Skip to content

Giấc mơ Mỹ với Trump

10/11/2016

Giấc mơ Mỹ với TRUMP – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2016

Thiên đường Mỹ quốc mộng mơ của người Việt là làm thế nào để (phải) có một cái nhà, và ít nhất một cái xe mới tinh trong đời, và thêm vào đó là những cái thẻ credit cho phép mượn mỗi thẻ 100.000 đô la mỹ để lấy le với bà con thiên hạ.

Nhưng những món nợ đó đều phải được trả lại bằng sức lao động của chính mình và „giấc mơ Mỹ“ đó không phải chỉ là của người Việt gốc Mỹ, mà có công ăn việc làm, có thu nhập thường xuyên, là giấc mơ của mỗi người dân Mỹ.
Chồng tôi có một bà dì ruột sống ở California, cuộc đời bà có nhiều điều bất hạnh xảy ra, chồng chết vì tai nạn lao động, con trai và con gái bà với một đứa cháu, đến giờ là đứa cháu duy nhất, đều chết vì overdose, đứa con trai còn lại cuối cùng thì thất nghiệp, bà bỏ phiếu bầu phiếu bầu cho Trump với hy vọng có một thay đổi thật sự, „change“ là một từ khóa quyết định, phải có „thay đổi“.
Trong cuộc bầu cử này, người ta cứ tưởng là Donald Trump sẽ bị đánh bại bởi bà Hillary Clinton vì phong cách ăn nói trợn trạo của ông. Nào ngờ đâu, sự kiện đó lại được dân chúng đánh giá ngược lại, dám ăn, dám nói, dám kêu đích danh con mèo là con mèo (từ ngữ Pháp: appeler un chat un chat) tất là dám làm. Ông không nói những lời hoa mỹ, văn vẻ chỉ có „thượng tầng“ xã hội Mỹ mới hiểu. Gần 40% cử tri nữ bỏ phiếu cho ông, và cả một thành phần những người da màu, và người ta đang chờ những con số chính xác để phân tích và bình luận.
Cũng thế, có người cho rằng, bầu cử , tức là một hình thức trưng cầu dân ý, từ chị Ba ngoài chợ cho đến anh Tư làm đồng đều đi bỏ phiếu là „nguy hiểm“, vì họ ngu dốt, dễ bị lầm kế mị dân, dẫn đến bầu sai người, dân chủ kiểu đó thì cứ bốn năm, năm năm lại „sửa sai“ một lần. Lập luận này dẫn đến sự kiện thường được nêu ra, cho rằng „dân“ phải có người „bảo hộ“ (tutelle), đại diện cho dân, để bầu đúng, hiểu đúng, chính trị mới „Đúng“.
Nhưng, nói „đúng“, „sai“ như thế nào, trong khi hàng triệu người chỉ băn khoăn mỗi một chuyện là làm sao có được công ăn việc làm, có thu nhập đều đặn để đám bảo đời sống của chính mình, những nạn nhân thực sự của kinh tế „toàn cầu hóa“ đã kéo dài từ gần 60 năm nay, cả một thế hệ bị đụng chạm ?
Người dân kiên nhẫn đã nhiều năm, thậm chí một số người « ngu dốt » đến độ „luật là luật“ mà không nghĩ xa hơn cái mũi của mình rằng, „luật“ do ai đặt ra và „luật“ áp dụng cho ai ?
Áp dụng „luật“ để ngăn cản người ta có thể « lạm dụng » phúc lợi xã hội với một số tiền nhỏ nhoi 500 euro một tháng, đe dọa cắt tiền trợ cấp để gây áp lực, trong khi xã hội không cung cấp công ăn việc làm cho người ta ? tức là coi thường, khinh rẻ sự tự trọng của con người. Hay áp dụng „luật“ để ngăn cản tầng lớp ông to bà lớn chuyến tài sản ra nước ngoài bằng nhiều „lỗ hổng“ cho người nhà giầu, làm giầu bằng những luật lệ „chính đáng“ ?
Có nhà báo Pháp đánh giá rằng, đây là một „cuộc nổi dậy“ của tầng lớp trung lưu nước Mỹ, muốn nói lên sự „căm phẫn“ trước một tình trạng xuống dốc thê thảm của xã hội tiêu thụ nước Mỹ, không phải vì họ muốn bầu lên một người „cực hữu“.
Tổng thống Trump hứa hẹn sẽ giảm thuế cho dân, để có sức tiêu thụ, làm đòn bẩy cho việc phát triển kinh tế, đồng thời với những biện pháp khác để bảo vệ thị trường nội địa. Nói một cách khác, để tạo ra công việc cho đa số dân chúng trong xã hội Mỹ, ông sẽ phải gìm cản tiến độ của „toàn cầu hóa“ kinh tế thế giới, bằng bất cứ một phương cách nào.
Cho đến giờ, phương thức sản xuất hàng rẻ ở nơi có nhân công rẻ, nguyên liệu rẻ đã gây ra tình trạng trước mắt là các hãng xưởng di dời ra khỏi các quốc gia, dân chúng mất công ăn việc làm, mất thu nhập, „ăn“ trợ cấp thất nghiệp rồi phải „ăn“ trợ cấp xã hội, chịu mọi sự kiểm soát vì mấy trăm oi rô ít ỏi, lấy đâu ra mà „tiêu thụ“ ?!

