, học vẽ, học đàn, học hát….Cứ như thế, buổi sáng tôi học ở trường và những buổi chiều đi học thêm, mỗi ngày đều bay biến nhanh chóng…Tôi bắt đầu vẽ tranh lại từ cuối những năm 1980 ở bên Đức vì buồn, khám phá ra là chồng tôi…có mèo, nhiều mèo tóc vàng nữa là khác…, hết con này tới con kia, tôi đi làm cả ngày, từ sáng sớm cho đến trưa chiều mỗi ngày, xong thì về, ở nhà một mình với đám con và…vẽ tiêu khiển….

L´église de Lataule

Rue du village Lataule

La ferme du moulin Lataule

Ruelle des Pinsons

Le clocher de Belloy

Một ngàn đồng Việt Nam

26. février 2021

Một ngàn đồng Việt Nam – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2018

Nhìn mớ giấy tiền lẻ trong tay tôi, anh tài nói, thôi cô trả tiền lẻ cho cháu đi, tiền này cô cho ăn mày còn không lấy. Đó là những tờ giấy có mệnh giá một ngàn đồng và hai ngàn đồng việt nam, có khi có cả tờ năm trăm đồng, là đơn vị tiền giấy nhỏ nhất.

Du khách thường không biết giá trị tiền việt nam nên tiêu xài phung phí. Nếu tính ra Euro thì một ngàn đồng việt nam bằng 0,035 euro, (1€ = 100 cents (xu), 1 cent = 285 đồng vn) , và tính theo $ thì một ngàn đồng việt nam bằng 0,045 usd, một đơn vị khá nhỏ để mua bán và ở châu Âu thì không mua được gì cả, nhưng ở Việt Nam thì một ngàn đồng mua được một số hàng hóa giúp ích cho đời sống thường nhật.

Người ta thường xài từ giấy năm ngàn đồng trở lên, tức mười ngàn, hai chục ngàn, năm chục ngàn cho tới giấy một trăm ngàn, hai trăm ngàn và năm trăm ngàn đồng.

Hai chục ngàn đồng đối với lương công nhân là to lắm, vì đó là giá của một bữa cơm trưa có thịt, có canh. Với số tiền hai chục ngàn người ta có thể ăn no và ăn ngon, thí dụ như một đĩa cơm tấm với một miếng thịt sườn thật to nướng thơm ing ỏi. Một người công nhân kể cho tôi nghe rằng anh cố gắng chỉ ăn mỗi ngày 50.000 đồng, 10 ngàn bữa sáng, 20 ngàn bữa trưa và chiều, phần còn lại dành cho gia đình vợ con. Tính ra tiền ăn mỗi ngày của anh chưa tới 2 euros.

Mười ngàn đồng thì mua được một cái bánh mì saigon kẹp trứng, kẹp thịt, hay một tô mì gói cải thiện thêm thịt, thêm giò chả, hay một đĩa cơm tấm , một phần xôi nóng…buổi sáng ăn cho no bụng ở những hàng quán bình dân ven đường.

Buổi sáng người ta thường thấy dọc trên nhiều đường phố những chiếc xe bán bánh mì, cơm tấm, mì, phở, bún, cháo, xôi…người ăn ngồi trên vỉa hè quây quần chung quanh, húp xì xụp. Buổi trưa, lại còn náo nhiệt đông đúc hơn. Buổi tối lại còn thêm vô số, đếm không hết, những xe bán bò bía, ốc nướng, bánh tráng nướng, mực nướng, hột vịt lộn, hột gà nướng, bánh bao, xôi cúc, cháo gà…. những món bán dưới mười ngàn đồng cho học sinh, sinh viên ăn vặt.

Ăn sáng ở nhà, nếu muốn khá hơn một chút thì một ổ bánh mì thịt giá hai chục ngàn, một đĩa bánh cuốn nóng cũng cùng giá, tô phở ba mươi lăm ngàn. Người sài gòn biết chỗ đi ăn để khỏi bị móc hầu bao, và hình như họ ăn suốt ngày, nhất là càng về tối, mát trời, cái thú đi ăn đêm, nhậu nhẹt lại còn tăng lên. Ẩm thực vỉa hè, ẩm thực đường phố đang dần chiếm chỗ của những món ăn sang trọng, cầu kỳ.

Du khách như tôi phải trả cho cùng một món ăn như thế gấp đôi, gấp ba lần tiền vì thường lai vãng trong những hàng quán “nổi tiếng” như phở Hoà Pasteur, hay quán Ngon, khu ẩm thực chợ Bến Thành chẳng hạn, giá một tô phở bẩy mươi lăm ngàn, một phần bún chả giò cua chín chục ngàn, hay trong những khách sạn bốn sao, năm sao, thực tình mà nói ngon thì chẳng ngon hơn, chỉ có cái là chém đẹp.

