Aller au contenu principal
Publicités

Hoài niệm với Nevers và Sainte Bernadette

15. octobre 2018

Hoài niệm với Nevers và Sainte Bernadette – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2018

Từ mấy năm rồi tôi muốn đi đến thành phố ấy, mà cứ lần lửa, hết việc này đến chuyện kia cản trở, bệnh tật, chắc chưa có duyên lành. Không xa lắm, 500 cây số thôi, nhưng cứ ngược đường tôi đi thôi. Tháng chín năm nay, một ngày đầu thu tuyệt đẹp, chúng tôi quẳng lên xe cái va li nhỏ, lên đường đi Nevers.

Bernadette Soubirous

Nevers là một thành phố nhỏ êm đềm bên bờ sông Loire. Trên đường đi Nevers, chúng tôi đi ngang qua vùng Champagne đang vào mùa hái nho, những triền núi thoai thoải đẩy những ruộng nho xanh ngát phơi mình dưới ánh nắng cuối hè đầu thu. Khi xưa Nevers nổi tiếng vì nghề làm hàng sứ cao cấp, bây giờ trong trung tâm thành phố chỉ còn lại cái bảo tàng đồ sứ và những xưởng thủ công làm đồ sứ ở những con đường nhỏ hẹp đã mai một, đánh dấu một thời huy hoàng của Nevers.

Đến Nevers để cảm ơn một bà cụ già đã đến thăm tôi một lần hơn ba mươi năm về trước và bà đã qua đời lúc nào tôi lơ đãng chẳng quan tâm. Đến bây giờ nhớ lại, bà cụ lọng cọng một mình xách theo cái va li nhỏ, lên xe lửa từ Nevers đi đến Paris, đổi xe lửa ở Paris để đi sang Đức, bà phải vất vả cả một ngày trời di chuyển mới đến được chỗ tôi ở khi ấy. Trong cái va li nhỏ ấy, bà đem theo một cái bánh ngọt tự làm, cái bánh truyền thống làm nhà của người Pháp, đến làm quà cho chúng tôi. Cái bánh quatre quarts rất ngon, và bà dạy tôi, cứ lấy 4 phần bằng nhau, bơ, trứng, bột, đường, mà làm cái bánh. Tôi vẫn còn trông thấy trước mắt dáng người nhỏ nhắn gầy gò của bà ngồi trong chiếc ghế bành duy nhất trong phòng của con gái mới sinh của tôi, im lặng, nhìn tôi thay tã, tắm rửa cho cháu. Bà là bà cố của cháu. Bà ở thăm chúng tôi vài ba ngày, bình yên, rồi lại đi xe lửa về Nevers. Lúc còn trẻ, năng động lại vô tâm vô ý, không biết rằng người già di chuyển khó khăn, mệt nhọc hơn bọn trẻ rất nhiều, không biết trân quý công khó và tình cảm của bà. Đấy là lần duy nhất mẹ con tôi được gặp bà. Lúc bà qua đời bà để lại cho tôi một đôi bông tai vàng và cái áo măng tô lông chồn của bà, nhưng bà nhỏ bé hơn tôi khiến tôi vẫn giữ cái áo quý ấy, không mặc được.

Tôi đến thánh đường của Nevers, thánh đường Saint-Cyr-Sainte-Julitte ngự trị trên một ngọn đồi cao nhìn ra sông Loire, đốt nến, thầm thì lời cảm tạ trễ nãi đến bà.

Đã đi đến Lourdes viếng Đức Mẹ thì không thể không đến viếng thánh Bernadette. Đến Nevers cũng để thực hiện lời thầm nguyện hứa của tôi ở Lourdes là sẽ đến thăm nơi chôn cất thánh Bernadette, người đã 18 lần trong vòng 5 tháng năm 1858 lúc cô được 14 tuổi thấy Đức Mẹ hiện ra tại Lourdes và truyền lại phải xây dựng một ngôi nhà thờ ở đấy.

Bản đồ của Lourdes và vị trí hang Massabielle năm 1858

Cũng năm 1858 vào tháng giêng, vài ngày trước hiện tượng Đức Mẹ hiện ra, Bernadette mới được vào lớp học vỡ lòng. Cô bé Bernadette Soubirous 13 tuổi có cha mẹ nghèo sát đất, không biết đọc và cũng không biết viết, khi ấy những trường học đầu tiên được dành cho con trai và chưa có nền giáo dục phổ thông bắt buộc, cô giúp đỡ cha mẹ bằng việc đi lượm những cành cây khô về làm củi, cô bị hành hạ bởi những cơn ho suyễn từ nhỏ, sau này cô bị thêm bệnh lao phổi vì sống trong điều kiện cực khổ, mùa đông không được sưởi ấm, sức khỏe của cô luôn luôn yếu kém.

Đọc những cuốn sách viết về cuộc đời và những huyền thoại thêu dệt chung quanh Bernadette, tôi càng hiểu rõ hơn sự kiện Bernadette 18 lần nhìn thấy Đức Mẹ hiện ra không giản đơn một chút nào cả, tính đến nay đã tròn 160 năm, người hậu sinh càng không thể kiểm nghiệm phải trái, đúng sai, chỉ là niềm tin. Có những điều mà người ta không thể cắt nghĩa bằng lý trí và kỹ thuật hiện đại tân tiến.

Trải qua bốn năm, từ 1858 khi cô bắt đầu công bố nhìn thấy Đức Mẹ hiện ra lần thứ nhất cho đến năm 1862 khi hang động ở Lourdes được chính thức tu sửa và công cuộc xây nhà nguyện bắt đầu, thì Bernadette đã chịu đựng nhiều sức ép từ nhiều phía do nhiều nguyên nhân và mục đích khác nhau.

Ngày 11 tháng 2 năm 1858, khi cô bé kể chuyện thấy hình dáng một cô gái trẻ tuổi mặc áo trắng, thắt lưng mầu xanh, dưới chân là hai đóa hoa hồng vàng hiện ra trên vách đá ở hang Massabielle, thì câu chuyện cô kể có một sức lan tỏa diệu kỳ đồng thời cũng đưa cô vào những tình cảnh khó khăn khôn lưởng với mọi người chung quanh, nhà thờ và với chính quyền.

Người ta không tin chuyện cô kể, cho là nói dối, chuyện bịa đặt để tụ họp dân chúng, lường gạt để làm giầu, họ gây sức ép với cô để cô chối bỏ những điều cô nói, họ cho là cô điên loạn, thấy ảo ảnh. Cô bé bị dọa nạt bởi người trong làng, bởi các bà sơ dạy học và trẻ con, bị tát vào mặt, bị thẩm vấn nhiều lần bởi những nhân vật có uy tín trong chính quyền, bị chửi rủa, dọa bỏ tù, lập hồ sơ bệnh án, thậm chí họ còn tính đến chuyện bắt nhốt cô vào viện tâm thần. Không biết cô có ý thức được hậu quả những điều cô kể hay không. Cô can đảm nói rằng, cô được chọn vì không ai nghèo hơn cô, không ai dốt nát hơn cô.

Nhưng điều lạ lùng là một mặt không tin Bernadette, một mặt kể từ khi Bernadette được Đức Mẹ hiện ra lần thứ 4 thì cô bé đã thu hút nhiều giáo dân đến cầu nguyện với cô tại hang Massabielle. Phần thì do hiếu kỳ, phần thì tin vào một sự kiện đã xảy ra nhiều lần.

Nhất là sau lần hiện ra lần thứ năm, ngày 25 tháng 2, Bernadette nghe theo lời dùng tay bới đất đúng vào nguồn nước và uống những giọt nước đầu tiên còn nhiều bùn và cô hái một lá cỏ để ăn. Khoảng 350 người có mặt cùng với Bernadette lúc ấy đều kinh ngạc, cho là cô điên. Tờ báo địa phương Lavedan tường trình sự kiện và cho là cô bị kinh giật. Nhưng cũng buổi chiều ngày hôm ấy, một số người trở lại hang Massabielle, khơi vũng nước, để lộ ra một nguồn suối có nước trong và kể từ ngày hôm đó những chai nước suối đầu tiên được đưa về làng.

Ngày 25 tháng 3, Bernadette hỏi hình bóng hiện ra trong nguồn sáng « Xin « Cô » cho biết tên gọi của « Cô » thì được trả lời « Ta là Vô nhiễm nguyên tội » (Que soy era Immaculada Councepciou).

Phép lạ đầu tiên của Louis Bouriette nhận được loan truyền đi khiến cho cả ngàn người từ xa đổ về Lourdes và những làng lân cận để tâm lưu ý.

Mọi người đểu biết lời hứa của Bernadette sẽ cầu nguyện tại hang Massabielle trong 15 ngày, nên đến ngày cuối cùng của lời hứa 15 ngày thì số giáo dân tìm đến Lourdes để chứng kiến Bernadette cầu nguyện tại hang Massabielle lên đến tám ngàn người, đứng chật ních, một viên cảnh sát phải mở đường cho Bernadette đi qua đám đông. Lúc ra về, Bernadette thấy một cô bé mù được cha mang theo, Bernadette đến gần cô bé mù Eugenie và hôn cô, cô bé cười, Bernadette hôn cô lần nữa, cô bé muốn nhìn thấy người hôn cô, mở băng mắt, và nhìn thấy Bernadette. Đám đông kêu ồ lên phép lạ.

Mới 14 tuổi, cô trở nên một nhân vật khác thường, người được trông thấy Đức mẹ «Vô nhiễm nguyên tội », giáo dân cũng gây sức ép với cô, họ săn đón cô hầu cắt được một lọn tóc, xé được một mảnh áo của cô, chạm vào người cô, cả đến sợi chỉ may váy cô mặc cũng là vật linh thiêng. Người ta cho tiền, cho quà cáp để được ban phúc lành, được gặp cô….cô đều từ chối, đến cả không nhận một trái táo.

Chỗ dựa duy nhất của cô là các cha sở tại, dần dần có niềm tin vào những điều cô kể qua 18 lần đối thoại với Đức Mẹ, và giáo dân, cùng với sự giản đơn, kiên nhẫn, thành tâm của chính cô. Các câu chuyện cô kể đã được đưa lên mặt báo, tiếng đồn xa về đến tận Paris, giáo dân các nơi lần lượt tìm về Lourdes hầu gặp Bernadette.

Theo truyền thuyết, Napoleon III, thể theo nguyện vọng của vợ là nữ hoàng Eugenie, vào ngày 9 tháng 9 đã cho truyền điện ra lệnh bãi bỏ việc ngăn cản giáo dân đến nguồn nước ở động Massabielle do chỉnh quyền sở tại và tỉnh trưởng Oscar Massy ban hành từ tháng 6. Đến ngày 5.10 thì hang Massabielle được mở vĩnh viễn để dân chúng tự do đến nguồn nước.

Sau một năm, có khoảng 30.000 người tìm đến Lourdes và ai cũng muốn gặp Bernadette, cô là nhân vật chính của sự tôn thờ, vì thế linh mục Peyramale phải tìm cách bảo vệ cô, nhưng cô vẫn muốn ở nhà để giúp đỡ cha mẹ. Nhưng đến tháng một 1860 mới tìm ra giải pháp để đem Bernadette vào tạm trú trong nhà thương của các bà sơ dòng Bác Ái và được theo học trong một lớp học của nhà dòng. Chính ông xã trưởng Anselme Lacade là người đứng ra bảo lãnh về tiền bạc cho cô.

Một đường xe lửa mới nối Lourdes và Pierrefit được mở ra và khánh thành năm 1865 để những chuyến tàu người hành hương được về đến Lourdes.

Bernadette ở Lourdes đến năm 1866 thì rời khỏi Lourdes vĩnh viễn để vào nhà dòng nữ tu Bác Ái (les sœurs de la Charité) tại tu viện Saint-Gildard ở thành phố Nevers, cách Lourdes hơn 700 cây số, ngày xưa đi xe ngựa, phải thay ngựa ở trạm bưu điện (relais de poste) mỗi khoảng 20 cây số, đi cả mấy ngày đường mới đến nơi.

Bernadette Soubirous

Lúc vào tu viện, Bernadette được 22 tuổi. Thời ấy, muốn vào tu viện thì phải có của hồi môn tùy theo gia đình giầu có nhiều hay ít, vài trăm hay vài ngàn quan tiền vàng, mà nạp vào tu viện. Bernadette không có một xu, được giám mục của Nevers, Théodore-Augustin Forcade, đặc cách bảo lãnh cho vào tu viện. Bởi bà hay đau ốm, không làm được việc gì nặng, nên trong tu viện bà được phân công chăm sóc người bệnh, « dù chỉ là đưa cho người bệnh chén trà ly nước ».

