Skip to content

Nỗi đau thế hệ

31/12/2016

Nỗi đau thế hệ – ©Mathilde Tuyet Tran, France 2016

„Con hơn cha là nhà có phúc“, tiền nhân của chúng ta đã có những nhận định xác đáng về sự tiến triển của xã hội. Xã hội phải phát triển, tạo dựng môi trường cho cá nhân phát triển, cá nhân phát triển cuốn theo cơn lốc làm cho xã hội phát triển. Trong cái chung có cái riêng, nhiều cái riêng gộp lại thành cái chung. Trong một xã hội kìm hãm mọi sự phát triển của cá nhân thì xã hội đó không thể phát triển được, có khuynh hướng lụn bại. Điều này, chẳng cần những người gọi là chuyên gia xã hội học phân tích, mà „mắt thường“ cũng nhìn thấy và đánh giá được.
Có gì đâu mà khó hiểu, khi thế hệ con mình, nói chung, lại sống trong một hoàn cảnh, một môi trường xã hội tệ hại hơn thế hệ của mình. Thất nghiệp ở châu Âu, một tình trạng chung cho cả những xã hội châu Âu, là nguyên do của nhiều nỗi đau thế hệ.
Từ tình trạng thất nghiệp đẻ ra nhiều vấn đề mà những bậc cha mẹ, thiếu đoàn kết xã hội, riêng lẻ, không có một phương cách nào để cứu vãn tình thế, chỉ biết nhìn đám trẻ lụn bại dần. Từ thất nghiệp, sinh ra bệnh hoạn, phá hủy sức khỏe, thay đổi tính tình, thay đổi nhân cách: cáu gắt, bực tức, nóng giận hay u buồn, trầm cảm, dễ chịu biến thành khó chịu, hiền lành biến thành hung dữ… Từ thất nghiệp sinh ra tị nạnh, ghen ghét những người „hơn“ mình, thậm chí ghen ghét với đấng sinh thành ra mình.
Từ thất nghiệp, sinh ra nhiều mặc cảm vì người có việc, „được chọn“, người không có việc, „không được chọn“ vào làm việc. Từ thất nghiệp, mất tự tin trong đời sống tình cảm cá nhân, không lấy vợ được, không lấy chồng được, không đẻ con, đẻ con ra lấy gì nuôi ? Từ thất nghiệp, không có một đời sống an bình, bấp bênh, thậm chí không có nhà ở, không có „tiêu thụ“. Mỗi vấn đề cá nhân gộp lại thành những vấn đề xã hội về lao động, sức khỏe, dân số, tiêu thụ…cả đến bất an, lay chuyển hòa bình xã hội.
Trước kia, chỉ có những công việc rất đơn giản được tự động hóa. Dần dà, máy móc tự động ngày càng phát triển để thay thế sức người trong dây chuyền sản xuất. Tự động hóa càng cao, „có máy làm hết mà“, thì con người càng mất công ăn việc làm. Tầng lớp công nhân bị thu nhỏ lại. Những việc đơn giản như quét đường cũng không còn bằng sức người, có máy thổi lá, máy hốt lá, máy nghiền lá ! Trong các siêu thị châu Âu, những người thiếu ý thức, cho rằng mình „tiến bộ“ hơn người đi mua sắm khác, họ dùng máy của siêu thị cung cấp để tự „tính tiền“ lấy cho mỗi một món hàng họ mua, mà rồi còn bị kiểm soát lại một lần nữa xem họ có „ăn gian“ hay không, hay trả tiền qua các két tự động: khách hàng làm hết phần việc của người nhân viên thu ngân, thế mà họ không nhận ra là tự họ „tiêu diệt“ công việc cho người khác.
Trong các xã hội châu Âu, tiếng nói của các đảng cực hữu đánh vào tầng lớp này như một con dao hai lưỡi: phải đuổi những người nước ngoài ra vì họ đến để „ăn cắp“ công ăn việc làm của người sở tại, và, người thất nghiệp là người lười biếng, ăn bám trợ cấp xã hội 400 euros/tháng mà không chịu đi làm. Như thể, họ có thể tạo ra một xã hội thuần chủng là có ngay công ăn việc làm cho tất cả mọi người, thật là một điều hoang tưởng, nhưng những luận điệu như thế dễ câu những người suy nghĩ đơn giản.
Trong khi đó, các thế lực chóp bu xã hội dùng mọi cách để đánh lạc hướng suy nghĩ của người dân. Họ mở những mặt trận bên lề, thí dụ như giảm mức trợ cấp sức khỏe để « cứu » ngân sách chi của chính phủ trong lãnh vực y tế, hay tung hỏa mù với hàng ngàn vấn đề phụ thuộc khác, thí dụ như đi học mặc đồng phục cho trẻ con nhà giầu có, thuận hay chống. Đánh xuống, đánh người yếu kém sống nhờ vào trợ cấp xã hội dễ hơn nhiều lần đánh lên chóp bu, vì họ thiếu điều kiện chống đỡ. Vừa cho một ít tiền sống qua ngày, vừa đánh phủ đầu bằng mọi hình thức kiểm soát, gây mặc cảm, đám chóp bu giữ vững „an bình xã hội“, không thì nổi loạn, „chúng nó“ làm cách mạng, đánh lên ! Người nghèo bao giờ cũng chiếm số đông, và khoảng cách giầu nghèo không ai là không thấy. Bằng một cách nào đó, người đã nghèo lại còn nghiện một thứ gì, thuốc lá, rượu, ma túy…nghiện để quên đi thực tế !
Thêm vào đó, trên bình diện triết lý song song với hiện tượng kinh tế toàn cầu hóa, xã hội châu Âu lý tưởng hóa phong trào „Cá Nhân“ với hiện tượng „68“ làm cho mỗi người cắt dần những mối quan hệ xã hội cần thiết cho sự sống còn, làm cho tàn phá thêm, chia rẽ thêm một cách „vô hình“, không nhận ra. Mỗi người, trở thành một „ốc đảo“ trong suy nghĩ, trong phong cách sống. „Cái Tôi“ được đề cao, phủ nhận vai trò hướng dẫn, chăm sóc con cái, chăm sóc gia đình của các bậc cha mẹ, phủ nhận sự kế thừa kinh nghiệm của thế hệ đi trước, phủ nhận truyền thống gia đình, quê hương. Thế hệ „68“ lớn lên không cần cha mẹ dẫn dắt, các vấn đề tình dục được đề cao, như tự do tình dục, đồng tính luyến ái trong những cái „vỏ bọc“ mị dân mang vẻ tích cực, như tự do kết hôn, tự do quyết định giới tính, mà họ không nhận ra rằng đó là những cạm bẫy.
Rồi với những phát minh mới trong kỹ nghệ thông tin/truyền tin multimedia: Internet, điện thoại di động, máy tính cá nhân…những người trẻ tuổi lại càng bị kỹ nghệ thông tin chi phối, đắm chìm vào trò chơi, tình dục, phim ảnh mà không biết đường ra, đường thoát, vì có „ai“ khuyên bảo thì cũng chỉ là nước đổ đầu vịt. Bây giờ, trẻ con hai ba tuổi, mới vừa học nói bập bẹ, đã học chơi „games“ !
Đế ý sự biến chuyển của xã hội châu Âu người ta còn nhận ra những đề tài liên quan như vấn đề như Euthanasie (an tử chủ động). Thế hệ người già, nay khoảng 70 tuổi trở lên, sau khi đã cống hiến hết đời mình lao động xây dựng xã hội sau thế chiến thứ hai, thì bị các thế hệ đời sau cho là „sống lâu quá, làm tiêu hao tiền của xã hội“ phải được „an tử chủ động“ cho chết bớt đi. Nhưng người ta che dấu một đề tài khác cũng liên quan đến cái chết của thế hệ đi trước, đó là việc lãnh và chia gia tài, thừa kế. Thế hệ sau, phải đạt được thừa kế, trong đó có phần „lấy lại“ của „xã hội“ qua sự việc đánh thuế thừa kế rất cao. Sự „moi tiền“ của người già còn được hỗ trợ thêm bởi các biện pháp „cho trước“ khi chết !
Các chính trị, chính sách không nhằm mục đích tạo ra được công ăn việc làm cho dân là tiên quyết, thì chỉ là mị dân, không giải quyết thực chất vấn đề sống còn của xã hội, mà lại còn làm sinh sản thêm những khó khăn, tệ nạn. Giải quyết được gì, khi các chính khách mở ra những « mặt trận giả tạo » chỉ nhắm vào giảm thiểu phí tổn sức khỏe ? giảm thiểu trợ cấp lao động ? giảm thiểu ngân sách công nhân ? tăng tuổi về hưu, dù biết rằng chỉ có một thiểu số mới thực hiện được việc này, giảm thiểu các phí tổn lao động bằng cách « cực đoan » hơn là tiêu diệt luôn lao động ? Trong khi lợi nhuận kinh tế tư nhân, thị trường chứng khoán « vắt chẩy nước » ra vẫn ở mức lãi từ 10%-25% ?
Bởi thế, nói là sự đắc cử của Donald Trump lên làm tổng thống Mỹ là một sự „thay đổi thời đại“ còn quá sớm, nhưng người Mỹ thì mong rằng ông sẽ đem lại cho người Mỹ công ăn việc làm, ổn định quốc gia và ổn định thế giới. MTT

Đám cưới của Bayer và Monsanto

31/12/2016

Đám cưới của Bayer và Monsanto ©Mathide Tuyet Tran, France 2016.