Tuy nhiên ngoài vấn đề ăn ngon miệng, hợp khẩu vị, đối với người du khách vấn đề vệ sinh của món ăn, bàn ăn, chỗ ngồi , người phục dịch là điều quan trọng hơn. Cho nên, không có gì đáng ngạc nhiên khi mình cho là ăn dở, giá đắt thì lại được khách nước ngoài lựa chọn. Người nước ngoài có thói quen ăn uống phải có bàn , có ghế cao bình thường, họ rất ngạc nhiên khi thấy người Việt ăn uống trên những chiếc ghế đẩu bằng gỗ, bằng nhựa thấp chủm như là ghế dành cho búp bê, họ sợ ngồi xuống là té ngửa và cũng không quen ăn uống trong tư thế cái bụng bị gập đôi lại. Các hàng quán bầy hàng với bàn ghế thấp như thế, kể cả các quán cà phê sang trọng, là tự mình đánh mất đi phần thu nhập từ khách nước ngoài.

Nếu bạn có dịp đi chợ, bạn sẽ thấy rau, củ, quả, cá, tôm, thịt ….nhiều đầy ứ, rất tươi và rất rẻ, so với mức sinh hoạt ở châu Âu. Du khách sẽ thấy một đất nước Việt Nam hiện tại có cái ăn, cái mặc dư thừa. Thực phẩm bày bán ở các chợ, các phố phường, các hẻm to, hẻm nhỏ…nhiều vô kể và giá cả rất linh hoạt.

Từ khi biết giá trị của những tờ giấy một ngàn, hai ngàn tôi không dám xem thường chúng nữa và ăn tiêu ở nhà tần tiện hơn. Bạn có biết mua được những gì với một ngàn đồng hay hai ngàn đồng việt nam vào thời điểm hiện tại không ?

Với số tiền nhỏ nhoi đó, bạn có thể mua được vài tờ giấy viết thư hay để làm đơn, bao thư, tem, giây thun, một bản photocopy, một hộp nhựa đựng thức ăn, một hộp xốp, bao ni lông, cũng như một bịch sữa gội đầu, một bịch sữa tắm, một cục sà bông, hoặc mua một số thực phẩm như một bịch cơm trắng, một miếng mì gói, một vắt hủ tíu, một ổ bánh mì không, mấy trái ớt, chanh, tắc, hành lá, rau ngò, giá sống, một bó rau, muối trắng, một chút mè, một củ khoai, một trái chuối, vài củ nghệ, vài củ gừng, riềng, củ tỏi, trái bắp, một trái cà chua, một củ hành tây, đậu hũ….Trong một nhà « toi lét » của một công viên, tôi thấy những tờ giấy một ngàn đồng, hai ngàn đồng đặt ngay ngắn trong một cái rổ, bên cạnh xấp giấy trắng vệ sinh. À, bạn đặt tiền vào rổ rồi được lấy một, hai tấm giấy vệ sinh.

Bạn đọc còn cho biết, một ngàn đồng mua được điếu thuốc lá con mèo, 200 lít nước sạch của công ty nước sạch Hà Nội…Một ngàn đồng còn mua được một viên thuốc chữa bệnh, mấy viên thuốc bổ. Vì sức tiêu thụ của cá nhân tôi có giới hạn, nên hẳn bạn đọc còn nhận thấy một ngàn đồng mua được nhiều thêm nữa, có ý thức hơn về giá trị tiền tệ của mình. Tôi vui mừng đón nhận những ý kiến bổ xung của các bạn.

Hãy đặt câu hỏi ngược lại, nếu bạn đang cần một thứ nói trên, mà bạn không có một ngàn hay hai ngàn đồng để trả ? Chính vì thế, không nên khinh thường những tờ giấy bạc một ngàn đồng hay hai ngàn đồng việt nam, cho rằng “ăn mày không thèm nhận”.

Tiếp theo hai tờ giấy bạc mệnh giá một ngàn đồng, hai ngàn đồng là tờ giấy năm ngàn đồng…đã có giá trị to lớn hơn. Hẳn các chú tài taxi thích làm tròn số tiền khách phải trả, thí dụ như cuốc xe 74.000 đồng, khách đưa tờ 100.000 đồng, thì có người chỉ thối lại bằng một tờ 20.000 đồng với lý do là không có tiền lẻ. Vậy bạn hãy thủ một mớ tiền lẻ để trả tiền taxi, hay trả bằng thẻ ngân hàng.
Như thế, xem ra tấm vé số giá bán là mười ngàn đồng một tờ đã là một món tiền lớn cho người lao động, mà tâm lý hễ càng nghèo lại càng mơ ước trúng số độc đắc càng lớn, thúc đẩy người nghèo thường xuyên mua vé số, mất tiền toi. Có người may mắn, trúng số độc đắc những hai lần, đổi lại đồng tiền trên trời rơi xuống là phải gặp tai ương trong gia đình, đúng như cái câu của người Việt hay nói : « Của đi thay người » trong trường hợp ngược lại là mất của.