Khi mẹ bà mất, năm 1866, mới có 41 tuổi, và khi cha bà mất năm 1871 (64 tuổi) Bernadette phải ở tu viện, không về được.

Ở tu viện được 13 năm, bà về trời khi còn rất trẻ, năm 1879 mới có 35 tuổi đời vì bạo bệnh.

Bốn mươi sáu năm sau, bà được phong thánh và tháng tám năm 1925, thân xác thánh Bernadette được đặt trong hòm kính và đồng trong nhà thờ dòng nữ tu Bác Ái tại Nevers để mọi người đến viếng tự do.

Trong nhà thờ tu viện của các bà sơ dòng Bác Ái tại Nevers

Đã có nhiều người tìm cách « giải mã » những chuyện đã xẩy ra ở hang Massabielle theo lý trí và khoa học.

Thời Trung cổ những rặng núi cao, chập chùng như rặng núi Pyrénées có sức thu hút con người và trí tưởng tượng phong phú. Sự huyền bí, những phép lạ của Đức Mẹ đồng trinh, cũng những hang động bí ẩn, những con quỷ dữ…là một đề tài truyền thống được những người mê tín lưu truyền miệng cho nhau. Một tin phép lạ xuất hiện là lan tràn truyền miệng ngay tức khắc trong vùng, những người nghèo, người bần cùng, người cùng khổ luôn tin rằng sẽ được cứu nạn. Cô bé Bernadette, tuy không biết chữ, nhưng đã được ru trong những chuyện kể dân gian, địa phương.

Tầng lớp tăng lữ dần dà đứng về phía người dân, không còn thuộc về tầng lớp quý tộc và trưởng giả như trước cuộc Cách mạng dân chủ. Cha xứ nhà thờ ở Lourdes, Marie-Dominique Peyramale, sau một thời gian tỏ vẻ nghi ngờ, cuối cùng đã đứng về phía Bernadette, bảo vệ cho cô bé không bị đem đi nhốt vào nhà thương điên.

Nhiều người hỏi cắc cớ, hình bóng hiện ra nói ngôn ngữ nào, vì biết rằng Bernadette nói tiếng thổ ngữ, không nói tiếng Pháp, mà không hiểu rằng trong vấn đề tâm linh, các cuộc đối thoại không phải là nói lời ra cửa miệng, mà là đón nhận và hỏi cũng như trả lời trong tâm thức.

Giám mục Bertrand-Sévère Laurence của địa phận Tarbes, không mang vẻ khinh khi những gì đến từ nhà quê xa xôi như cũ, mà chấp nhận những sự kiện tâm linh vùng quê để biến nó thành một giải pháp quốc gia, một mặt ông đứng về phía công giáo bình dân, một mặt ông dựa vào thế lực của tầng lớp trưởng giả bảo hoàng.

Khi thẩm vấn Bernadette, sau một thời gian làm việc của hội đồng thẩm định kéo dài 3 năm rưỡi, giám mục Laurence ấn tượng bởi sự cương nghị trước sau như một, sự đơn giản và ngay cả sự « ngu dốt » của cô khiến cho cô không thể nói láo vì cô không biết chữ, và hàng chữ Que soy era Immaculada Councepciou do cô lập y lời cô đã nghe chứng tỏ cô không biết bịa đặt, mà khái niệm này bốn năm về trước đức Giáo hoàng Pie IX đã giảng giáo lý về Đức Mẹ đồng trinh. Giám mục Laurence nhận ra rằng câu chuyện của cô bé Bernadette sẽ là một kết nối tuyệt vời hình ảnh Đức Mẹ trong niềm tin công giáo thời đại mới, đồng thời cũng là kết nối giữa đức Giáo hoàng và con chiên ở khắp nơi, cho nên nhà thờ đã quyết định đứng về phía cô.

Những cuộc thẩm vấn của chính quyền thì đã để lại nhiều dấu vết qua các hồ sơ và báo cáo, ảnh chụp… từ cấp dưới lên cấp trên.

Bác sĩ Thérèse Valot cho rằng đó chỉ là hiện tượng tự kỷ ám thị quen biết trong môi trường bệnh án tâm thần học, đó là một sự trộn lẫn giữa di truyền, nguồn gốc gia đình, ảnh hưởng của tôn giáo và sự giản đơn của trình độ hiểu biết của một đứa trẻ con đối với thế giới bên ngoài, tính cách di truyền của sự nghiện rượu là chắc chắn.

Đó là những đánh giá của những người đương thời thế kỷ 19.

Cuộc đời của Bernadette Soubirous đã là đề tài cho nhiều nhà văn nổi tiếng như Emile Zola, Francois Mauriac, Franz Werfel, Joris-Karl Huysmans, Gilbert Cesbron…cũng như mười mấy cuốn phim ảnh.

Trong thời đại hiện tại, đã 93 năm qua, hàng ngày đều có những đoàn hành hương từ khắp nơi đến Nevers. Cả thành phố Nevers về kinh tế, nhất là khách sạn và nhà hàng, như chỉ sống nhờ vào sự hiện hữu của thánh Bernadette. Trước kia các bà sơ đón tiếp khách hành hương 365 ngày và 24/24 tiếng, nhưng nay thì điều kiện đón tiếp đó không thể tồn tại với nhân viên làm công, thay vào đó số lượng khách ghé thăm vài giờ rồi đi ngay tăng lên, khiến cho Nevers lúng túng trong phần khai thác số khách du lịch này. Khu vực tu viện nằm bên cạnh một công viên xanh, có nhiều cây cao vút, thì lại « hoang vắng » đối với du khách muốn cái gì cũng phải có ngay có sẵn, đi vào trung tâm thành phố thì ngại xa, dù là 15 phút đi bộ. Phải nói thêm khách hành hương đến Nevers đều là thành phần có tuổi, có bệnh.

Theo thống kê năm 2018 của báo chí thì hàng năm có khoảng 250.000 du khách đến Nevers để viếng thánh Bernadette, phần lớn đến từ rất xa như Ba Lan, Bresil, Nam Dương, Canada …, họ kết hợp trong một chuyến du lịch luôn cả hai địa điểm Lourdes và Nevers. Từ Paris có đường xe lửa đi về Nevers.

Trong khi đó số lượng khách hành hương tại Lourdes đạt đến trung bình 5 triệu lượt mỗi năm và thâu về khoảng gần 322 triệu €, nếu tính luôn cả chi phí chuyên chở của những đoàn hành hương thì số thâu lên đến 548 triệu €. Lourdes là thành phố thứ hai sau Paris có số lượng giường trọ lớn nhất nước Pháp, 22.200 giường, trước cả Nice.

Năm 1844 thì Lourdes chỉ là một điểm dừng chân dưới rặng Pyrénées, có một lâu đài cổ dùng làm nhà ngục đến thế ký 19 và khoảng hơn 4.000 dân, đa số làm nghề nông, thợ đục đá và một vài nhà máy xay bột bằng sức nước ở những con suối. Dân chúng nói tiếng thổ ngữ (occitan gascon) vả ít hiểu tiếng Pháp. Mẹ của Bernadette, bà Louise Casterot-Soubirous, sinh đến 9 lần, Bernadette là con cả, chỉ nuôi được 4 người con, số tử vong của trẻ sơ sinh rất cao, phụ nữ chết trẻ.

Dân số của Lourdes năm 2018 là 14.361 dân, Nevers có 34.228 dân không kể các vùng phụ cận. Lourdes được xây cất nhanh, trở nên giầu có, lộng lẫy, đã hết mất vẻ hoang sơ, nghèo khổ của thời Bernadette. Ai đến Lourdes cũng ráng sức mang nước của Lourdes về nhà. Uống tại chỗ thì nước mát lạnh, trong suốt.

Hiện nay hai thành phố Lourdes và Nevers vẫn tranh cãi với nhau về nơi đặt linh cữu bằng kính trong suốt của thánh Bernadette. Thành phố Lourdes vận động gia đình Soubirous hỗ trợ để đem thánh Bernadette về lại quê nhà, tất nhiên gặp phải sự phản kháng của Nevers. MTT

Publicités

Biển cả và chiến thuyền L’Hermione

7. octobre 2018

Biển cả và chiến thuyền L’Hermione * ©Mathilde Tuyết Trần, France 2018

1280px-Hermione_Brest_10_08_2015_101

Chiến thuyền L Hermione tiến vào cảng Brest 2015

Đã từ rất lâu, các nhà có hiểu biết khoa học, biết rằng ba phần tư diện tích trái đất là biển  cả. Muốn chinh phục thế giới, chinh phục các lục địa, các quốc gia, các phần đất hoang vu xa xôi thì phải chinh phục biển cả. Quá trình chinh phục thế giới vì thế gắn liền với quá  trình phát triển hàng hải, hải quân và các ngành khoa học kỹ thuật phục vụ cho hải quân  như địa lý, thiên văn, chế tạo vũ khí…

Đối với các quốc gia có biên giới bờ biển thì hải  quân  là sự sống còn của quốc gia đó.  Muốn giữ nước thì phải có một lực lượng hải quân hùng mạnh. Một thí dụ còn  tồn tại trong trí nhớ hiện đại là cuộc đổ bộ trên bờ biển Normandie nước Pháp của quân  đội Đồng Minh và lực lượng kháng chiến Pháp vào ngày 06.06.1944, đưa đến sự tháo chạy  của quân đội Đức quốc xã, một trong những yếu tố kết thúc đại chiến thứ hai 1945.blog3__005796300_1643_08092014

Vàng, gỗ và sắt là ba nguyên liệu khơi dậy ham muốn tột cùng trong thời đại Trung cổ. Để  lên đường tìm vàng, con người nghĩ đến đường biển. Muốn thế, phải có thuyền to đủ sức  vượt đại dương. Muốn đóng thuyền thì cần gỗ tốt, sắt, đồng và kỹ thuật. Đóng được  thuyền rồi thì cần phải có hải quân và nhà địa lý, người vẽ bản đồ thế giới và địa phương,  định  phương hướng và cung cấp những thông tin sơ khởi, cơ bản về con người, mầu da,  tiếng  nói, tôn giáo, tập tục, phong thổ, khí hậu, đất đai, biên giới, sông lạch, biển hồ, núi  non,  đường xá, cách tổ chức xã hội, nông nghiệp, thương mại…  của những vùng đất họ  mới  khám phá ra, cho các triều đình vua chúa Âu châu.

Công xưởng La Corderie Royale ở cảng Rochefort, Pháp. Photo: MTT

Các cuốn sách địa lý cổ, tuổi đã mấy trăm năm, là những nguồn thông tin rất hấp dẫn, lý  thú. Bản đồ xưa nhất thế giới mà các nhà khảo cổ học tìm thấy có lẽ là những vạch khắc  trên đá của người da đỏ châu Mỹ mười ngàn năm trước Thiên Chúa. Từ đó, những kiến  thức mới mẻ về địa lý, thiên văn và công việc vẽ bản đồ không ngừng tiến triển, rất   được trọng dụng, được xem là những tư liệu tối mật,  có tác dụng chính trị và quân sự  làm thay đổi bộ mặt thế giới, có tầm quan trọng quốc gia, chỉ dành riêng cho vua chúa  và triều đình.

Con người biết đóng thuyền để di chuyển trên sông lạch biển hồ từ rất lâu, đến mấy ngàn  năm trước dương lịch. Các cuộc di dân từ lục địa này sang lục địa khác từ các thời cổ đại  làm cho các nhà khảo cổ học đặt câu hỏi về đường biển, dân di cư không thể vượt đại  dương bằng chân được , họ đã phải biết dùng thuyền. Tuy nhiên, những vết tích khảo cổ  học còn lại chỉ chứng minh được sự phát triển của ngành đóng tàu từ khoảng thời gian  hai ngàn năm trước dương lịch, và sở dĩ các dân tộc Hy Lạp, La Mã và Ai Cập trở thành  những cường quốc trước dương lịch chính vì họ đã có các đội thủy quân hùng hậu. Đến  thế kỷ thứ mười bốn, con người đã có kỹ thuật đóng những chiếc thuyền rất to, vượt  đại dương, có trang bị súng ống.