Tầng lớp trung lưu là tầng lớp tích cực của xã hội vì còn có công ăn việc làm, bị „bóc lột“ bởi thuế, không tránh đi đâu được. Xã hội Pháp hiện tại, với mức thâu thuế tăng liên tục từ 2012 là một thí dụ cho mức độ giảm tiêu thụ của dân chúng. Nhất là vào cuối năm phải đóng tất cả mọi loại thuế cho ngân sách quốc gia, nếu trễ nãi là bị phạt 10%, cùng với sự nghiêm ngặt tối đa của những « luật lệ » áp dụng trong ngân hàng, thì dân chúng tiêu thụ kiểu nào ?
Hai cuộc trưng cầu dân ý đã qua của dân Pháp và dân Anh là hai thí dụ: Cái „Không“ của dân Pháp trong cuộc trưng cầu dân ý năm 2005, và cái „Không“ của dân Anh trong cuộc trưng cầu dân ý trong năm 2016, vì dân Pháp và dân Anh quá „ngu“ chăng, mà quốc hội phải chỉnh sửa lại ?
Hứa hẹn là một việc, mà thực hiện lại là một việc khác. Chính sách kinh tế của Mỹ, cường quốc mạnh nhất thế giới, khi nước Mỹ bị cảm là cả thế giới nhức đầu, có ảnh hưởng trực tiếp đến những nước khác. Tổng thống Trump có sức có lực để làm xoay chuyển „toàn cầu hóa“ hay không đang là một câu hỏi. Wait and see. MTT

Ký hiệu FR8VX của Vua Duy Tân

06/11/2016

Ký hiệu FR8VX của Vua Duy Tân – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2016

Tháng 11 tại Pháp thời tiết thất thường, vào cuối thu. Cây cối đã trút lá theo những cơn gió mạnh, để dần dần lộ cành trơ. Buổi sáng mặt trời thức muộn, có khi đến trưa chưa buồn ló ra khỏi màn sương trắng đục. Nhiệt độ khoảng 3° sáng sớm, sương mù dày dặt. Trong cái màn trời âm u đó, năm nay là năm tưởng niệm 100 năm (1916-2016) ngày vua Duy Tân bị thực dân Pháp với sự đồng lõa của Tôn Nhơn Phủ và Cơ Mật Viện giáng xuống làm Prince d´Annam và đi đày biệt xứ sang đảo Ile de la Réunion.
Phải nói, chưa có một cuốn sách nào viết đầy đủ về cuộc đời và đóng góp lịch sử vua Duy Tân. Mọi cố gắng từ những bài viết, sách đã xuất bản chỉ là những mảnh lịch sử góp nhặt, chưa xứng đáng với tầm vóc của nhân vật. Vua Duy Tân tử nạn máy bay ngày 26.12.1945 trên bầu trời Trung Phi, tính đến nay đã 71 năm, một đời người, nhưng còn quá sớm đối với thời gian của lịch sử để có thể kết luận một điều gì.
Một lá thư cuối cùng của vua Duy Tân viết cho con gái vào cuối tháng 11, ba tuần trước khi tử nạn nói lên tấm thảm kịch của vua Duy Tân, vừa là bằng chứng cho sự trong sạch của vua, không bị mua chuộc bằng đồng tiền, cho đến phút cuối cùng của cuộc đời. Tư liệu này tôi sẽ công bố một ngày gần đây.
Khác với vua Hàm Nghi, cũng bị Pháp đày đi Alger (Algérie), nhưng vua Hàm Nghi được xã hội Pháp ở Algerie trọng vọng. Vua Hàm Nghi sống trong nhung lụa, lâu đài, có kẻ hầu người hạ, không có lo lắng về vật chất, thảnh thơi dành thì giờ cho nghệ thuật như vẽ tranh, tạc tượng. Trong khi đó, vua Duy Tân bị Pháp ngược đãi trên đảo, sống cuộc đời thiếu thốn, hạn chế, nếu không muốn nói là „nghèo“, và mặc dù vậy, vua vẫn khẳng khái từ chối mọi „ơn huệ“ của nước Pháp. Không có một chút tài sản cá nhân, nhà vua vẫn ở nhà thuê như dân nghèo của đảo. Khi chết, vua Duy Tân không có của cải vật chất để lại cho các con, nhưng một tài sản tinh thần quý giá của một vì vua xứng đáng nhất nhà Nguyễn.
Sau đây, gởi đến bạn đọc một trích đoạn „Ký hiệu FR8VX“ của cuốn „Dấu xưa, Tản mạn lịch sử nhà Nguyễn“ đã được xuất bản tại Pháp và Việt Nam:

fr8vx

Danh thiếp truyền tin vô tuyến của Vua Duy Tân vởi ký hiệu FR8VX

Sự tìm hiểu về tấm thiếp FR8VX đem lại cho tôi một sự hồi hộp vui thích như đang hành nghề „thám tử tư“, sau những giờ đọc sách và viết lách mệt mỏi.
Trong cuốn „Hồ sơ Duy Tân“, tác giả Hoàng Trọng Thược đã nhầm lẫn rất tai hại và sai lầm cơ bản khi chú thích dưới hình tấm thiếp rằng, tấm thiếp này là „Giấy phép hoạt động của đài phát thanh F3LG cấp cho vua Duy Tân“.
Cùng tìm hiểu với tôi, chồng tôi, Pierre, cũng đi từ khám phá này sang khám phá khác, và anh giải thích cho tôi biết từng chi tiết một trên tấm thiếp như sau:
Tấm thiếp này của Hoàng tử Vĩnh San (vua Duy Tân) gởi cho người phát thanh mang trên trạm F3LG, xác nhận cuộc điện đàm (viết tắt là QSO) vào ngày 10.03.1938 lúc 21.45 giờ đêm trên làn sóng điện tần số 14 megacycles.
Mỗi người phát và truyền thanh nghiệp dư đều được cấp một ký hiệu để liên lạc vô tuyến, và mỗi người đều tự sáng tạo cho mình một tấm thiếp để xác nhận tông tích, địa chỉ và liên lạc với nhau, gởi qua bưu điện thông thường.
Ký hiệu vô tuyến của vua Duy Tân là „FR8VX“.
Hiện nay có nhiều cá nhân, hội đoàn sưu tập các tấm thiếp rất quí giá này và đưa vào bảo tàng viện của những người truyền và phát thanh nghiệp dư.
Tấm thiếp do Hoàng tử Bảo Ngọc (Georges Vinh San) cung cấp, trong tư liệu của gia đình, là do chính tay vua Duy Tân sáng tạo ra, mang chữ viết, nét vẽ, tên họ, địa chỉ và chữ ký của nhà vua, thật một kỷ vật rất quí giá.
Georges Vinh San:
„ Cha tôi có cả một thùng cạc tông đầy nhóc những tấm thiếp này, để gởi đi khắp nơi…“
Ngoài hình chân dung của Hoàng tử Vĩnh San, một hình ngọn núi, một hình bãi biển, một hình một người đang múa trong dáng điệu chim xòa cánh bay, trên tấm thiếp còn có vẽ bằng tay một bản đồ đơn sơ với những tọa điểm địa lý của các trạm truyền sóng điện (radio) mang tên tắt FR8, V18, FB8, CR7, ZE1, ZS, ZT, ZU.
Ký hiệu truyền tin FR8VX mang số 8, con số chỉ trinh độ chuyên viên vô tuyến của người phát (thấp nhất là cấp 1, cao nhất là cấp 9), VX có thể là tên tắt của Vĩnh San (vì một lý do nào đó không thể chọn VS được).
Còn người nhận mang ký hiệu F3LG là ai ? Tôi tìm ra một tấm thiếp của F3LG gởi cho một người thâu và phát thanh khác. F3LG là ký hiệu của một người Pháp tên Ch. Guilbert, địa chỉ 35, rue Jean Mermoz, Deauville, vùng Calvados Pháp.
Trên tấm thiếp của mình, vua Duy Tân xác nhận cho ông Guilbert biết chất lượng cuộc điện đàm như sau:
RST 337
Có nghĩa là: hiểu được với khó khăn, sóng yếu, nhưng âm thanh khá rõ ràng dù bị tạp sóng. (RST, viết tắt của 3 tính chất truyền tin: readability, strength, tone)
QRM: très
Có nghĩa là có nhiều sóng nhiễu
QRN: aussi
Có nghĩa là ảnh hưởng thời tiết cũng xấu
Người gởi (viết tắt là QRA) là Prince VINH-SAN, 67 rue Ste Anne, St. Denis, Ile de la Réunion.
Các thông tin khác trên tấm thiếp cho biết hệ thống thông tin của vua Duy Tân gồm có máy mang tên hiệu Super Skyrider SX-9 (SX9), thâu thanh, và máy 6L6 pa 6L6 ´s phát thanh. Chồng tôi nói là máy phát thanh do chính vua Duy Tân tự lắp ráp.
Máy Super Skyrider SX-9 (SX9) được sản xuất tại Hoa Kỳ vào năm 1936, bán với giá nguyên thủy là chín mươi đô la thời ấy, đặt trong một thùng bằng kim loại hỉnh chữ nhật nằm ngang. Máy hoạt động trên các tần số ngắn và tần số trung bình, có hai loa phóng thanh với công sức 3,5 Watt,