Nhưng cũng có người vừa chơi vé số, vừa cầu mong sao cho con gái mình kiếm được “chồng ngoại” hầu được đổi đời. Những người tự thấy mình không thoát ra khỏi hoàn cảnh, làm ra đồng nào ăn hết đồng nấy, ngày hôm nay không biết nghĩ đến ngày mai, thường nuôi dưỡng mình trong hai cái ảo vọng cuối cùng đó.

Cách đây vài năm, một nhà xuất bản lớn tại thành phố Hồ Chí Minh đã có ý định xuất bản một cuốn sách của tôi, nhưng vì bất đồng ý kiến với người biên tập viên phụ trách, mà sự việc không thành. Nguyên nhân chính là anh bạn trẻ biên tập viên này muốn cắt bỏ hết những đoạn văn tôi viết về giá cả trên thị trường Việt Nam. Những ai có học về kinh tế đều biết rằng giá cả trên thị trường là thước đo về cung/cầu, về mức độ lạm phát, về tình hình sản xuất thực tế của thị trường đó, về “sức mua” của giá trị tiền tệ, về tình hình phân phối vật chất, sản phẩm trong xã hội…Qua sự nghiên cứu về giá bán trên thị trường, người ta rút ra được nhiều kết luận kinh tế hữu ích. Cắt bỏ vì cho là nó rườm rà, vô bổ thì hoàn toàn đối nghịch lại với chủ ý của người viết, cho nên tôi quyết định không cho xuất bản cuốn sách đó và sự việc chết trong im lặng. MTT

Étiquettes : giá trị, Tiền tệ

 

Nam Định, thành phố những nhà thờ

26. février 2021

Nam Định, thành phố những nhà thờ – ©Mathilde Tuyet Tran, France 2018

Tôi về Nam Định thăm quê nội xa xôi rất ngỡ ngàng. Như thường lệ tôi lên đường hoàn toàn không có người hướng dẫn, cứ nhắm mắt mà đi, nó có cái thú vị của nó, nhưng có một điểm đến là cái nhà thờ đổ Hải Lý ở bãi biển Nam Định.

Xem trên mạng chỉ biết nhà thờ ở làng Hải Hậu, Hải Lý. Cái hay ở chỗ, anh lái xe, theo anh ấy nói, cũng chẳng biết đường đến nơi ấy, đi đến đâu hỏi đường đến nấy. Người Việt Nam không quen dùng bản đồ, GPS cũng quá mới mẻ, không được cập nhật thông tin đều đặn thường xuyên, vì thế nên cách hay nhất vẫn là « con đường ở cửa miệng mình » như các anh tài vẫn thường nói.

Nam Định là thành phố lớn ở miền Bắc, tuy không phải là một địa điểm tham quan du lịch, thế nên bây giờ có đường cao tốc đi nhanh từ Hà Nội, vậy mà cũng phải mất hai tiếng cho một khoảng cách bản đồ 90 cây số Hà Nội-Nam Định.

Nam Định hiện tại có 1.826.900 dân trên một diện tích rộng 1.652,6 cây số vuông và lợi thế tiếp giáp với biển, bờ biển Nam Định dài 72 km gồm có các huyện Giao Thủy, Hải Hậu và Nghĩa Hưng, là nơi tôi muốn đến.

Lần trước, tôi đã ghé thăm đền Trần, quê hương các vua Trần, mà tôi mang họ, theo cha.

Nam Định chính là quê hương của các vua nhà Trần thế kỷ thứ 13-15 (1225-1400). Sau hơn 6 thế kỷ lịch sử đã qua, ngày nay chỉ còn lại các di tích đã được xây mới trên nền cung điện cũ ở làng Tức Mặc (1239) đó là các đền Thiên Trường, đền Cổ Trạch và đền Trùng Hoa.

Trong lịch sử Việt Nam thì bà Lý Chiêu Hoàng chính ra là nữ vương thứ tư có toàn quyền cai trị nước, sau Hai Bà Trưng, bà Triệu, thái hậu Dương Vân Nga (hai triều Đinh-Lê 968-1.000), bẩy tuổi, nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh (Trần Thái Tông), tám tuổi, năm 1225 lên ngôi vua, tức là triều đại nhà Lý chuyển sang triều đại nhà Trần, thực chất dưới quyền cai trị trong tay thái sư Trần Thủ Độ và cha là Trần Thừa (Thái Thượng Hoàng). Nhà Trần giữ ngôi được tới năm 1400 thì bị Hồ Quí Ly soán đoạt.

Tại đền Thiên Trường thờ 14 vị vua Trần, đền Cổ Trạch thờ Hưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, và đền Trùng Hoa có tượng đồng của 14 hoàng đế nhà Trần, và bài vị các quan lại triều Trần. Tôi đến không đúng vào dịp lễ khai ấn đầu xuân nhằm vào ngày 15 tháng giêng âm lịch hàng năm nên thong thả tham quan trong cảnh đền vắng lặng. Ngày hội khai ấn thì rất đông, chen chân không lọt, người nào xin được cái ấn đền Trần về treo ở bàn thờ tổ tiên thì rất là hãnh diện.