Các loại dây thừng to nhỏ sử dụng trên chiến thuyền. Photo: MTT

Thời Trung cổ các hoạt động thương mại liên lục địa theo đường bộ đã rất tấp nập.  „Con đường tơ lụa“ (la route de la soie, the Silk Road) – tên dịch theo nguyên gốc tiếng  Đức „die Seidenstrasse“ do nhà địa lý người Đức Ferdinand von Richthofen đặt ra sau  này vào năm 1877 – là „con đường“ thương mại nổi tiếng trên thế giới từ thời Marco  Polo trong thế kỷ thứ mười ba, xuyên từ châu Á sang châu Âu bằng đường bộ, một mạng  lưới hệ thống buôn bán chằng chịt từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam. Nhưng đường  bộ xuyên lục địa, xuyên qua biên giới lãnh thổ nhiều nước đem lại rất nhiều hiểm nguy  không biết trước và cũng không né tránh được, gây ra rất nhiều khó khăn, mất người  mất của trong việc mua bán chuyên chở hàng hóa, cho nên các nhà buôn từ Âu châu  tích cực tìm cách xây dựng đường biển trong vấn đề thương mại: biển cả không có  biên giới !

Trong thời đại Toàn cầu hóa của chúng ta ngày nay, ở vào thế kỷ thứ 21, những suy tính của thời Trung cổ chưa hề bị mất tính thời sự. Nhân công rẻ, sử dụng tài nguyên thiên nhiên tại chỗ và chiếm hữu đường biển để chuyên chở hàng hóa là 3 điều kiện tiên quyết để phát triển giầu có, mà công cuộc phát triển công nghệ, khoa học kỹ thuật cũng không ngoài mục đích phục vụ cho một mục đích tối hậu đó. Thay vì nô lệ thời Trung cổ, nền khoa học kỹ thuật tiên tiến đang chế tạo Robot và sử dụng những hệ thống tự động trong sản xuất để thay thế sức người. Từ những thế kỷ cũ cho đến hiện đại thì tiền và quyền lực là trên hết, đó là chiến lược, là chính sách, là mục đích.

Cỗ máy bện dây thừng. Photo: MTT

Ý đồ này phù hợp với chính sách quân sự và chính trị đế quốc của các triều đình châu Âu,  đôi bên cùng có lợi, cho nên sự phát triển về đường biển được hai thế lực chính, thương  mại và hải quân, thúc đẩy rất nhanh chóng. Các cuộc thám hiểm bằng đường biển trở  thành một cuộc chạy đua với thời gian. Đường biển, xem ra thì mênh mông, chứa đựng  nhiều nguy hiểm vì thiên nhiên, nhưng lại ít nguy hiểm vì con người.  Con đường ra biển cần phải có nhiều đầu tư và kỹ thuật.

Vào đầu thế kỷ thứ mười lăm, nhờ sự tiến bộ về hàng hải, người Bồ Đào Nha đã bắt đầu  những cuộc thám hiểm bằng đường biển, khám phá ra những vùng xa xôi trên trái đất,  và qua đó bắt đầu đặt nền tảng cho đế quốc Bồ Đào Nha. Họ đem các sản phẩm địa  phương đặc sắc khắp nơi về trình triều đình Bồ Đào Nha. Chính các thuyền biển của Bồ Đào  Nha  đã cập bến Việt Nam, trước người Pháp, nhưng sau này họ đồng ý „nhượng quyền“  khai  thác Việt Nam cho Pháp. Có thể nói, hai nước thực hiện chính sách thực dân sớm  nhất,  trong mục đích bảo đảm độc quyền sản xuất và thương mại các sản phẩm đặc biệt  của các thuộc địa, thông qua chiêu bài truyền đạo Thiên Chúa là Bồ Đào Nha và Tây  Ban Nha. 1) 2)

Một cuộn dây thừng

Từ ham muốn đi tìm vàng, người Âu châu khám phá thêm một nguồn lợi bóc lột khác:  nô lệ, và nhiều nguồn lợi khác, không có trên đất của họ. Công việc buôn bán nô lệ được  Giáo Hoàng Léon X chính thức cho phép vào năm 1517.

Từ đầu thế kỷ mười sáu, các quốc gia Anh, Hòa Lan, Pháp và Ý tranh dành quyền lực  trên biển với Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, nhiều trận hải chiến nổi tiếng đi vào lịch sử… Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha mất dần ưu thế và xuống hàng thứ yếu. Trước thế lực và sự  bành trướng của ba đế quốc Anh, Pháp, Đức từ thế kỷ 17, nước Mỹ cũng tìm cách trở  thành  một thế lực mạnh nhất toàn cầu, mua Alaska của Nga năm 1867 với giá là 7,2 triệu đô la Mỹ, và đi tìm chiếm hữu thuộc địa, chủ yếu các vị trí chiến lược mới trên vùng  biển Thái Bình Dương, Ấn độ dương và Đại tây dương.

Vào đầu thế kỷ thứ mười bẩy, các thương nhân giầu có ở Pháp, với sự ủng hộ đặc biệt của  Jean-Baptiste Colbert, xin được đặc quyền của vua Louis XIV và triều đình thiết lập công  ty  hàng hải để buôn bán với các nước ở châu Mỹ và châu Á. Họ dùng vị trí địa lý của Ấn  Độ làm trung tâm và đặt tên hai công ty hàng hải cho hai hướng khác nhau: Compagnies  des  Indes occidentales thành lập năm 1664 để buôn bán với châu Mỹ và Compagnies  des Indes orientales thành lập cùng năm 1664 để buôn bán với châu Á.

Muốn chiếm hữu thuộc địa và chuyên chở tài nguyên, hàng hóa khắp nơi trên thế giới,  Colbert thúc đẩy phát triển lực lượng hải quân và hàng hải thương mại, mộ quân lính,  nỗ lực đóng tàu, xây dựng cảng, các kho hàng khổng lồ, kho súng ống đạn dược – vũ khí  là  một loại hàng xuất cảng của Pháp rất được hâm mộ bởi các nước còn kém phát triển  về  kỹ thuật – cho nên

Rất nhiều giây thừng nhỏ bện lại thành giây thừng lớn. Photo: MTT

Colbert cũng được xem như cha đẻ ra quyền lực hải quân của  Pháp,  đồng thời cũng là người  thúc  đẩy chính sách chiếm hữu thuộc địa.

Cùng thời đại với Colbert và triều đình vua Louis XIV, ở nước ta là thời „một vua hai chúa“  và „Trịnh-Nguyễn phân tranh“, tức là đời thứ ba của dòng chúa Nguyễn, Nguyễn Phúc  Nguyên tục gọi là Chúa Sãi, 1613-1634, triều đình vua Lê Kính Tông (Lê Duy Tân) và chúa  Trịnh (Trịnh Tùng  1570-1623, Trịnh Tráng 1623-1657).

Các chúa Nguyễn mở đường mở đất xuống phía Nam, nhà Hậu Lê dần dà suy yếu, các cuộc  nội chiến giữa hai quân quyền Trịnh-Nguyễn và các cuộc chiến tranh Nam tiến tuy củng  cố thế lực của nhà Nguyễn nhưng làm cho cả ba quyền lực lãnh đạo Lê-Nguyễn-Trịnh quên công việc nhìn ra bên ngoài biên giới nước Việt, nhất là về hướng Âu châu,  thấy hiểm họa các thế lực đế quốc Âu châu đang trên đường thực hiện chính sách chiếm  hữu thuộc địa. Con đường Nam tiến của các chúa Nguyễn là con đường chiến lược đúng  đắn,  nhìn xa trông rộng lâu dài.

Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tại Âu châu, được đánh dấu bởi phát minh ra máy chạy  bằng hơi nước của James Watt (1736- 1819), đồng thời đại với chúa Định Vương Nguyễn  Phúc Thuần tại Việt Nam (1754-1777) 3). Trong khi Âu châu và Mỹ châu bắt đầu đi vào  thời đại kinh tế tư bản với sự phát triển nhanh chóng mạnh mẽ của tất cả mọi ngành  nghề  kỹ thuật cao cấp, nặng và nhẹ, thì nước ta còn trần ai khổ ải trôi nổi trong các cuộc  nội chiến giữa ba thế lực Lê-Trịnh-Nguyễn và sự xâm lăng của nhà Thanh bên Tàu, khi  vua Lê Chiêu Thống chạy sang Tàu cầu cứu với mục đích muốn khôi phục lại ngôi báu nhà Hậu Lê.

Biểu diễn bện dây thừng theo phong cách cổ xưa. Photo: MTT

Nếu lấy cuộc Cách mạng dân chủ 1789 tại Pháp làm mốc thời gian, thì kể từ ấy, cuối thế kỷ  mười tám, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật dần dần hình thành rõ nét, các phát minh,  sáng chế cải thiện sản xuất và đời sống nối đuôi nhau xuất hiện, các nước Âu châu thoát  ra  khỏi thời kỳ nông nghiệp, để trở thành những quốc gia phát triển kỹ nghệ. Các cường  quốc  Âu châu Anh, Pháp, Đức, Hòa Lan, Ý…sôi sục tranh dành nhau chiếm hữu thiết lập  thuộc địa, phân chia bản đồ thế giới vì họ đều cần tài nguyên thiên nhiên sắt, thép,  than, dầu hỏa, vàng, bạc, chì, kẽm…và nhân lực, ít hay không có tốn kém.

Giữa thế kỷ 19, Phó đô đốc hải quân Charles Rigault de Genouilly đã với sự giúp sức của quân  Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng (Tourane) vào ngày 01.09.1858, mở đầu mở đầu cho công  việc chính quyền thực dân Pháp chiếm hữu Việt Nam làm thuộc địa.

Lịch sử ngành đóng tàu bắt đầu từ mấy ngàn năm trước dương lịch, người Ai Cập, La Mã,  dân Wiking Bắc Âu của thời thượng cổ đã đóng những chiếc thuyền lớn chèo bằng nô lệ  và có buồm vải. Nhưng vấn đề đặt ra khi ấy là làm thế nào để đóng những chiếc thuyền đủ  sức ra biển khơi sóng cả mà không vỡ tan ra từng mảnh hay chìm lỉm chỉ vì một con  sóng  dữ, và lênh đênh nhiều ngày trước khi cập được đất liền.

Cụ bà hơn 80 tuổi còn hăng say biểu diễn bện dây thừng bằng tay theo phương pháp cổ. Photo: MTT

Tuy rằng đứng trên bình diện kỹ thuật, các thuyền đóng ở Trung Hoa vào thế kỷ mười ba vượt trội hơn nhiều loại thuyền đồng thời của Âu châu, nhưng sự ra đời của chiến  thuyền Caravelle đã đem lại một bước ngoặt và một ưu thế vô cùng to lớn cho người Âu  châu trong mục  đích thám hiểm vòng quanh trái đất và chiếm hữu thuộc địa.

Thuyền Caravelle (tiếng Pháp) là kết quả của một sự phát triển về kỹ thuật đóng thuyền xây dựng trên những mẫu thuyền đánh cá đã có từ nhiều thế kỷ trước, chủ yếu dùng để  di  chuyển trên sông  lạch hay ven biển.

Chiến thuyền này đáp ứng được mọi nhu cầu cần thiết: ra được biển khơi, lướt nhanh sóng  cả, chịu gió, đủ lớn để chứa lương thực và nước uống dự trữ cho nhiều ngày, có trang bị  súng cà nông. Tên Caravelle, tiếng Bồ Đào Nha là Caravela, xuất hiện trong sử sách từ năm  1226.  Đến cuối thế kỷ thứ 15 thì chiến thuyền Caravelle được đóng với chiều dài từ 30 đến 35 mét, có ba cột buồm thay vì hai buồm như trước kia, sức chuyên chở vào khoảng 63,5 tôn nô, và thủy thủ đoàn cần có đến 60 người, thay vì 20 người trước kia. Cuối thế kỷ thứ 16, chiến thuyền  Caravelle được đóng với sức chuyên chở đến 158,5 tôn nô. Hậu thân của chiến thuyền  Caravelle là loại thuyền Galeone.