Cột truyền tin (antenne) của Hoàng tử Vĩnh San mang hiệu ZEPP hai làn sóng có hai công suất khác biệt, công suất truyền tín hiệu là 30 Watts, công suất truyền tiếng nói là 20 Watts.
Nằm trong vòng tròn bên dưới của con số 8 là ba ký hiệu: fone, WAC, cw
fone có nghĩa là truyền thanh bằng tiếng nói.
WAC có nghĩa là Work all continents, có khả năng liên lục địa
Cw có nghĩa là truyền thanh bằng tín hiệu Morse
Bên cạnh sơ đồ vẽ hòn đảo Réunion, vua Duy Tân viết bốn chữ tắt A.R.R.L. tức là „American Radio Relay League“, bên cạnh chữ F nhà vua viết thêm ba chữ tắt REF, tức là R.E.F. Réseau des Emetteurs Francais (Hội những người truyền tin Pháp, thành viên của Liên hội quốc tế truyền tin nghiệp dư (Section Francaise de l‘Union Internationale des Radio Amateurs), tức là nhà vua là hội viên của hai tổ chức này, có thẻ hội viên, cũng như có bằng cấp vô tuyến điện.
Điều này có gì lạ chăng ? Ngoài khả năng nói và viết tiếng Pháp rất lưu loát, vua Duy Tân còn biết thông thạo tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha, tức là vua Duy Tân có trao đổi với các trạm thông tin Anh, Mỹ, Pháp…
Nếu ngày nào, nhà vua cũng mê mải với các máy phát thanh đến hai, ba giờ sáng chưa muốn đi ngủ, như Hoàng tử Bảo Ngọc kể lại, thì hẳn là vua Duy Tân đã có nhiều cuộc điện đàm quan trọng mỗi ngày với nhiều trạm phát thanh trên thế giới.
Trên một tấm hình tôi thấy vua Duy Tân một tay cầm điếu thuốc lá, còn tay kia đánh tín hiệu Morse.
Georges Vinh San:
„Cha tôi hút thuốc nhiều. Ngài nói một cách ý nhị tự châm biếm: Người ta có thể mua tôi bằng những điếu thuốc lá !“
Duy Tân có tiếng là một người rất thông minh, ham học hỏi, nhất là tự học. Cần phải nhớ rằng, phương tiện truyền tin đem lại cho nhà vua một sự tự do đáng kể, vì thời ấy, các trạm truyền tin đều chịu sự kiểm soát của Bộ Bưu Điện, Điện Tín và Điện Thoại (Ministère des Postes, Télégraphes et Téléphones, PTT), cơ quan này cấp giấy phép và ký hiệu hoạt động cho từng trạm, và Bộ Nội Vụ – Cơ quan Cảnh sát Truyền Tin Vô Tuyến Điện theo dõi các hoạt động phát thanh. Nhất là trong suốt thời gian Đại chiến thứ hai, nhiều trạm phát thanh bị cảnh sát mật vụ nghi ngờ, theo dõi và thẩm vấn, cấm đoán.
Vua Duy Tân là một chuyên viên kỹ thuật thực tiễn, vì nhà vua biết tháo ráp, sửa chữa, thiết lập hệ thống truyền tin, truyền thanh, phát thanh. Vua có đến ba máy thâu và phát thanh khá mạnh, so với mức độ thiết bị thời ấy. Nhà vua cũng đã  nói với người bạn đường, bà Antier, rằng trong một thời gian sắp đến, bà có thể ngồi đây xem những hình ảnh của thủ đô Paris chẳng hạn, tức là vua Duy Tân đã nói đến sự thực hiện và phát triển hệ thống truyền hình (télévision) cho vợ nghe (theo lời kể của Hoàng tử Bảo Ngọc).
Là một chuyên viên vô tuyến điện, có liên lạc tin tức hàng ngày trên sóng truyền thanh khắp thế giới, chính ra vua Duy Tân có một phương tiện thông tin rất hữu hiệu, vừa để thông hiểu tình hình, vừa để thoát khỏi đảo, như ngày nay chúng ta sử dụng thơ thông tin điện tử (email) qua mạng truyền tin Internet.
Chồng tôi nói, nếu anh là vua Duy Tân trong hoàn cảnh ấy thì anh đã trốn khỏi đảo từ lâu. Nhưng vua Duy Tân không muốn đi trốn lén lút, mà muốn trở về Việt Nam đường hoàng chính chính, trên một con đường danh dự, vì nhà vua không bao giờ thoái vị.
Pháp đưa vua đi thì Pháp phải đưa vua về. Điều này là động lực chính cho mọi hoạt động của nhà vua trong suốt thời gian đi đày trên đảo. MTT