Bài viết này được tổng hợp bởi một số bài báo từ tháng năm 2016 đến giờ, tháng mười 2016, trên các tờ báo Pháp và Đức (chủ yếu Le Figaro, Der Spiegel và manager-magazin) nhân dịp Bayer tại thành phố Leverkusen (Đức) mua lại Monsanto (Mỹ) với giá là 59 tỷ euros (66 tỷ đô la Mỹ). Giới báo chí e ngại rằng là đám cưới của hai công ty hóa chất lớn nhất nhì hành tinh này hợp thành một công ty duy nhất đứng hàng đầu thế giới trong mảng thị trường hạt giống và chất khai quang, tiêu diệt côn trùng sẽ đem lại nhiều hậu quả khôn lường.

Sau khi hai công ty hóa học Dow Chemical và DuPont quyết định sát nhập với nhau để trở thành Dow DuPont, thì công ty hóa học trung quốc ChemChine cũng muốn « thanh toán » Syngenta, công ty hóa học thụy sĩ, lại làm một.

Đây là một « đám cưới lớn nhất » cho tới giờ của kỹ nghệ Đức. Dự tính Bayer-Monsanto sẽ trở thành một người khổng lồ trong kỹ nghệ hóa học với doanh thu là 23 tỷ euros một năm và kiểm soát 140.000 người công nhân.

Một số tiền 129 đô la Mỹ cho mỗi một chứng khoán đã được Bayer đề nghị. Ngày 14.09.2016 tổng giám đốc Bayer ông Werner Baumann đã ký kết với tổng giám đốc Monsanto ông Hugh Grant hợp đồng thỏa thuận mua bán, với một văn bản gồm 80 trang giấy. Vì vậy, hầu hết các vụ án khởi tố Monsanto có thể bị tiêu hủy vì trên nguyên tắc công ty này đã bị bán đi, không còn danh nghĩa tồn tại nữa. (* Vụ án bà Trần Tố Nga khởi tố Monsanto về Chất độc da cam Agent Orange, Dioxine).

Công ty Monsanto, ở St. Louis, Missouri, được thành lập năm 1901 bởi John Francis Queeny, ông lấy họ của vợ ông làm tên công ty.

Trong thời điểm mua bán này, Monsanto có 22.500 nhân công trên 66 nước trên thế giới và có một doanh thu 15 tỷ đô la Mỹ, lợi nhuận 2,3 tỷ đô la Mỹ một năm và chiếm lĩnh 30% thị trường thế giới về sinh (thực) vật biến đổi gen (OGM, Organisme génétiquement modifié, tiếng Anh viết là GMO, Genetically modified organism). Ông Hugh Grant, tổng giám đốc của Monsanto có mức lương 12 triệu đô la Mỹ một năm (2015).

Những thương hiệu nổi tiếng nhất của Monsanto là Dekalb, Asgrow, Deltapine, Round up.

Monsanto đã tham gia vào việc sản xuất chất độc khai quang Agent Orange (Chất độc da cam) rải xuống miền Nam Việt Nam trong những năm 1960, thời chiến tranh chống Mỹ.

Ngoài việc sản xuất chất hóa học được sử dụng là vũ khí chiến tranh, Monsanto là nhà sản xuất chủ yếu các hạt giống OGM trong nông nghiệp, vì thế phong trào chống Monsanto là « multinationales de l’empoisonnement » (công ty toàn thế giới về đầu độc) lan mạnh với những cuộc biểu tình hàng năm « marche mondiale contre Monsanto ». Lần cuối cùng biểu tình được tổ chức vào tháng năm 2016 trên 400 tỉnh thành toàn thế giới, trong đó có khoảng 30 tỉnh thành ở Pháp. Tháng mười năm nay một tòa án quốc tế, được gọi là « Tribunal Monsanto », thành lập bởi một cộng đồng luật gia, luật sư và các tổ chức ONG tại La Haye, sẽ được triệu tập và sẽ xử vụ án « diệt chủng môi trường » (ecocide) của Monsanto. Tuy nhiên, tòa án này không được công nhận chính thức.

Chịu áp lực của sự phản kháng này, những thế lực chính trị và kinh tế khủng khiếp đã chịu sự chi phối của thế lực « lợi ích nhóm » tại Bruxelles, bỏ phiếu gia hạn chỉ có 18 tháng cho chất Glyphosate, một chất độc hóa học gây ung thư có trong sản phẩm khai quang Roundup của Monsanto.

Không kể đến những sự phản kháng của nhà nông châu Âu, về cây bắp và cây đậu nành làm thí dụ, những người nông dân châu Phi cũng lên tiếng phản đối: tại sao họ phải trả cho Monsanto lệ phí cao trong khi người châu Âu không hề ăn những loại hạt đó ? Và ngay cả trên đất Mỹ, chuỗi nhà hàng ăn Chipotle cũng từ chối sử dụng thực phẩm từ gen biến đổi, loại « Frankenfood » (thực phẩm của ma quỷ) như người ta đã đặt tên cho nó.

Quả thật vậy, ông Werner Baumann đã phải tuyên bố ngay lập tức, theo báo Le Figaro ngày 11.10.2016, rằng: « Đó là một điều rõ ràng. Chúng tôi không muốn mua Monsanto để áp đặt những loại thực vật bị biến đổi gen lên châu Âu. Có những người cho rằng, với uy tín mà chúng tôi đang thừa hưởng trên châu Âu, điều này sẽ dề dàng hơn là đối với Monsanto. Nhưng sẽ không có vấn đề đó. Nếu chính trị và xã hội không muốn những hạt giống có gen biến đổi, thì chúng tôi sẽ chấp nhận điều ấy.  »

Ông nói, như có vẻ không phải là sự việc « thuận mua vừa bán », mà sự việc dân chúng phải ăn thực phẩm gen biến đổi và những tai họa kéo theo sau đó là một « án lịnh » từ « trên » (chính trị) đưa xuống đầu dân !

Và theo ông Werner Baumann, nếu trước đây 20 năm người ta có thể còn « nghi ngại » vể thực vật biến đổi gen thì ngày hôm nay không có một tang chứng nào chứng tỏ sự « không chắc chắn » hay là « nguy hiểm cho môi trường » của nó. Ông Werner Baumann, tổng giám đốc mởi nhậm chức sau ông Marijin Dekkers được vài tuần lễ, muốn chứng minh bản lĩnh của mình.

Công ty Bayer-Leverkusen có tham vọng trở thành một công ty toàn cầu « Khoa học cho sự sống » (Life-Science) với ba cột trụ: thuốc chữa bệnh (Pharma), sức khỏe cho người tiêu thụ (Consumer Health- các loại thuốc không cần có toa bác sĩ) và Crop Science (mọi sản phẩm dùng cho nông nghiệp). Ngoài ra còn có một nhánh Animal Health được thành lập, quy tụ những sản phẩm diệt trùng.

Công ty Bayer Aktiengesellschaft (Bayer AG) gồm có 307 công ty con và 116.800 công nhân, được thành lập bởi Friedrich Bayer và Johann Friedrich Weskott vào ngày 01.08.1863, cách đây đã 153 năm.