Bài viết này đơn cử thí dụ chiếc chiến thuyền mang tên L‘Hermione, thuộc hàng chiến  thuyền nhẹ (frégate), chiều dài tổng cộng 65 mét, bề ngang bên trong rộng hơn 11 mét,  có sức trọng tải  1.116  tôn nô (tonneaux) và 255 người, chứa 26 khẩu súng cà nông bắn đạn 12 livres (khoảng 6 kí lô một viên đạn) và 8 khẩu súng cà nông bắn đạn 6 livres  (khoảng 3 kí lô), có ba cột buồm, cột buồm chính cao 54 mét, giăng một diện tích buồm là  1.500 mét vuông.

Photo: MTT

Năm 1778 chính tại cảng Rochefort, nơi có công xưởng la Corderie Royale nằm gần sát bờ  sông, chiến thuyền nguyên thủy được đặt tên là  l’Hermione đã được cấu tạo.

Cảng Rochefort nằm kín đáo, dễ phòng thủ và khó bị tấn công, trên cửa sông Charente đổ ra biển (Bretagne) là một cảng nhỏ, đóng và sửa chữa  tàu truyền thống của hoàng gia Pháp từ thời Colbert, thế kỷ thứ 17. Ngay tại cảng có công xưởng la Corderie Royale là nơi chế tạo các sản phẩm phục vụ ngành đóng tàu như  dây thừng, buồm vải…và các vật dụng linh tinh khác.

Tầng dưới boong tàu trong chiến thuyền Hermione đang được xây dựng. Photo: MTT

Chiến thuyền l’Hermione do kiến trúc sư Chevillard Aîné thiết kế mẫu, cùng được đóng một lúc tại Rochefort với ba chiến thuyền khác mang  tên là la Courageuse, la Concorde và la Fée. 18 ngành nghề thợ thuyền với tổng cộng 286  người chuyên nghiệp đã tham dự đóng tàu. Phí tổn đóng chiến thuyền L‘Hermione lên đến 476.932 quan tiền vàng (livres), tương đương với  4.006.229 quan Pháp năm 1987.  Ngày 14.05.1779 sĩ quan và thủy thủ đoàn tổng cộng 272 người lên chiến thuyền L‘Hermione mới tinh, dưới đáy thuyền là thực phẩm đủ ăn cho 5 tháng và 60  thùng nước uống.

Thời ấy, với một đội ngũ nhân công rất đông đảo, luôn cả tù nhân bị làm việc khổ sai,  công việc đóng một chiến thuyền, xử dụng gỗ của hơn 2.000 (hai ngàn) cây sồi (chêne),  chỉ  xảy ra trong một thời gian gấp rút là 11 tháng.

Từ năm 1666 đến 1926 cảng Rochefort đã đóng khoảng 500 chiến thuyền mới. Năm 1779  l‘Hermione được chỉ huy bởi thuyền trưởng  Louis-René Vassor de la Touche.

Chiến thuyền L‘Hermione đi vào lịch sử hàng hải vì đã đem Gilbert du Motier, được người  đời biết đến qua cái tên Hầu tước La Fayette (marquis de La Fayette, sinh ngày 06.9.1757  tại Chavaniac, qua đời ngày 20.05.1834 tại Paris) trở lại châu Mỹ vào năm 1780 để giúp đại  tướng Washington đánh quân Anh dành lại độc lập, dưới thời vua Louis XVI.  4)

Chiến thuyền Hermione được xây dựng trong một hào cạn, gồm có ba tẩng. Photo: MTT

Trước đó, từ năm 1977 cho đến 1779 La Fayette tự nguyện chiến đấu trong hàng ngũ của Washington. Năm 1779, lúc ông chỉ mới có 22 tuổi, La Fayette trở về Pháp để thuyết phục  vua  Louis XVI trợ giúp quân sự cho Washington.

Được sự đồng ý của vua Louis XVI, hầu tước La Fayette, mới có 22 tuổi, lên chiến thuyền  L‘Hermione vào ngày 21.03.1780 vượt Đại Tây Dương trở lại Mỹ. La Fayette cập bến Boston  sau 38 ngày lênh đênh trên biển, rồi cùng với đạo quân của hai tướng Pháp lừng danh  Rochambeau và de Grasse, chỉ huy trận đánh chiếm Virginia.

Quân Anh đầu hàng tại Yorktown vào năm 1781. La Fayette trở về Pháp trong vinh quang,  ông được Washington trọng thưởng, dân da trắng châu Mỹ mang ơn, và vua Louis XVI  hậu  đãi. Tuy nhiên chiến phí của nước Pháp để giúp Washington lên đến 2 tỷ quan tiền  vàng  thời ấy, đưa đến bất mãn trong dân chúng Pháp vì sưu cao thuế nặng, một trong  những  tiền đề cho cuộc Cách mạng dân chủ Pháp  năm 1789.

Chiến thuyền Hernione được đóng hoàn toàn bằng gỗ sồi. Photo: MTT

Cùng thời này, ở Việt Nam, theo tác giả Nguyễn Thanh Lợi, dân ta ở miền Trung thường  đóng ghe bầu, cột buồm chính có cái cao 9 mét (22 thước ta), sức trọng tải trung bình từ 2  đến 14 tấn, riêng ghe bầu Mũi Né dài 30 mét, ngang khoảng 6 mét, sâu 4 mét, tải trọng  120  tấn.  Ông cho độc giả biết là: 5)

Trong lực lượng thủy quân của Nguyễn Ánh, có hẳn một loại thủy binh ghe bầu với 1.600  quân,  đây là lực lượng vận tải quân lương của chúa.

Theo biên niên nhà Nguyễn, từ 1778 đến 1819, Nguyễn Ánh đã đóng 235 ghe bầu (kiểu prau) ,460 sai thuyền (thuyền chèo loại lớn hơn), 490 chiến thuyền (thuyền buôn nhỏ không mui),  77 đại chiến thuyền, 60 thuyền lớn nhỏ kiểu phương Tây hay thuyền buồm dọc, 100 ô thuyền (thuyền sơn đen) và 60 lê thuyền (thuyền chạm vẽ trên cả đầu và đuôi)  trong tổng số 1.482  chiếc. ) „

Chứng tỏ rằng các chúa Nguyễn biết đường biển là con đường sống còn của đất nước, dân  tộc, và lịch sử cũng đã cho thấy, tất cả các trận tấn công đánh chiếm của quân Pháp tại  Việt  Nam đều do  đường biển, do lực lượng hải quân Pháp thực hiện.

Lạy Trời cho cả gió nồm

Cho thuyền chúa Nguyễn căng buồm ra khơi.

Từ năm 1997 một hội tư nhân mang tên Hermione-La Fayette, trong mục đích tưởng  nhớ công trạng của La Fayette cũng như nhắc nhở sự hy sinh của triều đình vua  Louis XVI  để giúp Hoa Kỳ dành độc lập, đã tiến hành dự án góp công góp của để đóng lại  chiến thuyền  L‘Hermione  theo y như mẫu cũ tại cảng Rochefort.

Vương hiệu trang trí trên tàu Hermione

Chiến thuyền L‘Hermione nguyên thủy, được mang danh hiệu Frégate de la Liberté  (Chiến thuyền Tự Do), đã bị chìm ngày 20.09.1792 tại vùng biển Croisic phía nam  Bretagne  nước Pháp.

Dự án và công việc đóng thuyền mới kéo dài từ năm 1997 đến ngày 7 tháng 7 năm 2014  mới được hạ thủy ra biển lần thứ nhất, trễ hai năm  so với dự tính. Hội Hermione-La Fayette tận dụng nhiều phương cách thương mại để gom tiền đóng thuyền như thâu  phí  tham quan nơi đóng thuyền, bán các sản phẩm như quần áo mang tên Hermione, sách vở, quà lưu niệm, thâu phí hội viên (25€/người/năm), bán một chữ ký trên cánh buồm 10€…, đến năm  2011  đã có hơn 250.000  người đến thăm công xưởng Hermione.

Tôi đến tận nơi, cảng Rochefort bên bờ biển Đại Tây Dương để thăm công việc đóng chiến thuyền Hermione theo mẫu xưa. Chương trình tham quan đặc biệt cho vào tận lòng  thuyền để xem xét, trong lúc các thợ đang làm việc. Thuyền có ba tầng, lúc tôi đến thì còn  thấy cả vỏ thuyền, chưa có khép đáy, đáy thuyền là một công trình nghệ thuật bằng gỗ  đẹp  tuyệt diệu .

Biếm họa dí dỏm gà và vịt là đầu bếp trên chiến thuyền ngày xưa, dễ di chuyển, dễ nuôi và dễ ăn thịt. Photo: MTT

Điều thú vị là trên thuyền, mọi người đều phải giăng võng nằm ngủ trong tầng dưới boong thuyền, chỉ có hai sĩ quan chỉ huy và một thượng khách là có « phòng riêng » ở phần phía sau thuyền. Gọi là « phòng riêng » nhưng thật ra đó chỉ là một cái giường rất hẹp,  rộng  bằng chiều ngang của một người, có cửa đóng kín như một cái hộp gỗ. Nhà vệ sinh cho  mọi người nằm ngay ở mũi thuyền, còn cho sĩ quan chỉ huy thì ở mạn thuyền phía sau,  thật ra chỉ là một cái lỗ mà bên dưới là mặt biển. Trên boong thuyền phía sau, đúng như  mẫu cũ, là một cái  chuồng gà nuôi gà đẻ lấy trứng. Chỉ có sĩ quan chỉ huy mới được  ăn trứng gà và thịt gà tươi.

Chiến thuyền trôi nổi theo sóng biển, nhồi lên nhồi xuống, lại còn phải nằm võng đong  đưa, thì người đi thuyền phải có sức chịu đựng rất lớn.  Thuyền Hermione mới còn có gắn hai máy thuyền theo yêu cầu bảo đảm an toàn hiện đại.

Công xưởng la Corderie Royale đã được tu sửa lại rất đẹp, hoành tráng, tại đây, khách tham  quan sẽ được xem biểu diễn cách làm dây thừng, làm buồm, may buồm… cho tàu thuyền.  Nghệ nhân biểu diễn xe giây thừng có cả những bà cụ tám mươi tuổi, đã học và lao động  theo lề lối truyền thống  xưa.

Hội Hermione-La Fayette dự tính sẽ tổ chức một chuyến vượt biển Đại Tây Dương như  xưa với thuyền Hermione sau khi hạ thủy, thủy thủ đoàn sẽ là người của Hải quân Pháp, còn người tham dự thì sẽ được bốc thăm vì có quá nhiều ghi danh.  Tuy không thể so sánh hai công việc đóng cùng một mẫu thuyền với nhau, vì điều kiện  thực  hiện quá khác biệt, nhưng thí dụ này cho thấy rằng, ngành kỹ thuật đóng thuyền  vào thế kỷ thứ mười tám tại Pháp đã phát triển rất mạnh. Họ làm việc nhanh chóng  dù là mọi công việc  đều bằng tay chân, thủ công, vì ngoài sự xử dụng công  sức của thợ các ngành nghề chuyên môn, họ sử dụng tù nhân trong những công việc phục dịch  rất nặng nề, không những không được trả công, mà tù nhân lao dịch đuối sức chết thì bỏ, thay thế bằng tù  nhân khác.  Mỗi khi hạ thủy thuyền xuống nước họ dùng tù nhân để làm vật cản dưới  đáy   thuyền, khi cắt dây thả thuyền, chiến thuyền nặng cả ngàn tấn tuột trong nháy mắt  xuống  nước đè chết dí những người tù nhân dùng làm vật cản ngay tại chỗ, không một ai  tiếc thương.

Nhà ga xe lửa cảng biển Rochefort. Photo: MTT

Ngày 18 tháng 4 năm 2015 chiếc Hermione lên đường viếng thăm nước Mỹ, đi lại chặng  đường lịch sử của hầu tước La Fayette và trở về bến chính Rochefort hơn 5 tháng sau, ngày 29.08.2015.

Năm 2018 Hermione đã đi một hành trình ngắn trong vùng biển Đại Tây Dương và Địa  Trung Hải.

Ước mơ của những người tích cực trong hội Hermione-La Fayette đã thành sự thật sau 17 năm kiên trì, còn  mình thì mơ ước phải chi mình đóng lại được một  chiếc chiến thuyền của chúa Nguyễn.