mtt_f3lg

Quét lá trong Dinh Độc Lập

28/10/2016

Quét lá trong Dinh Độc Lập – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2016 – http//:mttuyet.fr

MTT_D19

Ở Sài gòn có một cái dinh mà tôi quen gọi là Dinh Độc Lập dù nó đã bị đổi tên thành Hội trường Thống Nhất sau 1975. Ngày 30.04.1975, cách đây 41 năm, chiếc xe tăng T54 do Vũ Đăng Toàn chỉ huy đă húc sụp cổng chính tiến vào dinh, chấm dứt 20 năm chiến tranh 1954-1975 trên toàn lãnh thổ.
Lịch sử Dinh Độc Lập bắt nguồn từ thời kỳ Pháp thuộc. Sau khi chiếm đóng lục tỉnh Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) vào năm 1858, Pháp thiết lập nền móng cai trị trên mảnh đất gọi là Cochinchine. Nam Kỳ trở thành lãnh thổ của Pháp theo hai hòa ước Nhâm Tuất năm 1862 giữa Phan Thanh Giản làm chánh sứ với thiếu tướng Bonard, và hòa ước Giáp Thân 1884 (còn gọi là hòa ước Patenôtre) giữa Phạm Thận Duật, Tôn Thất Phan, Nguyễn văn Tường và Jules Patenôtre), triều đình nhà Nguyễn đã mất sáu tỉnh miền Nam cho Pháp kế từ thời gian đó.
Ngày 23.02.1868 thống đốc Nam Kỳ Lagrandière đặt viên đá đầu tiên cho xây dựng Dinh Thống đốc Nam Kỳ, do kiến trúc sư Achille Antoine L´Hermite thực hiện.
Công trình được xây dựng trong vòng bốn năm mới xong (1868-1871), rộng 12 ha, chung quanh trồng cây xanh. Dinh được đặt tên là dinh Norodom, tên của quốc vương Campuchia, và được sử dụng liên tiếp làm nơi ở và làm việc cho các Thống đốc Nam Kỳ và Toàn Quyền Đông Dương từ 1871 cho đến 1954, suốt 83 năm.
Ngày 07.09.1954 dinh được bàn giao cho thủ tướng Ngô Đình Diệm. Năm 1955 Ngô Đình Diệm truất phế Bảo Đại, lên làm tổng thống, đổi tên dinh thành Dinh Độc Lập.
Năm 1962, lấy lý do Dinh Độc Lập bị hư hại nặng do hai phi công của quân lực Việt Nam Cộng Hòa là Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử ném bom làm sập dinh cánh trái, Ngô Đình Diệm cho san bằng kiến trúc cổ của Pháp để xây dựng lại theo mô hình tân tiến Âu Mỹ. Gia đình họ Ngô về tạm trú ở Dinh Gia Long trong thời gian xây dựng. Nhưng Ngô Đình Diệm không sống sót đến năm khánh thành dinh 1966. Người chủ mới là Nguyễn văn Thiệu chiếm giữ dinh từ năm 1967 đến 1975.
Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ là người thiết kế dinh mới, ý định của ông là trang trí mặt tiền dinh bằng hình ảnh những lóng trúc, bụi trúc là biểu tượng của Ngô Đình Diệm, nhưng người ta lại thấy sau khi xây xong thì nó lại giống những lóng xương, thót vào ở giữa, không giống những lóng trúc, báo điềm bất lành. Đứng về mặt phong thổ thì dinh được xây trên đầu con rồng, những tấm biển trang trí cửa sổ được chạm trỗ hình đầu rồng, nên còn được gọi là Phủ đầu rồng.