Tại Bayer, các chất Diacetylmorphins, Acetylsalicylsäure und Sulfonamide được sáng chế và thương mại hóa dưới các tên như Heroin, Aspirin và Prontosil thành công. Năm 1939 Gerhard Domagk đoạt giải Nobelpreis ngành Y khoa với sáng chế Prontosil (Sulfonamide), là một chất trị liệu Chemotherapie, được dùng làm chất kháng sinh.

Trong lịch sử, công ty Bayer đã tham gia vào việc sản xuất các loại chất gas hóa học như Chlorgas, Phosgen, Chlorpikrin và Senfgas (còn gọi là Lost) dùng làm vũ khí trong Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất. Các chất gas này đã làm mù mắt và gây trọng thương cho quân lính Pháp một cách thê thảm.

Trong Đại chiến thể giới lần thứ hai, Hans Kühne làm giám đốc các phân xưởng kể từ năm 1935, Bayer phục vụ chiến tranh vởi việc sản xuất dầu máy, cao su và các loại gas.

Đến năm 1944 có đến 4.460 người của các nước khác như Ba Lan, Pháp, Bỉ, Hòa Lan…bị cưỡng bách lao động, chịu tù đày khi vi phạm luật lệ và phải chịu nhiều thiệt hại sức khỏe cho hãng Bayer. Trong hồ sơ về Bayer, người ta tìm thấy có sự kiện Bayer dùng người làm thí nghiệm: 150 người phụ nữ bị mua với giá « 170 Đức mã một cái », sau khi làm thí nghiệm tất cả mọi người đều chết, Bayer cần mua thêm người nữa, trong khoảng thời gian đó.

Công ty Bayer cũng tham dự cùng với công ty Degussa sản xuất chất hóa học Zyklon B, vốn là một chất diệt trùng, dùng để tiêu diệt người Do Thái ở các trại tập trung trong Đại chiến thế giới lần thứ hai. Lãnh nhiệm vụ thực hiện là công ty Degesch (Deutsche Gesellschaft für Schädlingsbekämpfung mbh), nắm giữ văn bằng phát minh chất Zyklon B, mà trong đó, năm 1936, thì 42,5 % cổ phần thuộc về Bayer (mang tên khi ấy là I.G. Farben), 42,5% cổ phần thuộc về công ty Degussa, sản xuất vàng và bạc miếng, và 15% cổ phần thuộc về Th. Goldschmidt. Còn nhiệm vụ sản xuất thì được giao phó cho công ty Dessauer Zuckerraffinerie GmbH, thuộc địa phận Sachsen-Anhalt. Từ năm 1922 việc sản xuất Zyklon B đã được Degesch giao cho Dessauer Werk làm thử, đến năm 1924 thì được cấp giấy phép sản xuất chính thức. Cho nhu cầu chiến tranh, sau này việc sản xuất Zyklon B được mở rộng thêm ra ở những công ty khác.

Năm 1954 Bayer sáng lập vởi Monsanto một công ty chung mang tên là MOBAY (hai chữ đầu của Monsanto và Bayer) ở Pittsburgh, sản xuất chất độc da cam Agent Orange dùng trong chiến tranh Việt Nam, cho đến năm 1967 thì MOBAY là công ty có 100% vốn của Bayer.

Hiện tại, Bayer và Syngenta đang đối đầu với tố cáo của những người bảo vệ môi trường về vấn đề chất diệt bệnh và côn trùng clothiandin và imidacloprid thuộc dòng néonicotinoïdes của họ sản xuất cũng tiêu diệt luôn loài ong. Đài truyền hình Europe 1 đưa tin vào ngày 29.04.2016 có một triệu người trên thế giới đã ký bản kiến nghị yêu cầu ngừng bán những chất này.

Nhà nông Việt Nam, nếu phải mua lúa giống để gieo trồng của Monsanto (hay những thương hiệu bán lại của Monsanto) thì lúa giống chỉ nảy mầm một lần, không ủ lúa giống được, khi mất mùa thì mất hết cả, và phải mua lại lần nữa, cứ mỗi lần gieo là một lần phải mua hạt giống. Công thức biến đổi gen này đã được Monsanto hợp thức hóa trên thế giới bằng văn bản « bằng cấp » phát minh, nên muốn tránh nó, thí dụ như dùng lúa nầy mầm thiên nhiên thì phải dùng lúa giống không có trong danh sách « bằng cấp » của Monsanto. Sử dụng lúa giống của Monsanto thì cái hại trước mắt cho nhà nông là phá sản mỗi khi mất mùa và đồng thời gây ra nạn đói cho dân chúng vì cứ phải mua hạt giống mỗi lần trồng. Ở châu Âu hiện tượng này đã xảy ra với nhiều loại rau củ quả, như quả cà chua, bắp, đậu nành, hoa hướng dương, chẳng hạn, thậm chí đến khoai lang tây, một số củ khoai giống không nẩy mầm được nữa.

Đám cưới Bayer và Monsanto được giới báo chí Pháp và Đức bày tỏ lo ngại, mà theo một số nhà nông nghiệp và những người bảo vệ môi trường cho là « đám cưới địa ngục ». MTT

Giấc mơ Mỹ với Trump

10/11/2016

Giấc mơ Mỹ với TRUMP – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2016

Thiên đường Mỹ quốc mộng mơ của người Việt là làm thế nào để (phải) có một cái nhà, và ít nhất một cái xe mới tinh trong đời, và thêm vào đó là những cái thẻ credit cho phép mượn mỗi thẻ 100.000 đô la mỹ để lấy le với bà con thiên hạ.

Nhưng những món nợ đó đều phải được trả lại bằng sức lao động của chính mình và „giấc mơ Mỹ“ đó không phải chỉ là của người Việt gốc Mỹ, mà có công ăn việc làm, có thu nhập thường xuyên, là giấc mơ của mỗi người dân Mỹ.
Chồng tôi có một bà dì ruột sống ở California, cuộc đời bà có nhiều điều bất hạnh xảy ra, chồng chết vì tai nạn lao động, con trai và con gái bà với một đứa cháu, đến giờ là đứa cháu duy nhất, đều chết vì overdose, đứa con trai còn lại cuối cùng thì thất nghiệp, bà bỏ phiếu bầu phiếu bầu cho Trump với hy vọng có một thay đổi thật sự, „change“ là một từ khóa quyết định, phải có „thay đổi“.
Trong cuộc bầu cử này, người ta cứ tưởng là Donald Trump sẽ bị đánh bại bởi bà Hillary Clinton vì phong cách ăn nói trợn trạo của ông. Nào ngờ đâu, sự kiện đó lại được dân chúng đánh giá ngược lại, dám ăn, dám nói, dám kêu đích danh con mèo là con mèo (từ ngữ Pháp: appeler un chat un chat) tất là dám làm. Ông không nói những lời hoa mỹ, văn vẻ chỉ có „thượng tầng“ xã hội Mỹ mới hiểu. Gần 40% cử tri nữ bỏ phiếu cho ông, và cả một thành phần những người da màu, và người ta đang chờ những con số chính xác để phân tích và bình luận.
Cũng thế, có người cho rằng, bầu cử , tức là một hình thức trưng cầu dân ý, từ chị Ba ngoài chợ cho đến anh Tư làm đồng đều đi bỏ phiếu là „nguy hiểm“, vì họ ngu dốt, dễ bị lầm kế mị dân, dẫn đến bầu sai người, dân chủ kiểu đó thì cứ bốn năm, năm năm lại „sửa sai“ một lần. Lập luận này dẫn đến sự kiện thường được nêu ra, cho rằng „dân“ phải có người „bảo hộ“ (tutelle), đại diện cho dân, để bầu đúng, hiểu đúng, chính trị mới „Đúng“.
Nhưng, nói „đúng“, „sai“ như thế nào, trong khi hàng triệu người chỉ băn khoăn mỗi một chuyện là làm sao có được công ăn việc làm, có thu nhập đều đặn để đám bảo đời sống của chính mình, những nạn nhân thực sự của kinh tế „toàn cầu hóa“ đã kéo dài từ gần 60 năm nay, cả một thế hệ bị đụng chạm ?
Người dân kiên nhẫn đã nhiều năm, thậm chí một số người « ngu dốt » đến độ „luật là luật“ mà không nghĩ xa hơn cái mũi của mình rằng, „luật“ do ai đặt ra và „luật“ áp dụng cho ai ?
Áp dụng „luật“ để ngăn cản người ta có thể « lạm dụng » phúc lợi xã hội với một số tiền nhỏ nhoi 500 euro một tháng, đe dọa cắt tiền trợ cấp để gây áp lực, trong khi xã hội không cung cấp công ăn việc làm cho người ta ? tức là coi thường, khinh rẻ sự tự trọng của con người. Hay áp dụng „luật“ để ngăn cản tầng lớp ông to bà lớn chuyến tài sản ra nước ngoài bằng nhiều „lỗ hổng“ cho người nhà giầu, làm giầu bằng những luật lệ „chính đáng“ ?
Có nhà báo Pháp đánh giá rằng, đây là một „cuộc nổi dậy“ của tầng lớp trung lưu nước Mỹ, muốn nói lên sự „căm phẫn“ trước một tình trạng xuống dốc thê thảm của xã hội tiêu thụ nước Mỹ, không phải vì họ muốn bầu lên một người „cực hữu“.
Tổng thống Trump hứa hẹn sẽ giảm thuế cho dân, để có sức tiêu thụ, làm đòn bẩy cho việc phát triển kinh tế, đồng thời với những biện pháp khác để bảo vệ thị trường nội địa. Nói một cách khác, để tạo ra công việc cho đa số dân chúng trong xã hội Mỹ, ông sẽ phải gìm cản tiến độ của „toàn cầu hóa“ kinh tế thế giới, bằng bất cứ một phương cách nào.
Cho đến giờ, phương thức sản xuất hàng rẻ ở nơi có nhân công rẻ, nguyên liệu rẻ đã gây ra tình trạng trước mắt là các hãng xưởng di dời ra khỏi các quốc gia, dân chúng mất công ăn việc làm, mất thu nhập, „ăn“ trợ cấp thất nghiệp rồi phải „ăn“ trợ cấp xã hội, chịu mọi sự kiểm soát vì mấy trăm oi rô ít ỏi, lấy đâu ra mà „tiêu thụ“ ?!