Các vua nhà Trần được thờ ở thôn Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà Thái Bình, (lãng mộ), Nam Định, Ninh Bình (hai vua Trần cuối cùng sau Hồ Quý Ly), Đông Triều và Quảng Ninh.

Lần về lịch sử trong quá khứ, tôi luôn luôn muốn nhìn thấy tận mắt những địa bàn sinh sống, xuất phát của những nhân vật lịch sử, dù cho thời gian đã xóa mờ nhiều dấu vết, nhưng khung cảnh sống hiện tại nói lên được phần nào, tại sao đất này sản sinh ra những vị anh hùng dân tộc.

Nam Định là đất lịch sử, có nhiều di tích, đền, chùa. Nhưng chuyến đi này, tôi khám phá ra một điều mới đối với tôi, như một người thân bên chồng, người Pháp, đã qua đời, mà lần cuối cùng gặp ông, chào ông trước khi chúng tôi lại về thăm Việt Nam. Khi nhắc đến Nam Định miền Bắc thì mắt ông ấy ướt lệ, làm cho tôi ngạc nhiên trước tình cảm ấy dành cho quê hương tôi. Ông là lính trong quân đội Pháp, đã đóng ở vùng biển Nam Định ba năm thời miền Bắc còn là đất thuộc địa của Pháp và quân Pháp đã phải rút về nước năm 1956. Một cô gái Nam Định đã niu kéo trái tim ông ? Đến nay, câu trả lời chỉ có ông biết và đã tan biến theo tro của ông rải trong làn nước biển xanh nước Pháp.

Trên đường đi, xe lướt ngang những cánh đồng lúa xanh rì mênh mông, lúa đang lên xanh, trĩu hạt, và những đàn vịt to lớn, trắng tinh, nhởn nhơ trong những ao hồ bên cạnh ruộng lúa. Thỉnh thoảng chạy ngang qua những cánh đồng muối trắng.

Một nhánh của sông Hồng chảy qua Nam Định, tức là con sông Đáy, mà nơi đầu nguồn gọi là sông Hát, gần Hà Nội, nơi Hai Bà Trưng tự vẫn.

Miền Bắc, phải nói là đất anh hùng, nhìn chỗ nào vào lịch sử cũng thấy anh hùng dân tộc cả nam lẫn nữ xuất thân.

Nam Định được ôm ấp bởi hai con sông Hồng và sông Đáy, nối liền với hai con sông này là sông Nam Định, được phù sa của hai sông bồi đắp, nhưng vì nạn hút cát ở cửa Ba Lạt nên hiện nay lại trái ngược gây ra tình trạng sạt lở.

Sông Hồng đổ ra vịnh Bắc Bộ ở cửa Ba Lạt, nằm ngay chính giữa hai bên bờ nam là Nam Định và bờ bắc ở Thái Bình. Người Pháp đã nhận ra tầm quan trọng của vị trí chiến lược quân sự-thương mại của Nam Định – Thái Bình, nên trong cái gọi là Hòa ước Nhâm Tuất 1862 ở điều khoản thứ năm Pháp đã đòi hỏi triều đình nhà Nguyễn ở Huế phải cho phép công dân Pháp được tự do thông thương và đặc quyền buôn bán ở ba cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt và Quảng Yên.

Anh tài không biết đường, anh bảo thế, tôi không biết sao, nên cứ nhắm mắt mà lái, đến đâu hay đến đó. Một đỗi, qua khỏi khu « Bích Xê » (siêu thị Big C nằm ở ngay ngã vào thành phố Nam Định) lác đác đã thấy những tháp chuông nhà thờ nổi cao hẳn lên trên những cánh đồng. Tôi không biết là mình đã « thâm nhập » vào địa phận giáo xứ Bùi Chu ở Nam Định.

Giáo phận Bùi Chu hiện nay nằm gọn trong tỉnh Nam Ðịnh, là một trong những thành phố đầu tiên xưa kia do Pháp tạo nên, bao gồm sáu huyện Xuân Trường, Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Trực Ninh, Nam Trực và khu vực xứ Khoái Ðồng cùng khu vực phía nam sông Đào (các xã Nam Phong, Nam Vân và phường Cửa Nam) của thành phố Nam Ðịnh.

Người dân ở Nam Định đa số làm nghề nông, số ít làm muối, đi biển, buôn bán…vậy mà từ thời Pháp thuộc ngành dệt may Nam Định đã nổi tiếng và trở thành quan trọng trong quá khứ. Cùng với sự kiện quan trọng ấy, nhà thờ mọc lên rất nhiều, rất to, rất hoàng tráng, giữa thành phố Nam Định là nhà thở lớn Nam Định, thiết kế đơn giản so với những nhà thờ khác trong giáo phận.