Hiện nay, dinh Độc Lập trở thành Hội trường Thống Nhất, mở cửa cho du khách tham quan và cho các công ty tư nhân thuê phòng ốc, quan liêu, để tổ chức các sự kiện. Tiếc rằng phần tư thất của tổng thống và các phòng tầng 3 được trang trí quá sơ sài không đáp ứng được sự chờ đợi của khách tham quan. Phòng ngủ, phòng ăn của tổng thống VNCH được trưng bày sơ sài, khu vực này được xây dựng giống như kiến trúc Patio của miền Nam châu Âu, các phòng đều được nối liền với nhau bằng một hành lang rộng có mái che, chung quanh tâm điểm chính là một hòn non bộ lộ thiên, rất mát và sáng sủa.
Từ tầng ba, du khách được ngắm chiếc máy bay trực thăng túc trực sẵn sàng.
Bên cạnh đó, ít ai chú ý đến vườn cây trong dinh, trên một diện tích rộng 12 ha, như một ốc đảo xanh, khá yên tĩnh giữa lòng thành phố đầy bụi bặm và tiếng động xe cộ. Vườn cây này là cả một công trình gìn giữ, mỗi cây đều được đánh số thứ tự, mang tên, giống, quê quán và công dụng.
Các loại cây trồng trên diện tích 12 ha của dinh là những cây dầu con rái, sao đen, ngọc lan, dáng hưong, xoài rừng, xoài, lý, viết, xi xanh, me rừng, trúc, tre, bằng lăng trắng, bằng lăng nước, bồ đề, nhãn, sứ hồng, sứ trắng, cau vua, gỗ mật, gỗ đỏ, sộp, phượng vĩ, nhãn, tếch, lim xẹt, mạt võng… tượng trưng một phần nhỏ của sự giầu có thiên nhiên của rừng Việt Nam.
Những người nhân viên cây xanh chăm sóc cho cây không có một cành khô cành chết, thảm cỏ luôn xanh, kiên nhẫn quét từng chiếc lá rơi mỗi ngày…Điều này khiến tôi bật cười nhớ đến ông hàng xóm của tôi, ông ta không thể chịu đựng được một chiếc lá rơi trên thảm cỏ xanh của ông, chắt chiu cắt xén mỗi ngày. Nhất là mùa thu lá bay đầy trời, lá rụng như mưa làm cho ông như điên như cuồng hối hả hốt lá, thu gom từng đống lá úa ướt chèm nhẹp, rồi đốt lá, làn khói trắng loang nhẹ trong trời lạnh mùa thu.
Ở đây, những người công nhân bình thản quét lá như thể „quét chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em“…, như thiền. Họ sống vì quét lá, lá rụng mỗi ngày, mới quét lá lại rụng xuống như mưa. Họ nhổ cả mảng cỏ xanh lên để thay cỏ mới, họ trồng thêm cây non, chiết thêm cây kiểng…Trời tháng tám, cận rằm tháng bẩy, thì hay có mưa rào, ngày nào cũng mưa. Tuần vừa qua, do ảnh hưởng của cơn bão số hai đổ vào miền bắc, trong nam cũng mưa bão sấm sét đùng đùng mỗi ngày, vườn cây xanh cũng được tưới nước của trời. Nắng vừa lên, mưa vừa hết thì người ta đã hối hả đặt vòi tự động tưới cỏ tưới cây. Các nhánh cây kiểng xanh mọc nhú lên sau cơn mưa và cơn nắng chưa kịp tươi cừoi lâu với gió thì đã bị một bàn tay công nhân chăm chỉ cắt đầu, cho bằng thiên hạ. Trong vườn có nhiều con sóc, chim mào trắng, chim bồ câu đưa thư… tự do bay nhảy. Những con ve sầu hát đều đều một nhạc điệu quen thuộc, inh ỏi, át cả tiếng nhạc của một quán cà phê dành riêng cho du khách ở gần đấy.
Nhìn những cây xanh cao cả 20 thước, cây khỏe, tán khỏe xòe rộng trên cao, tỏa bóng mát xuống thảm cỏ lúc nào cũng xanh mươn mướt, thật không khỏi nghĩ đến công lao chăm sóc của những người làm vườn. MTT