Tầng lớp trung lưu là tầng lớp tích cực của xã hội vì còn có công ăn việc làm, bị „bóc lột“ bởi thuế, không tránh đi đâu được. Xã hội Pháp hiện tại, với mức thâu thuế tăng liên tục từ 2012 là một thí dụ cho mức độ giảm tiêu thụ của dân chúng. Nhất là vào cuối năm phải đóng tất cả mọi loại thuế cho ngân sách quốc gia, nếu trễ nãi là bị phạt 10%, cùng với sự nghiêm ngặt tối đa của những « luật lệ » áp dụng trong ngân hàng, thì dân chúng tiêu thụ kiểu nào ?
Hai cuộc trưng cầu dân ý đã qua của dân Pháp và dân Anh là hai thí dụ: Cái „Không“ của dân Pháp trong cuộc trưng cầu dân ý năm 2005, và cái „Không“ của dân Anh trong cuộc trưng cầu dân ý trong năm 2016, vì dân Pháp và dân Anh quá „ngu“ chăng, mà quốc hội phải chỉnh sửa lại ?
Hứa hẹn là một việc, mà thực hiện lại là một việc khác. Chính sách kinh tế của Mỹ, cường quốc mạnh nhất thế giới, khi nước Mỹ bị cảm là cả thế giới nhức đầu, có ảnh hưởng trực tiếp đến những nước khác. Tổng thống Trump có sức có lực để làm xoay chuyển „toàn cầu hóa“ hay không đang là một câu hỏi. Wait and see. MTT

Ký hiệu FR8VX của Vua Duy Tân

06/11/2016

Ký hiệu FR8VX của Vua Duy Tân – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2016

Tháng 11 tại Pháp thời tiết thất thường, vào cuối thu. Cây cối đã trút lá theo những cơn gió mạnh, để dần dần lộ cành trơ. Buổi sáng mặt trời thức muộn, có khi đến trưa chưa buồn ló ra khỏi màn sương trắng đục. Nhiệt độ khoảng 3° sáng sớm, sương mù dày dặt. Trong cái màn trời âm u đó, năm nay là năm tưởng niệm 100 năm (1916-2016) ngày vua Duy Tân bị thực dân Pháp với sự đồng lõa của Tôn Nhơn Phủ và Cơ Mật Viện giáng xuống làm Prince d´Annam và đi đày biệt xứ sang đảo Ile de la Réunion.
Phải nói, chưa có một cuốn sách nào viết đầy đủ về cuộc đời và đóng góp lịch sử vua Duy Tân. Mọi cố gắng từ những bài viết, sách đã xuất bản chỉ là những mảnh lịch sử góp nhặt, chưa xứng đáng với tầm vóc của nhân vật. Vua Duy Tân tử nạn máy bay ngày 26.12.1945 trên bầu trời Trung Phi, tính đến nay đã 71 năm, một đời người, nhưng còn quá sớm đối với thời gian của lịch sử để có thể kết luận một điều gì.
Một lá thư cuối cùng của vua Duy Tân viết cho con gái vào cuối tháng 11, ba tuần trước khi tử nạn nói lên tấm thảm kịch của vua Duy Tân, vừa là bằng chứng cho sự trong sạch của vua, không bị mua chuộc bằng đồng tiền, cho đến phút cuối cùng của cuộc đời. Tư liệu này tôi sẽ công bố một ngày gần đây.
Khác với vua Hàm Nghi, cũng bị Pháp đày đi Alger (Algérie), nhưng vua Hàm Nghi được xã hội Pháp ở Algerie trọng vọng. Vua Hàm Nghi sống trong nhung lụa, lâu đài, có kẻ hầu người hạ, không có lo lắng về vật chất, thảnh thơi dành thì giờ cho nghệ thuật như vẽ tranh, tạc tượng. Trong khi đó, vua Duy Tân bị Pháp ngược đãi trên đảo, sống cuộc đời thiếu thốn, hạn chế, nếu không muốn nói là „nghèo“, và mặc dù vậy, vua vẫn khẳng khái từ chối mọi „ơn huệ“ của nước Pháp. Không có một chút tài sản cá nhân, nhà vua vẫn ở nhà thuê như dân nghèo của đảo. Khi chết, vua Duy Tân không có của cải vật chất để lại cho các con, nhưng một tài sản tinh thần quý giá của một vì vua xứng đáng nhất nhà Nguyễn.
Sau đây, gởi đến bạn đọc một trích đoạn „Ký hiệu FR8VX“ của cuốn „Dấu xưa, Tản mạn lịch sử nhà Nguyễn“ đã được xuất bản tại Pháp và Việt Nam:

fr8vx

Danh thiếp truyền tin vô tuyến của Vua Duy Tân vởi ký hiệu FR8VX

Sự tìm hiểu về tấm thiếp FR8VX đem lại cho tôi một sự hồi hộp vui thích như đang hành nghề „thám tử tư“, sau những giờ đọc sách và viết lách mệt mỏi.
Trong cuốn „Hồ sơ Duy Tân“, tác giả Hoàng Trọng Thược đã nhầm lẫn rất tai hại và sai lầm cơ bản khi chú thích dưới hình tấm thiếp rằng, tấm thiếp này là „Giấy phép hoạt động của đài phát thanh F3LG cấp cho vua Duy Tân“.
Cùng tìm hiểu với tôi, chồng tôi, Pierre, cũng đi từ khám phá này sang khám phá khác, và anh giải thích cho tôi biết từng chi tiết một trên tấm thiếp như sau:
Tấm thiếp này của Hoàng tử Vĩnh San (vua Duy Tân) gởi cho người phát thanh mang trên trạm F3LG, xác nhận cuộc điện đàm (viết tắt là QSO) vào ngày 10.03.1938 lúc 21.45 giờ đêm trên làn sóng điện tần số 14 megacycles.
Mỗi người phát và truyền thanh nghiệp dư đều được cấp một ký hiệu để liên lạc vô tuyến, và mỗi người đều tự sáng tạo cho mình một tấm thiếp để xác nhận tông tích, địa chỉ và liên lạc với nhau, gởi qua bưu điện thông thường.
Ký hiệu vô tuyến của vua Duy Tân là „FR8VX“.
Hiện nay có nhiều cá nhân, hội đoàn sưu tập các tấm thiếp rất quí giá này và đưa vào bảo tàng viện của những người truyền và phát thanh nghiệp dư.
Tấm thiếp do Hoàng tử Bảo Ngọc (Georges Vinh San) cung cấp, trong tư liệu của gia đình, là do chính tay vua Duy Tân sáng tạo ra, mang chữ viết, nét vẽ, tên họ, địa chỉ và chữ ký của nhà vua, thật một kỷ vật rất quí giá.
Georges Vinh San:
„ Cha tôi có cả một thùng cạc tông đầy nhóc những tấm thiếp này, để gởi đi khắp nơi…“
Ngoài hình chân dung của Hoàng tử Vĩnh San, một hình ngọn núi, một hình bãi biển, một hình một người đang múa trong dáng điệu chim xòa cánh bay, trên tấm thiếp còn có vẽ bằng tay một bản đồ đơn sơ với những tọa điểm địa lý của các trạm truyền sóng điện (radio) mang tên tắt FR8, V18, FB8, CR7, ZE1, ZS, ZT, ZU.
Ký hiệu truyền tin FR8VX mang số 8, con số chỉ trinh độ chuyên viên vô tuyến của người phát (thấp nhất là cấp 1, cao nhất là cấp 9), VX có thể là tên tắt của Vĩnh San (vì một lý do nào đó không thể chọn VS được).
Còn người nhận mang ký hiệu F3LG là ai ? Tôi tìm ra một tấm thiếp của F3LG gởi cho một người thâu và phát thanh khác. F3LG là ký hiệu của một người Pháp tên Ch. Guilbert, địa chỉ 35, rue Jean Mermoz, Deauville, vùng Calvados Pháp.
Trên tấm thiếp của mình, vua Duy Tân xác nhận cho ông Guilbert biết chất lượng cuộc điện đàm như sau:
RST 337
Có nghĩa là: hiểu được với khó khăn, sóng yếu, nhưng âm thanh khá rõ ràng dù bị tạp sóng. (RST, viết tắt của 3 tính chất truyền tin: readability, strength, tone)
QRM: très
Có nghĩa là có nhiều sóng nhiễu
QRN: aussi
Có nghĩa là ảnh hưởng thời tiết cũng xấu
Người gởi (viết tắt là QRA) là Prince VINH-SAN, 67 rue Ste Anne, St. Denis, Ile de la Réunion.
Các thông tin khác trên tấm thiếp cho biết hệ thống thông tin của vua Duy Tân gồm có máy mang tên hiệu Super Skyrider SX-9 (SX9), thâu thanh, và máy 6L6 pa 6L6 ´s phát thanh. Chồng tôi nói là máy phát thanh do chính vua Duy Tân tự lắp ráp.
Máy Super Skyrider SX-9 (SX9) được sản xuất tại Hoa Kỳ vào năm 1936, bán với giá nguyên thủy là chín mươi đô la thời ấy, đặt trong một thùng bằng kim loại hỉnh chữ nhật nằm ngang. Máy hoạt động trên các tần số ngắn và tần số trung bình, có hai loa phóng thanh với công sức 3,5 Watt,
Cột truyền tin (antenne) của Hoàng tử Vĩnh San mang hiệu ZEPP hai làn sóng có hai công suất khác biệt, công suất truyền tín hiệu là 30 Watts, công suất truyền tiếng nói là 20 Watts.
Nằm trong vòng tròn bên dưới của con số 8 là ba ký hiệu: fone, WAC, cw
fone có nghĩa là truyền thanh bằng tiếng nói.
WAC có nghĩa là Work all continents, có khả năng liên lục địa
Cw có nghĩa là truyền thanh bằng tín hiệu Morse
Bên cạnh sơ đồ vẽ hòn đảo Réunion, vua Duy Tân viết bốn chữ tắt A.R.R.L. tức là „American Radio Relay League“, bên cạnh chữ F nhà vua viết thêm ba chữ tắt REF, tức là R.E.F. Réseau des Emetteurs Francais (Hội những người truyền tin Pháp, thành viên của Liên hội quốc tế truyền tin nghiệp dư (Section Francaise de l‘Union Internationale des Radio Amateurs), tức là nhà vua là hội viên của hai tổ chức này, có thẻ hội viên, cũng như có bằng cấp vô tuyến điện.
Điều này có gì lạ chăng ? Ngoài khả năng nói và viết tiếng Pháp rất lưu loát, vua Duy Tân còn biết thông thạo tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha, tức là vua Duy Tân có trao đổi với các trạm thông tin Anh, Mỹ, Pháp…
Nếu ngày nào, nhà vua cũng mê mải với các máy phát thanh đến hai, ba giờ sáng chưa muốn đi ngủ, như Hoàng tử Bảo Ngọc kể lại, thì hẳn là vua Duy Tân đã có nhiều cuộc điện đàm quan trọng mỗi ngày với nhiều trạm phát thanh trên thế giới.
Trên một tấm hình tôi thấy vua Duy Tân một tay cầm điếu thuốc lá, còn tay kia đánh tín hiệu Morse.
Georges Vinh San:
„Cha tôi hút thuốc nhiều. Ngài nói một cách ý nhị tự châm biếm: Người ta có thể mua tôi bằng những điếu thuốc lá !“
Duy Tân có tiếng là một người rất thông minh, ham học hỏi, nhất là tự học. Cần phải nhớ rằng, phương tiện truyền tin đem lại cho nhà vua một sự tự do đáng kể, vì thời ấy, các trạm truyền tin đều chịu sự kiểm soát của Bộ Bưu Điện, Điện Tín và Điện Thoại (Ministère des Postes, Télégraphes et Téléphones, PTT), cơ quan này cấp giấy phép và ký hiệu hoạt động cho từng trạm, và Bộ Nội Vụ – Cơ quan Cảnh sát Truyền Tin Vô Tuyến Điện theo dõi các hoạt động phát thanh. Nhất là trong suốt thời gian Đại chiến thứ hai, nhiều trạm phát thanh bị cảnh sát mật vụ nghi ngờ, theo dõi và thẩm vấn, cấm đoán.
Vua Duy Tân là một chuyên viên kỹ thuật thực tiễn, vì nhà vua biết tháo ráp, sửa chữa, thiết lập hệ thống truyền tin, truyền thanh, phát thanh. Vua có đến ba máy thâu và phát thanh khá mạnh, so với mức độ thiết bị thời ấy. Nhà vua cũng đã  nói với người bạn đường, bà Antier, rằng trong một thời gian sắp đến, bà có thể ngồi đây xem những hình ảnh của thủ đô Paris chẳng hạn, tức là vua Duy Tân đã nói đến sự thực hiện và phát triển hệ thống truyền hình (télévision) cho vợ nghe (theo lời kể của Hoàng tử Bảo Ngọc).
Là một chuyên viên vô tuyến điện, có liên lạc tin tức hàng ngày trên sóng truyền thanh khắp thế giới, chính ra vua Duy Tân có một phương tiện thông tin rất hữu hiệu, vừa để thông hiểu tình hình, vừa để thoát khỏi đảo, như ngày nay chúng ta sử dụng thơ thông tin điện tử (email) qua mạng truyền tin Internet.
Chồng tôi nói, nếu anh là vua Duy Tân trong hoàn cảnh ấy thì anh đã trốn khỏi đảo từ lâu. Nhưng vua Duy Tân không muốn đi trốn lén lút, mà muốn trở về Việt Nam đường hoàng chính chính, trên một con đường danh dự, vì nhà vua không bao giờ thoái vị.
Pháp đưa vua đi thì Pháp phải đưa vua về. Điều này là động lực chính cho mọi hoạt động của nhà vua trong suốt thời gian đi đày trên đảo. MTT

mtt_f3lg

Quét lá trong Dinh Độc Lập

28/10/2016

Quét lá trong Dinh Độc Lập – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2016 – http//:mttuyet.fr