MTT, kỷ niệm ngày 11.11.2011, bổ xung 7.10.2018

 

Chiến thuyền Hermione được tiếp đón và hộ tống bởi chiến hạm USS-Mitscher khi vừa đến bên kia bờ Đại Tây Dương nước Mỹ

Chú thích :

* Trích Dấu xưa – Tản mạn lịch sử nhà Nguyễn, chương I, xuất bản tại Pháp, 2010

1) Vua Ferdinand và nữ hoàng Isabella của Tây Ban Nha đồng ý cung cấp điều kiện cho  Christoph Columbus (1451-1526) lên đường đi tìm Ấn Độ. Ngày 12 tháng 10 năm 1492 đoàn  thuyền của Columbus cập bờ biển một hòn đảo mang tên Guanahani, hiện nay thuộc Bahama, tiếp theo đó  Columbus khám phá ra Cuba và Hispaniola  (ngày nay là Haiti và Republique Dominique)  thuộc châu Mỹ, nhưng cho đến ngày cuối cùng củacuộc đời, Columbus vẫn tin chắc rằng đã  đến châu Á, cũng không ngờ rằng, cùng với sự khám phá châu Mỹ của ông, một thời đại mới  đã được mở ra, thời đại của chính sách đế quốc thuộc địa, mà các nhà sử học cho rằng, thời  đại này mới được chấm dứt bởi trận Đại chiến thứ hai năm 1945, cách chúng ta không lâu.  Cuối cùng, châu Mỹ – America – mang tên của Amerigo Vespucci (1454-1512), một thương  nhân người Ý đại lợi (Florence) đã viết một bài cho rằng vùng đất mới thám hiểm ra ấy là  một lục địa riêng biệt. Tên America được hainhà thiên văn học người Đức tên là Martin  Waldseemüller và Matthias Ringmann đặt ra khi vẽ bản đồ thế giới năm 1507.

2) Năm 1518 Ferdinand Magellan (Bồ Đào Nha) nhất định lên đường tìm cho ra hòn đảo có  đinh hương, một loại gia vị quý hơn vàng ngọc châu báu. Sau hơn một năm lênh đênh trên  biển,cùng với đoàn thuyền năm chiếc Magellan đi dọc vùng biển châu Mỹ la tinh xuống tận  mũi phía nam vào ngày 28.11.1520. Nhưng cũng nhưtrường hợp của Columbus, vì một sự  nhầm lẫn trong cách tính đường đi, Magellan tình cờ lọt vào vùng biển Thái bình dương, đặt  chân lên  vùng quần đảoPhi luật tân, nơi ông muốn đến.  Đoàn thuyền năm chiếc của Ferdinand Magellan mang tên Trinidad, San Antonio, Concepción, Victoria và  Santiago lúc khởi hành đem theo rất nhiều lương thựcdự trữ: hơn 10 tấn bánh mì khô, gần 6  tấn thịt muối, 200 thùng cá mòi, 984 bánh phómát, 253thùng rượu, hành, tỏi, bột, đậu khô  các loại và gạo, vũ khí: 50 cây súng, 1.000 cây dáo, 200 cây dùi, và hàng hóa để trao đổi lấy  đinh hương: 20.000 giây và chuông nhỏ, 900 tấm gương nhỏ, 5.000con dao, kéo, đồ trang  sức phụ nữ bằng đồng và 40 bao tải đựng hạt thủy tinh  tròn. Tuy thế, khi  chưa đến được bờ biển Phi luật tân, cạn lương thực, mọi người phải ăn mọt gỗ và chuột trên thuyền để sống sót.

3) Chúa Nguyễn Phúc Thuần, xưng là Định Vương, miếu hiệu là Duệ Tông, chỉ thọ có 24 tuổi  (1754-1777), là con của Võ vương Nguyễn Phúc Khoát và công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Cầu, bị quân nhà Tây Sơn bắt và giết chết. 

4) Vua Louis XVI, 1754-1793, lên ngôi năm 1774 lúc hai mươi tuổi, bị chặt đầu bởi Cách mạng dân chủ Pháp tại quảng trường La Concorde,Paris, vào ngày21.01.1793, trị vì được mười tám  năm.

5) Trích Nguyễn Thanh Lợi, Ghe bầu miền Trung, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển – Sở Công  nghệ Thừa Thiên-Huế số 2(67)/2008 

Chùa Keo Thái Bình

5. octobre 2018

Chùa Keo Thái Bình – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2018

Về Thái Bình mà không ghé thăm Chùa Keo là rất uổng phí cho chuyến đi. Tôi lại thích đi chùa những khi chùa vắng vẻ, không vào những ngày lễ, tết, đông người chộn rộn, nói cười ồn ào. Cảnh chùa tĩnh mịch yên ắng mới thấy hết vẻ đẹp của chùa – vốn là nơi chốn trang nghiêm thoát tục – lồng trong khung cảnh chung quanh. Những chùa lộng lẫy quá thì chẳng hấp dẫn được chân tôi.

Chùa khác nhà thờ nhiều lắm, nhất là những ngôi chùa cổ. Kiến trúc của nhà thờ vươn lên cao, bề thế, lộng lẫy. Kiến trúc của chùa trải dài trải rộng, ẩn nấp sau những lùm cây tán lá, nếu chùa có tháp chuông thì không cao bằng tháp chuông nhà thờ. Nhà thờ xây bằng gạch, đá, chùa cất bằng gỗ, vôi vữa, rơm rạ, ngói đỏ. Nhà thờ thường được xây dựng giữa làng giữa chợ đông đúc người qua lại, tiện đường tiện xá, chùa ở nơi hẻo lánh xa chốn phồn vinh lợi lộc gần với thiên nhiên bao bọc.

Chùa Keo là một ngôi chùa cổ từ thế kỷ thứ 17, đã tồn tại trải qua 400 năm, và có một tháp chuông độc đáo. Khung cảnh chùa Keo đúng với trí tưởng tượng của tôi, nằm giữa không gian rộng lớn xanh rì của làng quê miền Bắc, có quán nước đầu chùa, có đường đê trẻ em tan học đạp xe về nhà, có đàn vịt trắng bơi lội tung tăng bì bõm trên ao, có hồ bán nguyệt, có sân rộng…như trong văn thơ người Việt.

Đường làng vào chùa Keo với quán nước

Nơi tôi đến thăm là chùa Keo (Thượng) nằm ở xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình. Có chùa Keo Thượng, tên chữ là Thần Quang tự, thì tất nhiên có chùa Keo Hạ, tên chữ là chùa Hành Thiện tự, nằm ở xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định.

Tương truyền chùa Keo do thiền sư Không Lộ Nguyễn Minh Không xây dựng từ năm 1062 dưới thời vua Lý Thánh Tông ở hương Giao Thủy, phủ Hà Thanh nay thuộc về tỉnh Nam Định, đặt tên là Nghiêm Quang tự. Chùa nằm bên sông Hồng, nên năm trăm năm sau, năm 1611 bị trận lụt lớn, nước sông Hồng lên cao, dân làng Giao Thủy tản cư làm hai nhánh, một về Nam Định, một qua Thái Bình, mỗi nhánh lập ra một chùa Keo của làng mới, dân bên tả ngạn sông Hồng lập ra làng Dũng Nhuệ và chùa Keo thượng trên đất Thái Bình. Kiến trúc cả hai chùa chính đều giống nhau là chùa anh em.

Chùa Keo Thái Bình được xây dựng năm 1630 và hoàn thành xong 1632, đến nay đã được gần 400 năm, hoàn toàn bằng gỗ, lợp ngói và đã được trùng tu nhiều lần. Trong sân chùa là hai cột cờ bằng gỗ, cao, cờ bay phất phới trong gió mùa đông, bởi vì tôi về chùa vào giữa tháng mười một, tiết trời mù mù âm u.

Cảnh chùa Keo

Điểm đặc biệt của chùa Keo Thượng là có lầu chuông ba tầng vuông vắn bằng gỗ lim, lợp ngói đỏ, chạm trỗ rất công phu bởi các nghệ nhân điêu khắc gỗ thời Hậu Lê, cao 11,04 mét, có 3 tầng mái, kết cấu theo hình dáng hoa sen, ở tầng hai treo quả chuông đồng cao 1,30 m, đường kính 1m đúc năm 1686, hai quả chuông khác nhỏ hơn cao 0,62 mét, đường kính 0,69 mét treo ở tầng ba và tầng thượng được đúc năm 1786.

Chùa Keo có một diện tích kiến trúc rộng khoảng 58.000 mét vuông, gồm nhiều cụm nhà thấp, hiện nay còn lại 17 công trình. Hai bên chùa chính là hai gian hành lang dài tới 24 gian, rất ấn tượng, để cho khách hành hương sửa soạn sắm lễ vào chùa lễ Phật và lễ Thánh. Đôi cánh cửa chùa chạm rồng cũng bằng gỗ lim là một tuyệt tác kiến trúc thời Hậu Lê. Đời nay, một bộ cánh cửa nhỏ bằng gỗ lim chạm trỗ bình thường giá 200 triệu đồng là còn rẻ.

Vườn cây trước chủa Keo

Chùa Keo gồm có ba nhà nối vào nhau, nhà trong cùng thờ Phật, cả chùa có hơn 100 pho tượng cổ bằng gỗ sơn son thếp vàng rất tinh xảo, khuôn mặt diễn tả linh động. Thiết kế trong một ngôi chùa bằng gỗ như chùa Keo vừa tinh tế, vững chãi lại vừa giản đơn, các tượng thờ chỉ được đặt ngay ngắn trên bàn thờ, trên bệ riêng, khách tham quan có thể ngắm nhìn tất cả kèo cột xà khung bằng gỗ lim và mái ngói từ bên trong.

Chùa không có một bóng người, nhưng trong nhà ngoài ngõ đều rất sạch sẽ, không có rác rưởi ngổn ngang, trong chùa mọi thứ đều ngăn nắp, không có lấy một mạng nhện, một tí bụi.

Ở một bề thế như vậy, chứng tỏ chùa Keo là một nơi tôn giáo quan trọng trong quá khứ, ở những thế kỷ trước. Bây giờ, ngày mồng 4 tháng giêng âm lịch dân làng Keo mở hội xuân ngay trong khuôn viên chùa, lại còn có hội thu vào tháng chín âm lịch.

Về thăm chùa Keo, tôi rất ấn tượng bởi khung cảnh tĩnh mịch thơ mộng êm đềm thanh bình của làng quê miền Bắc, chưa bị bê tông vây kín chung quanh. Vào đây mà trút bỏ hết những mê muội trần tục, những giây phút tĩnh tâm.

Nhìn quán nước bên đường vào chùa, có những lon nước của thời hiện đại, nhưng vẫn còn ấm chè khi xưa. Tôi tiếc là đã thăm chùa vội vội vàng vàng, còn những chỗ khác phải đi, thầm hẹn chùa sẽ trở lại lần nữa. Chùa Keo Thái Bình xứng đáng là di tích quốc gia, phải được bảo tồn cho các đời sau. MTT

Tháp chuông chùa Keo

Chùa Keo

Chùa Keo gồm ba công trình hợp lại, chùa sau cùng thờ Phật

Cảnh chùa vắng vẻ, tĩnh mịch. Phía xa là hành lang dài 25 gian, lợp ngói đỏ

Các pho tượng cổ bằng gỗ chạm khắc rất tinh xảo và linh động

Tượng được tạc trong một tư thế rất tự nhiên

Một tác phẩm nghệ thuật gỗ của thời Hậu Lê, cách đây đã gần 400 năm

Trong chùa có cả sư nữ

Bàn thờ Phật

Bàn thờ vua quan

Trợ cấp xã hội ở Pháp năm 2018

7. septembre 2018

Trợ cấp xã hội ở Pháp năm 2018 – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2018

Nếu tin rằng ai ở một cường quốc châu Âu như Pháp đều giầu có thì đó chỉ là một ảo tưởng. Trên thực tế quốc gia nào cũng có kẻ giầu người nghèo.

Người ta có thể nghèo hoặc nghèo đi vì thiếu may mắn trong cuộc đời mà điều kiện của bản thân không cho phép, không nói đến những bất công của xã hội là những yếu tố bên ngoài để tạo nền tảng cho một sự bình đẳng thật sự, thí dụ như qua giáo dục chẳng hạn. Do đó, những bất công đã có khi một đứa trẻ được sinh ra. Những tấm gương phấn đấu đổi đời, đổi số phận có nhưng mà hiếm so với số đông.