MTT_D1MTT_D2

Sầm Sơn phố biển

28/10/2016

Sầm Sơn phố biển – Mathilde Tuyet Tran, France 2016

Ở miền Bắc có ít nhất ba bãi biển nổi tiếng „thuần Việt“, có nghĩa là đến 99% du khách Việt và 1% du khách nước ngoài tới những nơi này vui chơi giải trí, đó là Đồ Sơn (Hải Phòng), Sầm Sơn (Thanh Hóa) và Cửa Lò (Nghệ An). Người miền Bắc muốn đi xa hơn nữa, vượt qua vĩ tuyến 17 để xuống đến khu vực Đà Nẵng-Hội An, hay Nha Trang, thì phải đi máy bay, vì thế vào mùa nghỉ hè các gia đình có con nhỏ thích về Sầm Sơn một, hai tuần cho trẻ con đùa vui với sóng biển. Nhìn tấm ảnh hơn 70.000 người chen chúc nhau trên bãi biển Sầm Sơn trong mùa hè, tôi nghĩ rằng cái thị xã nhỏ ấy bỗng chốc phình ra chứa đựng thêm ngần ấy người và xe cộ. Sầm Sơn cách Hà Nội không xa, khoảng trên dưới 170 cây số, di chuyển bằng xe hơi trong 4 tiếng đồng hồ, một độ dài lý tưởng cho những người ở Hà Nội. Nếu so sánh Deauville, bãi biển nghỉ mát của vùng Normandie nối tiếng cho dân thành thị khu vực Paris, thì có thể so sánh Sầm Sơn như thế cho Hà Nội.
Tôi đến Sầm Sơn vào một ngày còn nắng nóng vào cuối tháng 8, cuối hè, học sinh khắp nơi đang chuẩn bị vào trường cho một niên học mới, bãi biển vắng vẻ. Con đường vào thị xã Sầm Sơn cũng như nhiều nơi khác, nhưng đây là phố biển, nên hàng hóa bán ra mang tính chất nghỉ hè biển: đồ chơi con nít trên cát, quần áo tắm sặc sỡ màu mè cho phụ nữ và trẻ em, đàn ông thì quần sọt….và đặc biệt là đã thấy bóng dáng của xe điện, loại xe thường thấy trong những sân golf, lác đác chạy. Phía tay phải của đường vào phố biển là đền Độc Cước, phía tay trái của phố biển là khu FLC, một khu du lịch hạng sang khép kín của Sầm Sơn, ai không có việc không dám bén mảng tới. Chỉ đi từ đầu này đến đầu kia là hết bãi biển. Thế mà, khách sạn mọc lên như nấm, san sát nhau, cũng không đủ để cho Sầm Sơn đón gần 4 triệu lượt khách trong mùa hè, gấp nhiều lần dân số của Sầm Sơn chỉ có 100.000 người theo thống kê năm 2015 !
Vài năm trước đây Sầm Sơn nổi tiếng về nạn „chặt chém“, nhưng dân thì đổ thừa cho quan, phải làm như thế mới thỏa mãn nổi yêu cầu của quan, trăm dâu đổ xuống đầu tằm, mà con tằm cuối cùng là du khách. Bây giờ, tình trạng chặt chém đã bớt, còn lại là tình trạng đắt đỏ. Sầm Sơn chỉ „cháy“ một năm có mấy tháng, rải rác từ tháng ba, tư, năm, đông nghịt từ tháng năm, sáu, bảy, rồi lại yếu dần cho đến hết mùa đông. Mùa thu, tháng 9, 10 thường hay có bão, mùa đông, lạnh đến 5 độ, mặc „hai lần áo len“, có ai thích ra biển chơi. Kinh doanh theo „vụ mùa“ nên giá cả phải „vọt“ lên mới đủ ăn.
Người dân Sầm Sơn ăn chắc mặc bền, có của ăn của để. Một anh lái xe điện kể rằng, mỗi năm anh để dành được một số tiền khoảng 60, 70 triệu, ngoài công việc lái xe điện cho hợp tác xã, hết vụ mùa du lịch thì anh „đi biển“. Mỗi lần ra khơi, anh đi hai, ba tháng mới về, „tất cả để lại cho vợ“. Thuyền đánh cá „đánh bắt xa bờ“ của anh, vì tiết kiệm xăng dầu, một khi đã ra khơi thì neo lại ngoài khơi hai ba tháng, một con tàu khác làm mối dây liên lạc chở cá về. Lúc nào chán biển, anh theo tàu cá liên lạc về đất liền gần nhất, Cát Bà, Hạ Long…., rồi lại theo ra.
Như thường lệ tôi đi tìm một khách sạn không sao để nghỉ chân. Giữa trưa nắng nóng, hình như mọi người rúc ở trong nhà, bãi biển là một dãi cát hẹp, dài cả cây số, con đường dài hai chiều bốn lằn xe hình như vừa mới được làm, các ô để trồng cây thì chưa có cây, một đàn bò thong thả ngậm cỏ trồng trên giải ngăn chặn giữa đường.
Mãi khoảng 5 giờ chiều mới thấy dân chúng ra tắm biển. Nước biển thì…ấm như trong bồn tắm ở nhà.
Sầm Sơn có ba làng chài, bến đậu của họ chen lẫn với bãi tắm, xem rất vui mắt. Có những con thuyền làm bằng bọt pô-ly-e-ti-len để đánh bắt gần bờ. Ở đây họ không dùng thuyền thúng như miền Trung. Sáng mai chưa rõ mặt người thuyền đánh cá „gần bờ“ đã bắt đầu giăng lưới, hai toán phụ nữ nắm hai đầu lưới, mỗi toán độ 5, 6 người, họ kéo lưới vào, quần áo ướt sũng nước. Cá thu hoạch được, bán ngay tại chỗ, năm sáu chiếc xe máy chạy ngay ra chợ để bán lại cá cho người tiêu dùng. Chỉ đến 6 giờ sáng là họ đã cuộn lưới, gánh lưới về, trả lại bãi biển cho những người chạy, tập thể thao buổi sáng. Cảng cá Sầm Sơn sầm uất, nhộn nhịp người tải người khuân. Biển là kho tàng vô tận, biển nuôi sống con người qua ngày nọ tháng kia.
Mức độ xây dựng khách sạn của Sầm Sơn đang tiến nhanh, nhiều khách sạn đang được xây dựng. Giá đất ở Sầm Sơn hiện nay khoảng 60 tỷ cho một mảnh đất 1.000 mét vuông. Nếu một năm chỉ „cháy“ phòng chừng ba tháng thì cũng đủ để sống cả năm. MTT