MTT_D19

Ở Sài gòn có một cái dinh mà tôi quen gọi là Dinh Độc Lập dù nó đã bị đổi tên thành Hội trường Thống Nhất sau 1975. Ngày 30.04.1975, cách đây 41 năm, chiếc xe tăng T54 do Vũ Đăng Toàn chỉ huy đă húc sụp cổng chính tiến vào dinh, chấm dứt 20 năm chiến tranh 1954-1975 trên toàn lãnh thổ.
Lịch sử Dinh Độc Lập bắt nguồn từ thời kỳ Pháp thuộc. Sau khi chiếm đóng lục tỉnh Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) vào năm 1858, Pháp thiết lập nền móng cai trị trên mảnh đất gọi là Cochinchine. Nam Kỳ trở thành lãnh thổ của Pháp theo hai hòa ước Nhâm Tuất năm 1862 giữa Phan Thanh Giản làm chánh sứ với thiếu tướng Bonard, và hòa ước Giáp Thân 1884 (còn gọi là hòa ước Patenôtre) giữa Phạm Thận Duật, Tôn Thất Phan, Nguyễn văn Tường và Jules Patenôtre), triều đình nhà Nguyễn đã mất sáu tỉnh miền Nam cho Pháp kế từ thời gian đó.
Ngày 23.02.1868 thống đốc Nam Kỳ Lagrandière đặt viên đá đầu tiên cho xây dựng Dinh Thống đốc Nam Kỳ, do kiến trúc sư Achille Antoine L´Hermite thực hiện.
Công trình được xây dựng trong vòng bốn năm mới xong (1868-1871), rộng 12 ha, chung quanh trồng cây xanh. Dinh được đặt tên là dinh Norodom, tên của quốc vương Campuchia, và được sử dụng liên tiếp làm nơi ở và làm việc cho các Thống đốc Nam Kỳ và Toàn Quyền Đông Dương từ 1871 cho đến 1954, suốt 83 năm.
Ngày 07.09.1954 dinh được bàn giao cho thủ tướng Ngô Đình Diệm. Năm 1955 Ngô Đình Diệm truất phế Bảo Đại, lên làm tổng thống, đổi tên dinh thành Dinh Độc Lập.
Năm 1962, lấy lý do Dinh Độc Lập bị hư hại nặng do hai phi công của quân lực Việt Nam Cộng Hòa là Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử ném bom làm sập dinh cánh trái, Ngô Đình Diệm cho san bằng kiến trúc cổ của Pháp để xây dựng lại theo mô hình tân tiến Âu Mỹ. Gia đình họ Ngô về tạm trú ở Dinh Gia Long trong thời gian xây dựng. Nhưng Ngô Đình Diệm không sống sót đến năm khánh thành dinh 1966. Người chủ mới là Nguyễn văn Thiệu chiếm giữ dinh từ năm 1967 đến 1975.
Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ là người thiết kế dinh mới, ý định của ông là trang trí mặt tiền dinh bằng hình ảnh những lóng trúc, bụi trúc là biểu tượng của Ngô Đình Diệm, nhưng người ta lại thấy sau khi xây xong thì nó lại giống những lóng xương, thót vào ở giữa, không giống những lóng trúc, báo điềm bất lành. Đứng về mặt phong thổ thì dinh được xây trên đầu con rồng, những tấm biển trang trí cửa sổ được chạm trỗ hình đầu rồng, nên còn được gọi là Phủ đầu rồng.
Hiện nay, dinh Độc Lập trở thành Hội trường Thống Nhất, mở cửa cho du khách tham quan và cho các công ty tư nhân thuê phòng ốc, quan liêu, để tổ chức các sự kiện. Tiếc rằng phần tư thất của tổng thống và các phòng tầng 3 được trang trí quá sơ sài không đáp ứng được sự chờ đợi của khách tham quan. Phòng ngủ, phòng ăn của tổng thống VNCH được trưng bày sơ sài, khu vực này được xây dựng giống như kiến trúc Patio của miền Nam châu Âu, các phòng đều được nối liền với nhau bằng một hành lang rộng có mái che, chung quanh tâm điểm chính là một hòn non bộ lộ thiên, rất mát và sáng sủa.
Từ tầng ba, du khách được ngắm chiếc máy bay trực thăng túc trực sẵn sàng.
Bên cạnh đó, ít ai chú ý đến vườn cây trong dinh, trên một diện tích rộng 12 ha, như một ốc đảo xanh, khá yên tĩnh giữa lòng thành phố đầy bụi bặm và tiếng động xe cộ. Vườn cây này là cả một công trình gìn giữ, mỗi cây đều được đánh số thứ tự, mang tên, giống, quê quán và công dụng.
Các loại cây trồng trên diện tích 12 ha của dinh là những cây dầu con rái, sao đen, ngọc lan, dáng hưong, xoài rừng, xoài, lý, viết, xi xanh, me rừng, trúc, tre, bằng lăng trắng, bằng lăng nước, bồ đề, nhãn, sứ hồng, sứ trắng, cau vua, gỗ mật, gỗ đỏ, sộp, phượng vĩ, nhãn, tếch, lim xẹt, mạt võng… tượng trưng một phần nhỏ của sự giầu có thiên nhiên của rừng Việt Nam.
Những người nhân viên cây xanh chăm sóc cho cây không có một cành khô cành chết, thảm cỏ luôn xanh, kiên nhẫn quét từng chiếc lá rơi mỗi ngày…Điều này khiến tôi bật cười nhớ đến ông hàng xóm của tôi, ông ta không thể chịu đựng được một chiếc lá rơi trên thảm cỏ xanh của ông, chắt chiu cắt xén mỗi ngày. Nhất là mùa thu lá bay đầy trời, lá rụng như mưa làm cho ông như điên như cuồng hối hả hốt lá, thu gom từng đống lá úa ướt chèm nhẹp, rồi đốt lá, làn khói trắng loang nhẹ trong trời lạnh mùa thu.
Ở đây, những người công nhân bình thản quét lá như thể „quét chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em“…, như thiền. Họ sống vì quét lá, lá rụng mỗi ngày, mới quét lá lại rụng xuống như mưa. Họ nhổ cả mảng cỏ xanh lên để thay cỏ mới, họ trồng thêm cây non, chiết thêm cây kiểng…Trời tháng tám, cận rằm tháng bẩy, thì hay có mưa rào, ngày nào cũng mưa. Tuần vừa qua, do ảnh hưởng của cơn bão số hai đổ vào miền bắc, trong nam cũng mưa bão sấm sét đùng đùng mỗi ngày, vườn cây xanh cũng được tưới nước của trời. Nắng vừa lên, mưa vừa hết thì người ta đã hối hả đặt vòi tự động tưới cỏ tưới cây. Các nhánh cây kiểng xanh mọc nhú lên sau cơn mưa và cơn nắng chưa kịp tươi cừoi lâu với gió thì đã bị một bàn tay công nhân chăm chỉ cắt đầu, cho bằng thiên hạ. Trong vườn có nhiều con sóc, chim mào trắng, chim bồ câu đưa thư… tự do bay nhảy. Những con ve sầu hát đều đều một nhạc điệu quen thuộc, inh ỏi, át cả tiếng nhạc của một quán cà phê dành riêng cho du khách ở gần đấy.
Nhìn những cây xanh cao cả 20 thước, cây khỏe, tán khỏe xòe rộng trên cao, tỏa bóng mát xuống thảm cỏ lúc nào cũng xanh mươn mướt, thật không khỏi nghĩ đến công lao chăm sóc của những người làm vườn. MTT