Tại một quốc gia đã phát triển về khoa học kỹ thuật như Pháp hiện nay thì sự học vấn là tiền đề cho sự phát triển của bản thân. Làm cái gì cũng phải có bằng cấp chuyên môn. Giai đoạn sau chiến tranh, không có thời gian cho giáo dục, bởi thế ai biết gì thì làm cái ấy của thế hệ sinh năm 40-50, không cần bằng cấp đã qua rồi. Bây giờ việc đơn giản như cắt tóc, làm bánh mì cũng phải có bằng cấp. Những người trẻ chán nản đến trường và không chịu học hành là những người chịu thiệt thòi nhất trong xã hội. Những công việc chân tay đơn giản trong các xí nghiệp dần dần bị tự động hóa, không cần lao động của con người nữa.

Với đà phát triển toàn cầu hóa, đạo quân thất nghiệp tăng lên nếu họ vì lý do nào đó không thể kịp đổi nghề được. Trong quá trình toàn cầu hóa, người quan sát thấy rõ sự phân chia xã hội thành hai cấp bậc thượng tầng và hạ tầng rõ rệt, tầng lớp trung lưu đang dần tan biến. Người nghèo ngày càng cảm thấy mình bị xã hội đào thải.

Thí dụ xe hơi: ngày nay người ta khuyến khích mua xe mới (mà phải có điều kiện cần và đủ là có tiền mới mua được !), xe hư, thợ chuyên môn sửa xe thiếu thốn, không có đồ phụ tùng thay, chính phủ lại xiết luật môi trường cho xe cũ (độ phế thải khí độc) xe bị hạn chế chạy trong thành phố…thì người nghèo có đâu ra mà mua/đổi xe mới, trong khi cần cái xe vào thành phố để đi làm !

Thậm chí trong một thống kê về mức độ hài lòng với cuộc sống thì tám trong mười nhân viên cao cấp tại Paris không muốn làm việc và sống tại Paris nữa vì nhiều lý do: nhà ở quá đắt đỏ, mức sinh hoạt quá cao, thời gian di chuyển quá lâu, hai vợ chồng phải có địa vị kiếm tiền tương xứng trên dưới 10.000 euros mới đủ sống, đồng thời đẻ ra một nghề mới đổi với xã hội Pháp, nghề vú em ban đêm, để cho hai vợ chồng có thể ngủ thẳng giấc để sáng hôm sau có sức mà làm việc.

Những nghề về phục vụ con người thì thường là tại chỗ, không thể « dời » đi được (delocalisation), cho nên xu hướng có khả năng phát triển như các nghề nghiệp phục vụ cho quý bà quý ông (cắt tóc, làm móng tay móng chân, cạo râu, thẩm mỹ nhân tạo, làm bếp, phụ việc nhà, vú em, quản gia, giao đồ, đưa đón trẻ em, trông nhà, làm vườn…). Nhưng cho dù con số công việc làm không di dời được, khả năng cạnh tranh của những nước xuất khẩu lao động để làm những công việc hạ tầng này lại lớn.

Nói tóm lại, những công việc « giải phóng » thượng tầng để cho hạ tầng « giải quyết ». Còn mọi thứ về kỹ thuật: xài một lúc thì vất bỏ mua cái mới, đó chính là cái đích của xã hội tiêu thụ.

Trong xã hội tiêu thụ hiện nay, nếu người ta không « mua », không có tiêu thụ, thì nền kinh tế sẽ xuống dốc, khủng hoảng. Cái thời mà bóng đèn điện cháy cả mười năm vẫn sáng đã bị chấm dứt, hiện nay họ sản xuất ra bóng đèn chỉ xài được có mười tháng họa may là chết ngắc, phải mua cái mới.

Điều này chứng tỏ, mọi phản ứng chính trị về môi trường chỉ là nói dóc, đánh lừa dư luận cho vui, vì bảo vệ môi trường thì đi ngược với mục đích của xã hội tiêu thụ, chỉ tiêu: phải bán, phải mua, phải xài, phải vất bó.

Mới đây dư luận xôn xao về nhà thời trang Burberry của nước Anh bị lộ trong báo cáo của năm 2017/18 đã đốt cháy hàng hóa trị giá 32 tỷ euros, để khỏi phải bán giảm giá hàng hóa, sợ mất giá trị thương hiệu. Tờ báo Fortune tính ra là trong năm năm đã qua Burberry đã tiêu hủy cả trăm triệu euros hàng hóa không có người mua.

Tại Pháp, riêng lẻ có chủ ra lệnh cho nhân viên phải đổ xăng dầu lên thực phẩm khi vất đi như thịt, rau quả quá hạn để bán, để cho người khác không lượm về ăn được.

Trong sự bàn luận về trợ cấp xã hội sắp tới, mà theo cách phát ngôn có vẻ « diễu cợt » của tổng thống Macron là « tốn rất nhiều tiền bạc » (coutent un pognon de dingue), bộ Y Tế Pháp đưa ra những con số « chính thức » thống kê 2018 mới nhất đáng chú ý sau đây để tổng thống quyết định về chương trình « xóa đói giảm nghèo » của Pháp:

1. 8,9 triệu người dân Pháp sống dưới mức nghèo đói ( tức là 14,2 % dân số ). Những người nói trên có dưới 1.015 euros một tháng để sống.

2. Trợ cấp xã hội giúp cho con số người nghèo ở mức 14,3%, nếu không có nó thì sẽ tăng lên thành 22,4%, gần 1/4 dân số Pháp. Những thành phần được đặc biệt trợ cấp gồm có những gia đinh đơn lẻ một mẹ có ít nhất hai con, người trẻ dưới 20 tuổi, và người tật nguyền.

3. Người độc thân không có việc làm nhận trợ cấp 760 euros. Người có lương tối thiểu 1.152 euros/tháng được trợ cấp thêm 156 euros, như vậy thu nhập hàng tháng của người ấy được tăng lên thành 1.307 euros/tháng.

4. 4,15 triệu người nhận trợ cấp xã hội tối thiểu vì lý do già cả, thất nghiệp, bệnh tật…. Cộng thêm với những thân nhân cùng sống chung với những người này thì con số lên tới 7 triệu người, tức là 11% dân số Pháp phải sống với trợ cấp xã hội tối thiểu.

5. Cuối năm 2015, số người nhận trợ cấp xã hội dù đang có công việc làm như hợp đồng ngắn hạn và dài hạn, hợp đồng được giúp đỡ, hợp đồng làm việc giờ là 12%.

6. 20 % số người nhận trợ cấp thất nghiệp đã 10 năm. Ít nhất cũng có 49% đã nhận trợ cấp thất nghiệp từ 4 năm rồi.

Tại cơ quan Lao động, sở hỗ trợ tìm việc làm và trợ cấp thất nghiệp:  » Tất nhiên chú mày không có lấy một chút xíu nào may mắn cả ! Nhưng chúng tôi muốn thấy – đồ chết tiệt – là chú mày có cố gắng ! « 

Những con số nói trên là con số « chính thức » đã được « làm đẹp » cho chính phủ đương nhiệm, lại dựa vào thống kê của năm 2015 nên tình hình thực tế của năm 2018/2019 không phản ánh được. So sánh các con số thống kê của những thời điểm khác nhau và dựa trên những sự phân tích khác nhau thí dụ như là đứng về mặt dự án, kế hoạch hay là tổng kết, hoặc đứng trên bình diện kinh tế, chính trị hay xã hội là một điều khập khiễng, tuy nhiên không thể tránh khỏi.

Trên nguyên tắc, các chính phủ của một xã hội dân chủ và bình đẳng phải thực hiện nghĩa vụ « tái phân phối » lại cho những người kém may mắn, bị xã hội tiêu thụ đào thải vì bất cứ lý do gì vì con người sinh sống trên một đất nước, một lãnh thổ quốc gia có  » quyền được sống  » dù là ở mức tối thiểu so với giá sinh hoạt của quốc gia đó. Chính phủ một cường quốc giầu có, xa xỉ, mức thâu thuế cao nhất châu Âu như nước Pháp lại càng không thể để cho dân chết vì đói, vì lạnh, cùng quẫn tự tử.

Nhưng, ngân sách nước Pháp chỉ dành có 2% PIB cho trợ cấp xã hội, tính vào đây cả luôn là những chi phí về nhân sự, vật liệu cho bộ máy quản lý hành chính xã hội, và cả những « hành động nhân đạo » như cứu người ty nạn chẳng hạn

Vì thế, người ta tức giận khi một chuyến bay công vụ từ Tokyo-Paris của thủ tướng Pháp Edouard Philippe tốn kém đến 350.000 euros, một chuyến bay nội địa đến vùng Hautes-Alpes tốn 150.000 euros và những xa hoa phung phí khác của chính quyền.

PIB (produit intérieur brut) của Pháp là 2.291,7 tỷ euros trong năm 2017. Từ năm 2008 đến 2014 thì con số tiền dành cho trợ cấp xã hội lên từ 17,3 tỷ euros thành 24,8 tỷ euros. Một phần ít ỏi, chỉ độ hơn 1% PIB. Nhìn tổng thể thì người ta hiểu được cái phát ngôn « một đống tiền » của tổng thống.

Trong khi đó, trên bình diện kinh tế thì người ta lại tính rằng cho người nghèo một đồng thì họ xài hết một đồng, không để dành được đồng nào cả, có nghĩa là người nghèo tiêu thụ nhanh hơn, vòng quay của tiền nhanh hơn, số tiền phát ra lại trở về nền kinh tế.

Theo thống kê chính thức của năm 2018 thì dự tính khối lượng thu thuế của Pháp lên đến 404 tỷ euros. Con số này được phân chia ra các loại thuế như sau:

  • Thuế giá trị thặng dư (TVA) là loại thuế gián thu đánh trên bất kỳ một tiêu thụ nào của dân chúng chiếm 152,8 tỷ euros (52,9 % tổng số thuế thu được)

  • Thuế thu nhập (IR) là loại thuế đánh trên lương bổng của người đang có công ăn việc làm lẫn người lãnh lương hưu trí chiếm 72,7 tỷ euros (25,2 % tổng số thuế thu được)

  • Thuế công ty (IS) là loại thuế đánh trên lợi nhuận sau khi đã trừ hết tốn phí của các công ty chiếm 25,3 tỷ euros (8,8 % tổng số thuế thu được)

  • Thuế tiêu thụ các sản phẩm dầu hỏa (TICPE) đánh thêm trên sự tiêu thụ các loại xăng, dầu xe, dầu sưởi …của dân chúng chiếm 13,3 tỷ euros (5,6 % tổng số thuế thu được). Chỉ riêng mức thuế này đã làm cho giá xăng dầu tăng lên gấp đôi.

  • Các loại thuế khác như thuế tài sản nhà giầu, thuế tem, thuế rượu, thuế thuốc lá, thuế thừa kế tài sản, thuế cho tặng tài sản….:  chiếm 24,6 tỷ euros (8,5 % tổng số thuế thu được)

Một bài báo của Le Monde ngày 21.12.2017 thì cho một con số khác về ngân sách, tức là mức chi tiêu, sau khi các dân biểu đã biểu quyết chấp thuận cùng ngày là ngân sách của Pháp của năm 2018 sẽ đạt mức 711 tỷ euros.

Trong con số này thì ngân sách dành cho giáo dục là lớn nhất vởi 72 tỷ euros cộng thêm với 28 tỷ cho nghiên cứu, kế đến là quốc phòng an ninh 63 tỷ euros, lương hưu cho công chức các ngạch và dân thường chiếm 58 tỷ euros, trả nợ công 42 tỷ euros, đóng góp cho Liên minh châu Âu 20 tỷ euros, trợ cấp xã hội và thất nghiệp 20 tỷ euros, môi trường 18 tỷ euros, nhà ở và thành phố 17 tỷ euros, lao động 15 tỷ euros và các khoản chi tiêu khác như ngân sách nông nghiệp, văn hóa, kinh tế, thể thao, đặc biệt ngân sách dành cho người tỵ nạn, nhập cư được dự tính với 1,38 tỷ euros.

Tựu chung những con số do báo Le Monde đưa ra phù hợp với những con số thống kê về chi tiêu cho trợ cấp xã hội của chính phủ trong những năm trước, tức là khoảng 24/25 tỷ euros. Nếu so sánh trên bình diện ngân sách thì con số dành cho trợ cấp xã hội các thứ chỉ tốn kém khoảng 4% ngân sách quốc gia. Một con số rất khiêm nhường để nuôi sống cả 25% dân số.