Nhà thở Cổ Lễ – Nam Định

Đi mãi mà không cho khách tham quan được gì, bỗng anh tài ngoặc vào một nhà thờ trông thấy bên đường đi. Nhà thờ khá to, mầu xám. Chúng tôi xuống xe, ê ẩm cả người.

Nhà thờ đang được sửa chữa lại, tuy khá khang trang, mọi thứ đểu ngăn nắp, sạch sẽ. Vội vội vàng vàng, tôi chợt nhìn thấy một băng quảng cáo của một nhà băng trong vùng có địa chỉ thì mới biết mình đang ở đâu, đó là làng Cổ Lễ thuộc huyện Trực Ninh, gần quốc lộ 21A, là nơi tôi rẽ vào lúc nãy.

Ở làng này có chùa Cổ Lễ được dựng nên từ đời nhà Lý thờ quốc sư Nguyễn Minh Không cũng nổi tiếng vì là chùa nhưng mang dáng dấp của một thánh đường công giáo hòa hợp với kiến trúc cổ truyền.

Nắng đã lên cao chói chang trên đỉnh, chúng tôi được anh tài cho nghỉ ăn trưa trong một nhà hàng tiệc cưới, thuộc loại sang trong vùng, không có thực đơn, muốn ăn gì thì gọi món, nhà bếp làm tất. Tuy vậy mà lúc trả tiền tôi ngỡ ngàng vì rất rẻ, tôm, cá tươi, canh cua, cơm trắng đầy đủ, thịnh soạn, hai người ăn no và uống chưa đến 10 euros (250.000 đồng).

Nội thất nhà thờ Cổ Lễ

No bụng rồi chúng tôi lại lên xe chạy tiếp tục trên quốc lộ 21a thẳng đến nhà thờ Kiên Lao, cũng nằm cạnh quốc lộ 21a. Tôi biết đến tên Kiên Lao là một trong những nhà thờ đẹp nhất Nam Định. Tử quốc lộ rẽ vào, đường làng nhỏ hẹp hơn, lại càng không xứng đáng vởi ngôi thánh đường nguy nga to lớn đang hiện ra trước mắt tôi. Anh tài bảo tôi, trong vùng này cô cứ đi năm trăm thước là có một cái nhà thờ.

Nhà thờ to quá. Bên Pháp, mỗi làng đều có nhà thờ nhưng nhỏ bé, cũ kỹ với năm tháng. Kiên Lao nằm ở xã Xuân Tiến, huyện Xuân Hùng, tỉnh Nam Định, hiện nay giáo xứ có 9.215 tín hữu, gồm có 12 giáo họ, là đông nhất giáo phận Bùi Chu, được giáo sĩ truyền đạo Pierre Lambert de la Motte chọn làm tâm điểm truyền giáo năm 1670.

Tôi đã về thăm ngôi nhà thờ độc đáo Phát Diệm, nhà thờ Kẻ Sở nhưng về đây nhìn quanh tôi choáng ngợp bởi nhiều nhà thờ nhỏ hơn, nhưng không kém phần lộng lẫy nguy nga, đó là nhà thờ riêng của từng giáo họ, giáo họ nhỏ nhất chỉ có 93 tín hữu và giáo họ lớn nhất có 2.400 tín hữu.

Một ngôi nhà thờ họ ở Kiên Lao – Nam Định

Trong nhà thờ chính đang có nhiều người sửa soạn thánh lễ, chùng tôi xin vào chụp hình. Một người vui vẻ chỉ cho chúng tôi đường đi đến ngôi nhà thờ nguyên thủy của giáo sĩ Pierre Lambert de la Motte vào thế kỷ thứ 17, nếu không biết chúng tôi sẽ đi ngang qua mà không thấy. Quả thật, ngôi nhà thờ nguyên thủy được xây ụp lên trên bằng một cái nhà chắc chắn hơn để giữ gìn, nó chỉ nhỏ bằng một cái nhà ba gian thông thường ở miền Bắc, đang được các nữ tu dòng Mến Thánh Giá chăm sóc. Tình cờ, chúng tôi được một sơ mời nước, trời nắng quá, được uống ly nước chanh tươi mát rượi tỉnh cả người, rồi sơ còn cho chuối ngự và cả một bao đầy mảnh vụn bánh thánh lễ để chúng tôi ăn dọc đường sợ chúng tôi đói. Chồng tôi to mắt nhìn quả chuối ngự Nam Định, quả chuối to ú nú, thịt chuối trắng ngần rất thơm, chưa bao giờ ông ấy được ăn chuối ngon như thế.

Nhưng tôi sốt ruột muốn ra thăm nhà thờ đổ

Một ngôi nhà thờ họ ở Kiên Lao _ Nam Định

Hải Lý nên dục đi ngay khẻo trễ, khẻo màn đêm buông xuống rất nhanh. Nhà thờ Hải Lý bị đổ vỡ vì những đợt sóng biến đánh vào. Anh tài băng băng lái xe về hướng nhà thờ đổ Hải Lý. Nhà thờ kia rồi, từ xa đã trông thấy tháp chuông. Đến nơi. Tôi thất vọng quá.