MTT_D1MTT_D2

Sầm Sơn phố biển

28/10/2016

Sầm Sơn phố biển – Mathilde Tuyet Tran, France 2016

Ở miền Bắc có ít nhất ba bãi biển nổi tiếng „thuần Việt“, có nghĩa là đến 99% du khách Việt và 1% du khách nước ngoài tới những nơi này vui chơi giải trí, đó là Đồ Sơn (Hải Phòng), Sầm Sơn (Thanh Hóa) và Cửa Lò (Nghệ An). Người miền Bắc muốn đi xa hơn nữa, vượt qua vĩ tuyến 17 để xuống đến khu vực Đà Nẵng-Hội An, hay Nha Trang, thì phải đi máy bay, vì thế vào mùa nghỉ hè các gia đình có con nhỏ thích về Sầm Sơn một, hai tuần cho trẻ con đùa vui với sóng biển. Nhìn tấm ảnh hơn 70.000 người chen chúc nhau trên bãi biển Sầm Sơn trong mùa hè, tôi nghĩ rằng cái thị xã nhỏ ấy bỗng chốc phình ra chứa đựng thêm ngần ấy người và xe cộ. Sầm Sơn cách Hà Nội không xa, khoảng trên dưới 170 cây số, di chuyển bằng xe hơi trong 4 tiếng đồng hồ, một độ dài lý tưởng cho những người ở Hà Nội. Nếu so sánh Deauville, bãi biển nghỉ mát của vùng Normandie nối tiếng cho dân thành thị khu vực Paris, thì có thể so sánh Sầm Sơn như thế cho Hà Nội.
Tôi đến Sầm Sơn vào một ngày còn nắng nóng vào cuối tháng 8, cuối hè, học sinh khắp nơi đang chuẩn bị vào trường cho một niên học mới, bãi biển vắng vẻ. Con đường vào thị xã Sầm Sơn cũng như nhiều nơi khác, nhưng đây là phố biển, nên hàng hóa bán ra mang tính chất nghỉ hè biển: đồ chơi con nít trên cát, quần áo tắm sặc sỡ màu mè cho phụ nữ và trẻ em, đàn ông thì quần sọt….và đặc biệt là đã thấy bóng dáng của xe điện, loại xe thường thấy trong những sân golf, lác đác chạy. Phía tay phải của đường vào phố biển là đền Độc Cước, phía tay trái của phố biển là khu FLC, một khu du lịch hạng sang khép kín của Sầm Sơn, ai không có việc không dám bén mảng tới. Chỉ đi từ đầu này đến đầu kia là hết bãi biển. Thế mà, khách sạn mọc lên như nấm, san sát nhau, cũng không đủ để cho Sầm Sơn đón gần 4 triệu lượt khách trong mùa hè, gấp nhiều lần dân số của Sầm Sơn chỉ có 100.000 người theo thống kê năm 2015 !
Vài năm trước đây Sầm Sơn nổi tiếng về nạn „chặt chém“, nhưng dân thì đổ thừa cho quan, phải làm như thế mới thỏa mãn nổi yêu cầu của quan, trăm dâu đổ xuống đầu tằm, mà con tằm cuối cùng là du khách. Bây giờ, tình trạng chặt chém đã bớt, còn lại là tình trạng đắt đỏ. Sầm Sơn chỉ „cháy“ một năm có mấy tháng, rải rác từ tháng ba, tư, năm, đông nghịt từ tháng năm, sáu, bảy, rồi lại yếu dần cho đến hết mùa đông. Mùa thu, tháng 9, 10 thường hay có bão, mùa đông, lạnh đến 5 độ, mặc „hai lần áo len“, có ai thích ra biển chơi. Kinh doanh theo „vụ mùa“ nên giá cả phải „vọt“ lên mới đủ ăn.
Người dân Sầm Sơn ăn chắc mặc bền, có của ăn của để. Một anh lái xe điện kể rằng, mỗi năm anh để dành được một số tiền khoảng 60, 70 triệu, ngoài công việc lái xe điện cho hợp tác xã, hết vụ mùa du lịch thì anh „đi biển“. Mỗi lần ra khơi, anh đi hai, ba tháng mới về, „tất cả để lại cho vợ“. Thuyền đánh cá „đánh bắt xa bờ“ của anh, vì tiết kiệm xăng dầu, một khi đã ra khơi thì neo lại ngoài khơi hai ba tháng, một con tàu khác làm mối dây liên lạc chở cá về. Lúc nào chán biển, anh theo tàu cá liên lạc về đất liền gần nhất, Cát Bà, Hạ Long…., rồi lại theo ra.
Như thường lệ tôi đi tìm một khách sạn không sao để nghỉ chân. Giữa trưa nắng nóng, hình như mọi người rúc ở trong nhà, bãi biển là một dãi cát hẹp, dài cả cây số, con đường dài hai chiều bốn lằn xe hình như vừa mới được làm, các ô để trồng cây thì chưa có cây, một đàn bò thong thả ngậm cỏ trồng trên giải ngăn chặn giữa đường.
Mãi khoảng 5 giờ chiều mới thấy dân chúng ra tắm biển. Nước biển thì…ấm như trong bồn tắm ở nhà.
Sầm Sơn có ba làng chài, bến đậu của họ chen lẫn với bãi tắm, xem rất vui mắt. Có những con thuyền làm bằng bọt pô-ly-e-ti-len để đánh bắt gần bờ. Ở đây họ không dùng thuyền thúng như miền Trung. Sáng mai chưa rõ mặt người thuyền đánh cá „gần bờ“ đã bắt đầu giăng lưới, hai toán phụ nữ nắm hai đầu lưới, mỗi toán độ 5, 6 người, họ kéo lưới vào, quần áo ướt sũng nước. Cá thu hoạch được, bán ngay tại chỗ, năm sáu chiếc xe máy chạy ngay ra chợ để bán lại cá cho người tiêu dùng. Chỉ đến 6 giờ sáng là họ đã cuộn lưới, gánh lưới về, trả lại bãi biển cho những người chạy, tập thể thao buổi sáng. Cảng cá Sầm Sơn sầm uất, nhộn nhịp người tải người khuân. Biển là kho tàng vô tận, biển nuôi sống con người qua ngày nọ tháng kia.
Mức độ xây dựng khách sạn của Sầm Sơn đang tiến nhanh, nhiều khách sạn đang được xây dựng. Giá đất ở Sầm Sơn hiện nay khoảng 60 tỷ cho một mảnh đất 1.000 mét vuông. Nếu một năm chỉ „cháy“ phòng chừng ba tháng thì cũng đủ để sống cả năm. MTT

Mặt trờ lên ở Sầm Sơn

Mùa đông đã về

23/01/2016

Mùa đông đã về – ©MathildeTuyetTran, France 2016 – http://mttuyet.fr

Một ngày mùa đông rất đẹp, trên một mầu xanh, dưới một mầu trắng xóa

Chờ mãi từ tháng mười hai cuối năm 2015, những ngày Noel ấm một cách lạ lùng khiến cho người nhà nông đều nói là tháng ba, tháng tư năm 2016 sẽ là những tháng rất lạnh. Nhưng từ hai tuần nay thời tiết đã chuyển từ mưa gió lạnh ẩm qua băng giá, cho đến hôm nay thứ tư 20-01-2016 thì nhiệt độ xuống dần.

Miền Nam nước Đức đã xuống âm 20 độ dưới 0 độ. Còn ở vùng tôi ở thì buổi sáng sớm là khoảng âm 9 độ dưới không độ, ban đêm xuống đến – 15°. Một cái lạnh cực lạnh, nhưng khô, dễ chịu hơn là cái lạnh vừa vừa mà ẩm ướt.

Đến trưa màn sương trắng vẫn chưa được vén lên, có ngày không thấy mặt trời lên, nhưng khoảng 16 giờ chiều thì lại thấy ông trời lặn xuống, rất nhanh ở phía đông. Ban ngày, buổi trưa thì ông mặt trời mùa đông tròn xoe như cái đĩa, cũng trắng bạc như mầu sương trắng.

Hoa băng giá

Người nhà quê vui mừng khi thấy mùa đông về với băng giá, họ trầm trồ cảnh đẹp mùa đông, bên trên toàn một mầu xanh, bên dưới toàn một mầu trắng. Lạnh khô như trong tuần này thì sâu bọ chết bớt nhiều, mùa hè sắp đến sẽ có nhiều hoa quả. Nhưng những con thú vật trong rừng thưa, trên đồng rộng, thiếu chỗ ẩn núp, làm mồi rất rõ cho thợ săn. Ngay cả mấy con ác điểu, hai cánh xòe rộng hơn 1 thước bề ngang, bay lượn lờ khá thấp, kêu to « kạt kạt… » rồi đâm chúc xuống những con mồi tội nghiệp.

Hôm qua đi chợ về, bỗng nhiên thấy một con hoẵng trẻ, mới chừng được ba tuổi, vượt qua xe chúng tôi, chạy lên trước. Trời ơi, nó chạy còn nhanh hơn xe chúng tôi, bốn vó chân chạy trối mạng trên đường nhựa. Té ra, phía sau xe tôi, là xe của một đám thợ săn, bám sát đít xe, sốt ruột chờ đến khúc được qua mặt xe tôi, để đuổi theo con hoẵng và bắn chết nó. Chồng tôi, cũng là một tay thợ săn thiện xạ, lắc đầu phê bình, bọn này là bọn man rợ, luật cấm không cho đuổi theo thú bằng xe hơi mà bọn họ vẫn vượt qua luật.

Đám chim sẻ bay từng bầy ngang qua vườn nhà tôi, sang nhà hàng xóm, tíu tít dành nhau ăn trên cành cây, nơi bà hàng xóm đã cột lủng lẳng những quả cầu tròn làm bằng thóc lúa trộn với mỡ, để nuôi chim mùa đông.

Bên nhà tôi, thì con chim họa mi cổ đỏ vui mừng thong dong nhặt từng hạt gạo vãi trên sân sau, nó rất sợ bọn chim sẻ, chỉ dám mò đến kiếm ăn khi nó chỉ có một mình.