Đầu có một hạt sạn: Người di tản

Hành chính Pháp, thì còn hơn là hành là chính, phải nộp đủ thứ giấy tờ trong đơn xin trợ cấp, rồi kiểm soát nghiêm ngặt tiếp theo, không phải là dễ. Người nghèo cùng quẫn quá « lừa đảo » 400/500 € trợ cấp xã hội thì bị truy nã cho đến cùng, trong khi ông lớn ăn tiền triệu xong rồi chùi mép thì chẳng sao. Nhiều gia đình cứ đến khoảng ngày thứ 20 thì hết tiền, phải ăn khoai tây chấm muối mà sống. Thế mà họ càng nghèo thì lại càng che dấu cái nghèo của mình trong mặc cảm.

Không phải thất nghiệp « ăn » xã hội là « sướng » mà thất nghiệp luôn mang đến một sự đau khổ tinh thần, mặc cảm nhất là chung quanh mình người ta nhớn nhơ ăn chơi, xài tiền như không hề thiếu thốn. Thế mà các thế lực chính trị cứ thích đánh lên đầu những người mang tiếng là « ăn bám xã hội, tỵ nạn, nhập cư » những khi cần thiết để nổi lên.

Mùa thu 2018 và đầu xuân 2019 hứa hẹn nhiều thay đổi xâu xa trên hạ tầng cơ sở nước Pháp, người lãnh lương hưu bị bóp chắt cực kỳ, dự án cắt giảm lương hưu của người góa, mà đa số là phụ nữ góa chồng được lãnh 50% lương hưu của chồng, đang được ấp trứng, dự án thâu thuế thu nhập trực tiếp của toàn thể dân chúng được quyết định thực hiện vào tháng 1/2019, nhiều hồ sơ bí ẩn như vụ Benalla còn đang trong vòng tiếp diễn. Theo thông tin của báo chí Pháp cho đến nay thì vụ Benalla có nhiều mờ ám, Benalla là một cận vệ thân tín của tổng thống Pháp, có mức lương căn bản chính thức là 10.000 euros/tháng, có xe công vụ, có nhà ở công vụ tại trung tâm thủ đô Paris, ông ta bị tố cáo là lạm quyền, vô phép tắc đánh người biểu tình. Người ta ngày càng có cảm tưởng là những người lèo lái xã hội Pháp đang đi con đường « chắt dưới, nâng trên », cho đến lúc nào thì không chắt được nữa ? MTT

Cứ hai ngày lại có một nông dân tự tử bên Pháp

20. août 2018

Cứ hai ngày lại có một nông dân tự tử bên Pháp – ©Mathilde Tuyet Tran, France 2018

« On veut vivre » (Chúng tôi muốn sống) là tiếng kêu cứu khẩn thiết của nông dân nước Pháp đã từ năm 2016 đến giờ. Phần lớn xã hội Pháp làm ngơ, trong khi người nông dân Pháp khổ sở vì kinh tế, nhưng cũng vì những vấn đề đạo đức và văn hóa của xã hội. Ông Eric de la Chesnais, vừa là kỹ sư nông nghiệp, vừa là nhà nông có nông trại ở vùng Mayenne, tác giả của cuốn « Agriculteurs, les raisons d´un désespoir » (Nhà nông, những lý do của sự tuyệt vọng) xuất bản năm 2017 đã có nhận định như thế.

Sống ở vùng quê đã 20 năm nay, tôi biết nhà quê bên Pháp có những điểm đặc biệt. Họ phải dùng nhiều chất (độc) hóa học như chất diệt cỏ dại, diệt côn trùng, phân bón và nước trong việc trồng trọt. Đến mùa gặt chúng tôi thường bị chảy máu mũi vì gió thổi những chất độc hóa học những khi họ làm đồng, phun thuốc trừ cỏ dại bằng những cỗ máy khổng lồ có hai cánh xòa rộng cả mấy chục thước, hoặc phun thuốc trừ sâu bọ. bay vào khu dân cư ở. Những khi họ trải phân bón trên đồng, thì ngay tức khắc trong nhà dân nặc mùi hôi thối và một đàn ruồi nhặng xâm chiếm theo gió bay vào đầy nhà, cả tháng sau vẫn còn ruồi trong nhà. Nước máy thì không dám uống và nấu ăn, phải mua nước suối đóng  chai xách về, vì sợ những chất hóa học ngấm vào mạch nước ngầm.

Tính chất nông dân của họ cũng hơi đặc biệt, cũng vì thời tiết thay đổi và công việc làm đồng bất kể ngày đêm giờ giấc. Đời sống trong làng nhà nào biết nhà nấy, không có một tinh thần đoàn kết mà ngược lại là tinh thần chia rẽ vì lý do chính trị, khác mầu da tiếng nói, hay giữa họ với nhau, vì lý do tranh chấp ngôi vị quyền lợi trong hệ thống quản lý làng, chia nhau lợi lộc, chèn ép dân làng. Thậm chí, có nơi họ cố tình lấy đi phần quà Giáng Sinh hàng năm của người già để trừng phạt người này không chịu đi bầu bỏ phiếu theo ý họ đề nghị, như ở làng tôi. Vì thế, họ tự cô lập họ. Khi tình thế biến đổi, người khác làm ngơ.

Ông De la Chesnais cho rằng, ngoài những nguyên nhân kinh tế, người nông dân Pháp còn khổ vì sự thiếu nhìn nhận của xã hội Pháp, đã dần dần bỏ lúng vùng quê, và với nó một sự tôn trọng nghề nông cũng dần dần mất đi. Ông nhìn nhận rằng người nông dân hôm nay ít gặp nhau, khó nói chuyện và khó kết nối các quan hệ xã hội, dẫn đến sự cô đơn vật chất và tinh thần, khác hẳn với các thế hệ nông dân trước kia.

Nhà nông bên Pháp trước kia sống nhiều thế hệ chung trong một mái gia đình và hoạt động theo tính cách cha truyền con nối. Ngày nay chỉ có những đại điền chủ mới có người nối tiếp gia tài để lại, vì phải chia năm xẻ bẩy cho những người con thừa kế không làm nghề nông nữa, mà chỉ còn lại có một người ở lại với đồng ruộng. Những trung nông, phú nông ngày nay không đủ sức để chịu sự áp đặt của thị trường. Những năm 40, 50, 60, 70 chỉ với sáu con bò sữa cho khoảng 30 lít sữa một ngày thì họ đủ sức trang trải những chi tiêu trong một gia đình. Hiện tại, giá sữa tươi áp đặt ở bên Pháp là 0, 34 euro một lít. Quá ít để họ sống. Trên thị trường thì một lít sữa tươi bán ra là 1,20 euros. Nhiều cơ sở thu mua nhỏ phải dẹp tiệm vì không đủ sức cạnh tranh.

Một trong những nguyên nhân khiến cho nhà nông tự tử là mắc nợ ngân hàng, họ nhắm sức không trả nổi cả vốn lẫn lãi vì tiền lời chồng chất, phí tổn cho mùa vụ quá cao, giá thu mua thấp. Nhiều nhà nông mặc cảm cho là lỗi tại mình, mà không thấy là lỗi chính là do hệ thống chính trị toàn cầu hóa gây ra, các cơ sở thâu mua phân phối lại, bán lại ép giá, mà không có sự trợ giúp, can thiệp nào hữu hiệu của chính phủ để điều chỉnh lại tình trạng « tự do » của thị trường.

Công việc chính của nhà nông là sản xuất ra thực phẩm, cây trồng kỹ nghệ hầu như đã bị xã hội tiêu thụ đánh giá thấp, họ là những người tàn phá môi trường (dùng chất hóa học) hay bảo vệ môi trường (ít dùng chất hóa học) khi chịu sức ép của thị trường thâu mua nông sản.

Cơ quan cứu trợ giúp đỡ nhà nông « Agri’ecoute » nhận được 1.700 cú điện thoại cầu cứu chỉ trong một tam cá nguyệt thứ nhất năm 2016. Thông tin này thực tế thì đã cũ, hiện nay cứ cách một ngày thì lại có một nông dân tự tử, và họ chết, giống như những gia súc của họ, trong sự im lặng.

Năm 2016, theo công bố trên báo chí Pháp, mỗi ngày có 27 người tự tử tại Pháp. Thống kê năm 2012 của ONS (Observation national du suicide) cho biết có ít nhất 10.700 người tự tử, đàn ông nhiều hơn rõ rệt so với phụ nữ. Thống kê cũng ghi nhận các vùng Bretagne, Basse-Normandie, Nord-Pas-de-Calais, Limousin và Pays de la Loire là có mức độ tự tử cao hơn các vùng khác, đây là những vùng quê, vùng vựa thực phẩm nông sản của Pháp. Ở Paris, thành phố tiêu thụ giàu có, hoa lệ, hào nhoáng xa xỉ thì mức độ tự tử lại thấp nhất nước Pháp. Cũng theo thống kê nói trên thì đàn ông thường tự treo cổ (59%), tự tử bằng súng của mình (19%), còn phụ nữ thì thường tự tử bằng thuốc (25%). Con số tự tử nhưng được cứu kịp thời đưa vào nhà thương thì rất cao, 20 lần nhiều hơn là số người chết, khoảng 200.000 trường hợp hàng năm. Điều đáng buồn cho một xã hội giầu có. MTT

France Info, 03/02/2016

Nhà sản xuất chất độc da cam Monsanto thua kiện, phải bồi thường 289 triệu đô la Mỹ

11. août 2018

Nhà sản xuất chất độc da cam Monsanto thua kiện, phải bồi thường 289 triệu đô la Mỹ – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2018

Tòa án ở San Francisco đã quyết định một trong những công ty sản xuất chất độc da cam Agent Orange là Monsanto phải bồi thường cho ông Dewayne Johnson 289 triệu đô la Mỹ vì lý do chính là hãng này đã không thông tin cho khách hàng về những nguy hiểm cho sức khỏe của chất diệt cỏ hoang có tên thương mại là RoundUp.

Ông Dewayne Johnson

Có phải từ khi Monsanto bị bán lại cho hãng Đức Bayer Leverkusen mà tòa án Mỹ có quyết định trên ? Bayer đã mua lại Monsanto với 63 tỷ đô la Mỹ vào đầu tháng sáu vừa qua, đồng thời có quyết định khai tử cái tên Monsanto trên toàn thế giới. 1) Như thế thì khả năng đòi bối thường của hàng triệu nạn nhân chất độc da cam tại Việt Nam có hy vọng công lý hay không ?

Đây là bản án đầu tiên, có ấn định một số tiền bồi thường cho một nạn nhân trong lịch sử, mở ra con đường cho hàng nghìn vụ kiện khác, vì thế tầm ảnh hưởng quyết định của bản án này rất lớn, đem lại hy vọng cho nhiều nạn nhân của chất diệt cỏ khai quang.

Đến cuối ngày 13.8.2018 tờ báo Đức Der Spiegel đưa tin giá trị chứng khoán của Bayer tụt xuống hơn 12% chỉ còn có 83 Euros sau bản án này, vì người đầu tư lo lắng cho tổng giá trị phải bồi thường, về chiến lược toàn cầu vì có hơn 5.000 đơn kiện Montsanto riêng tại Mỹ. Tờ báo đặt câu hỏi có phải việc Bayer mua lại Monsanto là một tính toán sai lầm của những người có trách nhiệm ? Cái tên Monsanto bị xem là một cái tên tương đương với một sự thù ghét lớn nhất về một công ty ở ở nước Mỹ.

Cho dù Bayer sẽ chịu thỏa thuận bồi thường sau những bản ăn trong tương lai, theo nhà nghiên cứu Michael Leakock của công ty đầu tư tài chính Mainfirst thì khả năng những bản án này sẽ lên đến 10 tỷ đô la Mỹ. Đó là nỗi lo sợ của các nhà đầu tư tài chính. Nhưng đó cũng chỉ nằm trong phạm vi nước Mỹ, còn những vụ kiện Monsanto ngoài nước Mỹ ?!

Theo tính toán của Bayer thì cơ hội nắm giữ trên một phần tư của thị trường thế giới về hạt giống và những chất diệt cỏ khai quang và đồng thời cũng là nhà sản xuất đứng đầu thế giới là mục đích chính của việc mua bán này. Để phục vụ cho mục đích đó, Bayer đã quyết định khai tử cái tên Monsanto. Nhưng đã quá trễ. Cái tên Monsanto đã đi vào ký ức của nhân loại, của cả thế giới là diệt chủng bằng chất độc khai quang và mới đây, Glyphosate bị xem là đồng nghĩa với ung thư.