Ngay sát bên cạnh nhà thờ Hải Lý mọc lên những hàng quán ăn uống, ồn ào náo nhiệt, tiếng nhạc phát ra ầm ĩ, lấn chiếm cả nền móng của nhà thờ, rác rưởi vất đầy. Sóng biển đánh vào ngay bên cạnh nhà thờ, nơi người ta đã xây bờ kè bằng bê tông để trấn giữ phần tàn rụi còn lại là thắng cảnh du lịch. Nhìn nước biển đỏ au, chồng tôi bảo vùng này biển mặn lắm. Tôi rời Hải Lý buồn rời rợi.

Trên đường về, chúng tôi còn cố gắng ghé thăm vương cung thánh đường Phú Nhai vài phút. Thánh đường Phú Nhai rất đẹp, được chăm sóc tỉ mỉ, sạch sẽ, chứng tỏ một đời sống đạo rất chăm chỉ của giáo dân giầu có, sung túc, và đời sống hai bên lương-giáo an bình, đơn giản, những ấn tượng mà chúng tôi có được trong một ngày cưỡi ngựa xem hoa ở Nam Định. MTT

Thánh đường Kiên Lao – Nam Định

Nước biển Nam Định đỏ au

Nhà thờ nguyên thủy của giáo sĩ truyền đạo Pierre Lambert de la Motte (1624-1679)

Nhả thờ cổ của thế kỷ 17 còn lại được lồng trong mái trùng tu (2018)

Vương cung thánh đường Phú Nhai – Nam Định 2018

Bên trong vương cung thánh đường Phú Nhai – Nam Định 2018

Pleiku, hoa cà phê thơm ngát

26. février 2021

Pleiku, hoa cà phê thơm ngát – ©Mathilde Tuyet Tran, France 2018

Tôi đến Pleiku phố núi vào lúc mùa hoa cà phê nở thơm ngát, mùi hương cà phê tỏa ra ngây ngất từ những đóa hoa trắng tinh, trắng bóc mê hoặc lòng người. Chưa bao giờ tôi lại được thưởng thức một mùi hương lan tỏa khắp không gian và ngào ngạt đến thế. Hoa Serenga cũng trắng tinh, nổi tiếng là một loài hoa thơm, quý, được sử dụng cho những loại nước hoa đắt tiền của thế giới, vườn nhà tôi bên Pháp có một bụi hoa Serenga nhưng lại không thơm bằng hoa cà phê ở Pleiku. Đây là hoa cà phê robusta, loại cà phê được trồng nhiều ở Pleiku trên nền đất đỏ au áu của đất đỏ ban dan. Mùa Tết là mùa hoa cà phê nở cùng lúc với các loài hoa khác đón xuân, khoảng hai tháng sau thì quả cà phê được thu hoạch. Cà phê Gia Lai rất ngon, hương vị đậm đà, thơm nức, không thua kém gì các nơi khác. Tôi vào thăm đồn điền cũ của người Pháp xây dựng nên ở Pleiku trồng trà và cà phê, bên trồng trà bên trồng cà phê. Trà ở Plẹiku có nhiều nhưng không có tiếng như trà ở các vùng miền Bắc như trà Thái Nguyên, trà Yên Bái hay trà Bảo Lộc ở Lâm Đồng, và có vẻ như được gặt hái bằng máy công nghiệp để dùng làm loại trà lipton vùa có lá vừa có cả cành cắt nhỏ. Mùi hương thơm ngào ngạt của hoa cà phê quyến rũ hàng đàn ong bay lượn hút mật tạo thành mật ong hoa cà phê thơm lựng.

Gia Lai hay Pleiku không chỉ có trà, cà phê và mật ong thiên nhiên.Suốt dọc quốc lộ 19 đi từ Quy Nhơn về hướng Tây tôi thấy bao nhiêu là sản phẩm đặc trưng của Bình Định, Gia Lai. Đi ngang qua Tuy Phước là đã thấy rượu Bầu đá, bánh tráng, dừa, nem chua, tré, nón lá Tây Sơn trải dài hai bên lộ. Qua huyện Tây Sơn, nơi có các đia điểm tham quan như đền Bà Bùi Thị Xuân, Bảo tàng Quang Trung, Hầm Hô…các địa danh đều bắt đầu bằng chữ Tây như Tây Xuân, Tây An, Tây Phú…và các con đường chính đều mang tên Quang Trung, Nguyễn Huệ là đến đoạn lên đèo An Khê. Đường lên đèo An Khê khá dài, có khúc quanh mũi kim khá hiểm trở, dài 9,2 km, ở độ cao 499 mét. Điểm thú vị là ở hai đầu đèo, lên đèo và xuống đèo, có hai nhà máy làm đường từ cây mía, thế nên các xe tải chở mía đậu nối đuôi nhau hai ven đường chờ đợi tới phiên cung cấp mía, và không hiểu tai sao là các xe tải chở đầy mía chạy lên chạy xuống như đi chợ, dù là ở hai đầu đèo đều có rừng mía. Ở An Khê những rừng mía bạt ngàn chạy hút tầm nhìn. Phía xa xa, sau những khoảng đồi núi trồng tiêu là rừng cây cao su.