Vườn mùa đông có cây mầu trắng

Có một mùa đông, khi chúng tôi về Hà Nội vào mùa Tết, tháng ấy trước Tết miền Bắc lâm vào cảnh « rét hại », tức là đồng ruộng hoa mầu bị hủy hoại, trâu bò chết vì rét ở những nơi chủ không quây quít chuồng chắn gió, chắn mưa và chất rơm rạ cho ấm chuồng.

Chúng tôi ở một khách sạn rẻ tiền và không có ăn sáng, nên sáng sớm nào cũng phải mặc quần áo đủ ấm, đi ra khỏi khách sạn tìm chỗ ăn sáng. Người Việt, đi ăn sáng là một thú vui, cà lê chỗ nào cũng có cái ăn, phở, bánh cuốn, cơm tấm…đi xa, đi gần hay ngồi ngay trên lề đường, bên cạnh những cái nồi to tướng bốc khói nghi ngút quanh bờ hồ. Người nước ngoài thì không thấy vui chút nào cả, lại thêm phần khó chịu, đói bụng, khát cà phê thì đi thêm một bước là một bước càu nhàu.

Sáng sớm hồ Gươm cũng bốc khói sương mờ ảo, cái hồ mắt nhìn thì thấy nhỏ, nhưng chân đi một vòng là thấy mỏi, cũng xa đó chứ, cho người già. Cái lạnh ấy chỉ mới ở nhiệt độ là 9 đến 10° nhưng vì độ ẩm cao nên thấm qua các lớp quần áo, lạnh nhức nhối đến xương tủy. Trường học đóng cửa, học trò được ở nhà cho ấm. Những nhà hàng sang trọng thì có máy điều hòa không khí hai chiều, vào ngồi ấm áp. Nhưng có nhiều nhà hàng, tuy giá bán cao dành cho người nước ngoài, nhưng cửa mở bốn bề, gió lạnh thổi lồng lộng, chăm chút cho khách lắm thì họ đem ra cho một cái ông lò có một cục than hồng để sưởi ấm bên cạnh bàn. Chúng tôi không quen mặc đầy đủ quần áo, áo trong, áo khoác, mũ mãng để ăn trong cái lạnh, thấy vướng và khó chịu,

Bây giờ, bên nhà đang gần Tết, nhiều người chắc hẳn rất bận rộn lo sắm sửa quà Tết, biếu xén, lo gói bánh chưng, lo quần áo đẹp mặc ngày Tết, lo về quê ăn Tết… Cái hương vị ngày Tết tôi có ở nơi xa là mùi hương trầm rất thơm của những nén nhang đốt trên bàn thờ trong nhà, đó là món quà rất quý của một người bạn đem tận tay từ quê hương sang cho tôi mấy năm về trước, chỉ dám dùng những khi cần thiết, như khi có giỗ của mẹ tôi trong tuần qua.

Thánh lễ thụ phong Giám mục của Mgr. Renauld de Dinechin tại thánh đường Soissons ngày 20-12-2015

Thắp nén hương của bạn tặng, tôi bỗng nghĩ đến một chữ « cho ». Cách đây một tuần, chúng tôi đi dự thánh lễ phong Giám mục tại địa phận giáo hội quê hương của chồng tôi, vì cả đời ông ấy chưa được xem thánh lễ phong Giám mục, là một việc hiếm có. Nhà thờ đông nghẹt người dự lễ từ già cả cho đến trẻ em nằm nôi, có cả đến hơn ngàn người, nhiều người phải đứng dự lễ, tôi cũng đứng suốt hơn hai tiếng đồng hồ. Giám mục mới của địa phận truyền chữ của tòa thánh ban cho năm nay 2016 là Miséricorde (lòng khoan dung, độ lượng), khiến tôi liên tưởng đến hai chữ « Từ Bi, Bác Ái » của nhà Phật.

Sau buổi lễ dài hơn hai tiếng đồng hồ, giáo dân được mời uống nước để gặp gỡ Giám mục. Chúng tôi đi theo về nơi tổ chức trong một trường học gần nhà thờ. Mới vừa bước vào gian phòng, tôi nhìn chồng tôi cười, ngạc nhiên : Anh ngửi thấy mùi gì không ? À ! Mùi nem ! Đúng rồi, mùi nem rán của người Việt, không sai đi đâu được Tại sao lại có mùi nem rán ở một Soissons tỉnh lỵ ngày nay ?

Chị Hiệp (bên trái) và chị Dung (bên phải)

Hóa ra, cả một cộng đồng giáo dân người Việt « đi theo » Giám mục tham dự thánh lễ, vì ngài được chuyển từ một địa phận gần Paris về vùng của chúng tôi,  và có hai chị, chị Dung và chị Hiệp, đã tình nguyện làm hơn 1 ngàn cái « nem » (chả giò) và bánh quai vạt cho buổi chiêu đãi, làm ở nhà, đi hàng trăm cây số, đem đến tận nơi mới chiên tại chỗ cho nóng, rất ngon. Tôi chỉ là người (không làm mà được) thưởng thức.

Chị Dung rất vui vẻ, hòa hợp, chạy đến dúi vào tay tôi một cái vòng tay mầu xanh cẩm thạch có một cái thánh giá bằng gỗ nhỏ, Nè, tặng chị nè, Đức Cha ban phép lành rồi đó, khiến tôi sững sờ cảm động.

Trên cái đèn làm việc của tôi, nhìn nó hàng giây hàng phút mỗi ngày đã có treo chuỗi hạt thánh giá mầu trắng của anh V. tặng, nay có thêm cái vòng tay.

Lễ nhận quà tặng của giáo dân trong buổi thụ phong

Tôi rất hạnh phúc được cho như thế, nhất là khi hoàn toàn không chờ không đợi, không có một « nguyên nhân thương mại » nào cả, như ngày cưới, hay ngày sinh nhật… Có một hôm, chồng tôi đi lấy thư, toàn là những hóa đơn phải trả tiền, nộp thuế, khiến tôi than một cách mệt mỏi « Không có cái thư nào tình yêu bay đến hay sao ? », ông ấy trả lời ngay, « Vậy hả, vậy để tôi đi ra ngồi vào hộp thư nhé ! ».

Không cứ phải cho tiền, cho vật chất mới là cho, nhưng cho một nụ cười vui tươi, thông cảm, an ủi, cho một cái nhìn cảm thông thầm lặng, cho một câu nói đầy tình cảm chân thật, hóm hỉnh, khích lệ, cho một suy nghĩ, cho một nén hương thắp từ xa, thắp trong tâm tưởng, cho kinh nghiệm, cho kiến thức, cho hiểu biết…có rất nhiều điều để cho, nhưng cũng phải nhận thấy là mỗi người luôn vấp vào giới hạn của chính mình, có khi không biết cho, có khi không biết nhận.

Hành động « cho » là một hành động khó, không dễ. Mình cho ai điều gì, mà người được cho không thích người cho mà cũng không thích cái được cho. Mình cho ai điều gì mà người ta không cần có. Lòng vị kỷ, nhỏ nhen, kiêu ngạo….những tình cảm và ý tưởng thuộc về phạm trù « sân » giận thường làm mờ mắt, mờ tâm con người, nên có khi được cho thì họ lại nổi cơn giận, tự ái, tự phụ. Mình cho ai điều gì mà thực tâm chờ đợi một sự biết ơn, đáp trả thì việc cho đó là vụ lợi. Mình cho ai điều gì, hễ cho rồi thì thôi, không nghĩ trở lại việc đó nữa, có lẽ khó, nhưng mà hợp với tâm lành nhất và là một hạnh phúc cho chính mình.

Cái thú ở trong nhà sưởi ấm nhìn ra những cành cây đã đóng thành băng đá, làm cho không khỏi nghĩ đến những người khác lang thang không nhà không cửa, hay những trại người tị nạn giữa đồng không mông quạnh, và những người còn đang vượt biển đi di tản trong một thời tiết như thế. Cuối năm ta, bạn tôi viết thư, khoe sắp bay về ăn Tết « con khỉ » một tháng.
Tôi vẫn thèm muốn được về, để đầu trần, áo cánh ngắn tay phong phanh trên quần lụa mỏng, đôi dép lê nhẹ nhàng…như thế đi dạo phố phường, bãi biển… tắm nắng một bữa no nê trên quê hương. MTT