Tòa án ở San Francisco, phiên tòa ngày 08.8.2018, đã nhận ra là chất diệt cỏ có tên thương mại là ROUNDUP, hay với một nồng độ nặng hơn là RANGERPRO, đã là nguyên nhân căn bệnh ung thư vô phương cứu chữa của ông Dewayne Johnson.

Ông Dewayne Johnson 46 tuổi, lao động trong những trường học ở một thành phố nhỏ tại California, ngay khi tòa án tuyên bố bản án đã vừa khóc vừa cười trong vòng tay của các luật sư bảo vệ, hy vọng là bản án dành thắng lợi cho ông sẽ là khởi đầu cho một loạt những bản án kế tiếp. Ông nói với một vẻ rất khiêm tốn  » Tôi đã được hỗ trợ tinh thần rất nhiều ngay từ khi bắt đầu vụ kiện, nhiều cầu nguyện và tiếp sức ngay cả của những người mà tôi không quen biết. Tôi hài lòng đã giúp đỡ được nhiều người một cách vượt quá giới hạn của tôi. Và tôi hy vọng rằng bản án này sẽ đem lại những sự chú ý cần thiết cho họ. »

Phó chủ tịch Monsanto tuyên bố trước báo chí là kháng án

Trong khi đó, ngược lại, thì tất nhiên Monsanto kháng án. Ông Scott Partridge, phó chủ tịch Monsanto, cho rằng chất GLYPHOSATE sử dụng trong việc chế tạo ra Roundup và RangerPro (tên thương mại) không gây ra ung thư và không chịu trách nhiệm về căn bệnh ung thư của Dewayne Johnson.
Ông tuyên bố là có trong tay 800 dữ liệu nghiên cứu của các viện nghiên cứu quốc gia và thế giới để chứng minh rằng chất Glyphosate không gây ra ung thư và không phải là nguyên nhân của căn bệnh ung thư của ông Dewayne Johnson.

Ông Brent Wisner, một trong những luật sư của ông Dewayne Johnson, cho rằng, bản án xác nhận những nguy hiểm gây ra bởi chất Glyphosate, và dù rằng công ty Monsanto kháng án, họ, hàng nghìn người, những nạn nhân sẽ chiến đấu đến cùng.

Ông Dewayne Johnson, người làm vườn, có ba con, đã sử dụng cả hai chất Roundup và RangerPro trong hai năm 2012 cho đến 2014, bị ung thư tuyến hạch, một loại ung thư máu, không cứu chữa được. Các bác sĩ cho rằng ông Johnson chỉ sống được hai năm nữa. Luật sư Robert F. Kennedy Jr. , một trong đoàn luật sư bảo vệ ông Dewayne Johnson, cho rằng theo luật pháp thì phải tiến hành cấp tốc việc kháng án của Monsanto trước khi ông Johnson không còn sống được nữa.

Ở Pháp, chất Glyphosate gây nhiều tranh cãi và đã bị cấm sử dụng tại Pháp kể từ năm 2007. Một nông dân ở Lyon, ông Paul François, 47 tuổi, đã kiện Monsanto trước tòa án Pháp từ năm 2005 mà chưa có kết quả cụ thể. 2, 3,4)

Không những chất Glyphosate diệt cỏ ở trên mặt đất mà nó còn thấm vào lòng đất, được nước mưa đưa đi tràn lan, ô nhiễm mạch nước ngầm, khiến cho sức khỏe của rất nhiều người bị hủy hoại. Tuy nhiên, vào năm 2000, vì lý do bản quyền chất Glyphosate của Monsanto hết hiệu lực độc quyền, nên chất này được các nhà sản xuất thuốc khai quang diệt cỏ trên thế giới sử dụng rộng rãi. MTT

Hãng sản xuất Bayer ở Leverkusen, Đức nằm bên bờ sông Rhein

Chú thích :

  • Xem bài Cái chết của thương hiệu Mỹ Monsanto. Mathilde Tuyết Trần, 11.06.2018
  • Xem bài Đám cưới của Bayer và Monsanto, Mathilde Tuyết Trần, 31.12.2016
  • Xem bài Chiến thắng đầu tiên chống Monsanto tại Pháp, Mathilde Tuyết Trần, 11.9.2015
  • Xem bài Đòi công lý cho nạn nhân chất độc da cam, Mathilde Tuyết Trần, 14.04.2015

Ước mơ kim cương

9. août 2018

Ước mơ kim cương – ©Mathilde Tuyet Tran, France 2018

Phần lớn phụ nữ, và cả nam giới, rất thích kim cương. Kim cương được mua nhiều, phần thì dùng làm trang sức, phần thì làm của để dành. Người ít tiền thì mua « cho có », đeo chơi. Người nhiều tiền thì mua « cả cục » đeo để làm của, vừa làm trang sức hào nhoáng. Chỉ khoảng 20% sản lượng kim cương trên thế giới 30.000 kg (tức 150 triệu carat) được dùng làm hàng trang sức, 80% còn lại được dùng trong kỹ nghệ thí dụ như là mũi khoan, đĩa cắt, chất cách nhiệt…và trong khoa học nghiên cứu.

Kim cương thô ở châu Phi

Kim cương là một khoáng sản tự nhiên, được kết tinh bởi các bon, có độ cứng rất cao và khả năng khúc xạ rất tốt. Kim cương được khai thác ở Phi châu, Canada, Ấn Độ, Nga, Brasil, Úc châu, đến nay người ta đã khám phá ra 700 địa điểm có diamant trên thế giới, và nổi tiếng nhất là tập đoàn khai thác De Beers, và tập đoàn thợ chuyên môn mài đá quý và thương mại người Do thái ở Anvers (Bỉ). Giá của năm 2010 cho biết một carat nằm vào khoảng 342,92 đô la Mỹ cho kim cương châu Phi, 67,34 đô la Mỹ cho kim cương từ nước Nga.
Ngay cả tro của người chết bị hỏa thiêu cũng được dùng để chế tạo ra diamant nhân tạo.

Kim cương thô màu vàng nặng 8 carat

Trên thị trường Việt Nam thì một viên kim cương giá cả tỷ đồng, hai tỷ, ba tỷ hơn không phải là hiếm thấy. Theo tỷ giá hiện nay thì 1 tỷ tương đương với 42.550 đô la Mỹ (1usd = 23.500 vnd). Kim cương có giấy tờ kiểm định độ sắc và cân lượng thì tất nhiên đắt hơn những viên không được kiểm định xác thực. Vì thế ở Việt Nam mua kim cương phần lớn phải là nơi tin tưởng tuyệt đối. Khi bán lại khách hàng phải chịu mất ít nhất là 20% giá mua.

Đa phần khách hàng ưa chuộng kim cương không có mầu, ánh trắng, và « sạch », dù phải trả giá đắt. Thông thường, kim cương được xác định theo chỉ tiêu 4C là carat, color, clarity, cut (khối lượng, mầu sắc, độ trong và cách cắt). Một carat bằng 0,2 gram. Người mua thường không có khả năng chuyên môn chú ý đến mặt cắt, chỉ thấy nó « sáng », « có lửa » nhiều, ít, và chỉ chú trọng đến mầu sắc, cân lượng và độ trong, nhưng thật ra cách cắt kim cương rất quan trọng cho việc khúc xạ ánh sáng. Ngọc có mài mới sáng.

Ở Âu châu, người có nhiều tiền lại chuộng kim cương có mầu rõ rệt, từ vàng óng, xanh ve, đỏ, hồng, nâu cho đến xanh đậm nước biển (Fancy colors).
Các nhà khoa học nghiên cứu thì lại chuộng nhất là kim cương mầu xanh.

Kim cương thô màu xanh tìm được ở châu Phi

Kim cương mầu xanh rất hiếm và rất đắt tiền. Chỉ 0,1% kim cương có mầu xanh, do chất kim loại bore (ký hiệu B) có trong kim cương phản chiếu ánh xanh.
Kim cương màu xanh được tìm thấy ở độ sâu 660 cây số dưới mặt đất, trong khi kim cương trắng chỉ ở độ sâu 150 đến 200 cây số dưới mặt đất, và được hình thành trong một nhiệt độ từ 1.200 đến 1.400° C.
Kim cương màu xanh trong ngôn ngữ của chuyên gia được gọi là « Typ IIb » (không có azote và chứa 0,1% bore). Có 4 Typ được các khoa học gia phân loại cho loại kim cương mầu:
Typ Ia : 0,3% chứa azote
Typ Ib : chứa 0,1 % azote
Typ IIa: không có azote
Typ IIb: không có azote, có 0,1% chất bore
Các viên kim cương nổi tiếng trên thế giới là qua quá trình lịch sử của nó, được nhiều nhân vật có tiếng tăm trong xã hội mua về, hay là tài sản của một quốc gia như các viên Koh-i-Noor, xuất xứ từ Ấn Độ, đã trở thành tài sản của hoàng gia Anh.

Hope-Diamant

Cũng nổi tiếng nhất là viên mầu xanh đậm huyền bí Hope-Diamant, có tiếng là đem tai họa đến cho chủ, vì nó chưa tìm được người chủ xứng đáng, người ta tin như thế. Vua Louis XVI và hoàng hậu Marie Antoinette cũng đã đeo viên kim cương này khi nó còn trong tay triều đình Pháp, và cả hai đều bị chém đầu bởi Cách mạng Pháp 1798. Năm 1824 viên kim cương được bán về tay Thomas Hope, từ đó mang tên Hope-Diamant. Hiện nay Hope-Diamant được triển lãm bởi Smithsonian Institute ở Washington và bảo hiểm với giá là 250 triệu đô la Mỹ.
Minh tinh điện ảnh Elizabeth Taylor là người có hân hạnh làm chủ viên kim cương Hope một thời gian, và sau đó lại được chồng là Richard Burton tặng cho viên kim cương mang tên Taylor-Burton diamant nặng 69,42 carat, mà sau này khi ly dị bà bán đấu giá với 5 triệu đô la Mỹ khởi đầu.

Các hoàng gia còn lại của châu Âu thường đeo nặng trĩu đầy người nữ trang, nào vương niệm, bông tai, dây chuyền, vòng tay bằng kim cương để nói lên sự vương giả của mình. Quý bà thường hãnh diện khoe nhẫn đính hôn của chồng sắp cưới bằng kim cương nói lên địa vị tương lai trong xã hội của mình.

Bụi trong kim cương, trái ngược với sự đánh giá của thị trường thương mại là làm giảm giá 

Caption: Blue boron-bearing diamond, with dark inclusions. Evan M. Smith/© 2018 GIA Foto: Evan M. Smith/© 2018 GIA

trị bán vì bị cho là « không sạch » , thì lại được các nhà khoa học đánh giá cao, vì qua các bụi trong kim cương, đó là các dạng kim loại đọng lại trong kim cương như Calciumsilicat, người ta xác định được độ sâu của nó, như từ 410 cây số đến 660 cây số của viên kim cương mầu xanh chẳng hạn.
Kim cương mầu thường được núi lửa phun lên theo nham thạch từ độ sâu trong lòng đất, do đó con người mới tìm thấy trong các mỏ kim cương ở gần mặt đất. Ở những vùng núi lửa cổ tìm kiếm trong nham thạch đông cứng sẽ thấy kim cương.
Kim cương mầu hồng (Fancy Pink) thí dụ như viên Pink Star nặng 59,60 carat được định giá tại Geneve, Thụy sĩ, với giá là 83 triệu đô la Mỹ năm 2013.
Kim cương mầu vàng (Fancy Yellow) như viên Sun Drop nặng 110,3 carat được định giá là 10,9 triệu đô la Mỹ. MTT

Nữ trang diamants fancy

Kim cương hồng dang tự nhiên hình quả lê

Chuỗi kim cương của Napoleon

Bà Evalyn Walsh McLean, một chủ nhân của Hope-Diamond, đeo thành mặt giây chuyền ở cổ.

Vương niệm của nữ hoàng Anh với các viên kim cương Koh-i-Noor

Bộ nữ trang kim cương mầu vàng ở Viện Bảo Tàng lịch sử Thiên Nhiên Quốc Gia

Minh tinh Elisabeth Taylor đeo viên kim cương Burton-Taylor