Chạy khoảng chừng 40 cấy số nữa là lên đèo Mang Yang. Phong cảnh ở đây đổi từ rừng mía sang thành những cánh đồng rộng mênh mông trồng tiêu, chanh dâu, cao su. Đèo Mang Yang dài 7, 5 cây số ở độ cao 788 mét, nhưng lại ít hiểm trở hơn đèo An Khê. Tiêu ở Gia Lai thơm lựng nhưng thơm nhất là loại tiêu rừng chưa xay đã thơm phưng phức, rồi đến tiêu đỏ thuộc loại tiêu quý hiếm ở châu Âu. Người dân phơi tiêu dưới ánh nằng như thiêu như đốt của vùng rừng núi Gia Lai.

Từ đèo Mang Yang đến Pleiku, qua thị trấn Đak Đoa, nhà cửa mỗi lúc một dày hơn, sầm uất, cho đến vào thành phố Pleiku lúc nào không biết. Tổng cộng cung đường Qui Nhơn – Pleiku dài 185 km, xe chạy hết 3 tiếng rưỡi. Từ Pleiku đi đến cửa khẩu Lệ Thanh qua Campuchia chỉ khoảng một tiếng đồng hồ.

Pleiku là một thành phố do Pháp thành lập từ năm 1905. Cái tên Pleiku là tên gọi đã được Mỹ hóa. Tên nguyên thủy thuộc ngôn ngữ của người Yarai là Ploi Kơdur (viết theo mẫu tự La tinh), có nghĩa là “làng thượng”, “làng trên”, cô H´wang, người hướng dẫn của tôi, giải thích với tôi như thế. Hiện nay Pleiku, thuộc tỉnh Gia Lai, là thành phố đứng thứ ba ở cao nguyên Tây Nguyên, sau Đà Lạt và Buôn Mê Thuộc, dân số gồm có 214.710 người gồm ba dân tộc chính: người Kinh, người Yarai và người Bà Nà. Thành phố Pleiku nằm trên độ cao trung bình từ 700 mét đến 800 mét, có khí hậu đặc trưng của miền núi, nhiều gió mùa, nhiều mưa.

Cô gái người dân tộc Yarai này nói tiếng Anh khá chuẩn, khác hẳn người Qui nhơn nói tiếng Anh, cô cắt nghĩa âm sắc tiếng Yarai có những cách phát âm gần giống như tiếng nước ngoài cho nên cô không gặp khó khăn khi phát âm tiếng Anh, không phải nói đớt như một số người Kinh. Cô gái sắc sảo này giải thích cho tôi nghe một vài điểm đặc sắc về dân tộc Yarai, thú vị nhất là khi cô kể về tục lệ hôn nhân.

Người Yarai theo chế độ mẫu hệ, cho nên đến tuổi lấy chồng là các cô gái Yarai phải đi “bắt” chồng. Người thanh niên Yarai ra giá để bắt, tính theo tiền bạc thời nay thì cái giá phải trả cho nhà trai là khoảng 80 triệu đồng việt nam, hoặc hơn, hoặc kém tùy theo đối tượng. Nếu cuộc hôn nhân thành tựu, nhà gái còn chịu tất cả tốn phí mổ bò, mổ lợn, mổ trâu, giết gà….để tổ chức đám cưới và rước chàng trai về nhà vợ. Nếu người chồng ngoại tình lần thứ nhất thì nhà trai bị phạt tiền gấp hai gấp ba lần tiền cưới. Ngoại tình nặng hơn, hay nhiều lần, thì người chồng bị xử làm nô lệ cho gia đình nhà gái. Tội ngoại tình nặng nhất thì bị chôn sống. Tục lệ xử phạt này ngày nay đã bị bãi bỏ, nhưng luật lệ “bắt chồng trả tiền” vẫn còn hiên hữu trong buôn làng, khiến cho các cô gái Yarai gặp khó khăn không ít khi đến tuổi lấy chồng. Có người yêu, mà không có tiền để bắt thì đành chịu. Khi chết đi, các người con phải được chôn cất cùng một chỗ với người mẹ. Và khi một gia đình muốn đi định cư tại một nơi khác để sinh sống thì phải làm lễ bỏ mả, lễ này kéo dài năm ngày với sự tham dự của cả buôn làng, tốn kém như một cái đám cưới.

Nhà lao Pleiku bây giờ chỉ còn lại một dãy nhà cổ do Pháp xây năm 1925, và được quân đội Mỹ tiếp tục sử dụng tiếp tục, quy mô tương đối nhỏ, không nói lên được hết thảm cảnh của những người tù chính trị ngày xưa, đa số là người dân tộc. Tuy thế, ngày xưa ai bị bắt bớ giam cầm ở nhà lao Pleiku coi như là một đi không về, bị tra tấn đến chết. Ngày nay được giữ lại để làm di tích lịch sử và giáo dục nhà trường. Nhà tù Phú Quốc với diện tích rộng lớn và quy mô gây án tượng mạnh hơn.

Khu vực Biển Hồ, nơi lấy nước ăn của Pleiku thì nằm im lìm dưới ánh nắng như thiêu đốt của vùng núi.

Trên đường về, lại qua đèo Mang Yang và đèo An Khê nhưng xuống đèo cảm thấy nhanh hơn là lên đèo. Trời xập xoạng tối, các xe tải nối đuôi nhau chạy lên chạy xuống rầm rập nhiều hơn ban ngày.

Kết thúc một chuyến đi, người Việt Nam thật là hạnh phúc, hơn cả nhiều dân tộc khác, vì được thiên nhiên ưu đãi. Biển cả cho cá cho tôm, rừng xanh cho cây cho trái, đồng ruộng đất đai cho lúa cho rau, con người hình như không cần phải lao động nhiều mà vẫn có ăn no đủ. Rừng vàng, biển bạc. Bán cá, bán hoa mầu, bán cát, bán đá, bán quặng mỏ, đất đai…toàn là những sản phẩm của thiên nhiên mà ra, rất ít công nghệ chế biến, công nghệ nhẹ. Có phải từ cuộc sống dễ dãi do môi trường, khí hậu, thiên nhiên ban cho mà người Việt Nam ít tiến bộ trong công nghiệp ? Tâm lý làm cho có chừng, chỉ đạt độ 8,9 là hay rồi không cần phải ráng lên tới 10, còn khá phổ biến. Xã hội Việt Nam có nhiều tiềm năng trông thấy, chỉ cần con người có cố gắng, biết tận dụng thời cơ và tận dụng khoảng thời gian đất nước đang thanh bình, vì không có gì khổ hơn là chiến tranh nổi, chiến tranh ngầm, tàn phá, mất mát, người Việt đã trải qua bao cuộc chiến kéo dài tàn khốc, hy sinh xương máu rất to lớn, ắt hẳn hiểu cái quý giá của sự thanh bình này hơn ai hết. Chúc cho Pleiku mỗi năm vào mùa Tết hoa cà phê lại nở tỏa hương ngào ngạt.MTT

Hoa cà phê trắng nuốt và thơm ngát

một bên trồng trà một bên trồng cà phê

Nhà mồ dân tộc Tây Nguyên

Trời nắng khô, các rãnh thoát nước đều khô

Chúc cho đời một mùa xuân mới, một ngày mới

3. février 2021

Hôm nay 03.02.2021 là tiết Lập xuân theo âm lịch…, thêm một mùa xuân mới nữa đã đến…, hạnh phúc sao khi mở mắt ra là thấy ánh sáng chan hòa, một ngày mới, ngày xuân mới của vạn vật bừng lên sức sống, mãnh liệt của những cánh hoa bé tí teo chồi lên mặt đất, chim chóc lại bay về hót tưng bừng sớm mai….Trong ý nghĩa đó, mời bạn nghe một bài hát « Ngày mới » qua tiếng hát của Tuyết Trần cách đây đã mấy mươi năm, (lời nhạc: Tuyết Trần, nhạc và hòa âm: PTQ) và chúc bạn những gì tươi đẹp nhất của cuộc đời, bỏ quên đi những gì đã làm cho mình bận rộn tâm trí, ưu phiền, nhìn cái tốt cái đẹp dù là rất nhỏ nhoi…

Tết Tân Sửu, 12.02.2021

Vụ án Sophie Le Tan chấn động dư luận Pháp

20. janvier 2021

Vụ án Sophie Le Tan chấn động dư luận Pháp – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Theo sự công bố của công tố viên Philippe Vannier, ngày thứ sáu 25.10.2019 báo chí Pháp thông tin một thi thể được tìm thấy trong cánh rừng thuộc địa phận Rosheim/Grendelbruch vùng hạ lưu sông Rhin.

Thi thể này bị cắt rời ra thành nhiều mảnh, một người cảnh sát trong ngày nghỉ của ông, khi dạo chơi trong khu rừng cùng với gia đình để hái nấm, đã phát hiện ra hôm thứ tư 23.10.2019.

Thoạt tiên, ông tìm ra một cái đầu đặt ngay trên đất, cách đó chừng mươi thước là một phần thân thể bộ phận ngực, tóc đen, đã bị hư hại nhiều, có thể thú rừng (chó sói, heo rừng, cáo…) đã đào xới và ăn ngậm.

Ngày chủ nhật 27.10.2019, bà