Mặt trờ lên ở Sầm Sơn

Mùa đông đã về

23/01/2016

Mùa đông đã về – ©MathildeTuyetTran, France 2016 – http://mttuyet.fr

Một ngày mùa đông rất đẹp, trên một mầu xanh, dưới một mầu trắng xóa

Chờ mãi từ tháng mười hai cuối năm 2015, những ngày Noel ấm một cách lạ lùng khiến cho người nhà nông đều nói là tháng ba, tháng tư năm 2016 sẽ là những tháng rất lạnh. Nhưng từ hai tuần nay thời tiết đã chuyển từ mưa gió lạnh ẩm qua băng giá, cho đến hôm nay thứ tư 20-01-2016 thì nhiệt độ xuống dần.

Miền Nam nước Đức đã xuống âm 20 độ dưới 0 độ. Còn ở vùng tôi ở thì buổi sáng sớm là khoảng âm 9 độ dưới không độ, ban đêm xuống đến – 15°. Một cái lạnh cực lạnh, nhưng khô, dễ chịu hơn là cái lạnh vừa vừa mà ẩm ướt.

Đến trưa màn sương trắng vẫn chưa được vén lên, có ngày không thấy mặt trời lên, nhưng khoảng 16 giờ chiều thì lại thấy ông trời lặn xuống, rất nhanh ở phía đông. Ban ngày, buổi trưa thì ông mặt trời mùa đông tròn xoe như cái đĩa, cũng trắng bạc như mầu sương trắng.

Hoa băng giá

Người nhà quê vui mừng khi thấy mùa đông về với băng giá, họ trầm trồ cảnh đẹp mùa đông, bên trên toàn một mầu xanh, bên dưới toàn một mầu trắng. Lạnh khô như trong tuần này thì sâu bọ chết bớt nhiều, mùa hè sắp đến sẽ có nhiều hoa quả. Nhưng những con thú vật trong rừng thưa, trên đồng rộng, thiếu chỗ ẩn núp, làm mồi rất rõ cho thợ săn. Ngay cả mấy con ác điểu, hai cánh xòe rộng hơn 1 thước bề ngang, bay lượn lờ khá thấp, kêu to « kạt kạt… » rồi đâm chúc xuống những con mồi tội nghiệp.

Hôm qua đi chợ về, bỗng nhiên thấy một con hoẵng trẻ, mới chừng được ba tuổi, vượt qua xe chúng tôi, chạy lên trước. Trời ơi, nó chạy còn nhanh hơn xe chúng tôi, bốn vó chân chạy trối mạng trên đường nhựa. Té ra, phía sau xe tôi, là xe của một đám thợ săn, bám sát đít xe, sốt ruột chờ đến khúc được qua mặt xe tôi, để đuổi theo con hoẵng và bắn chết nó. Chồng tôi, cũng là một tay thợ săn thiện xạ, lắc đầu phê bình, bọn này là bọn man rợ, luật cấm không cho đuổi theo thú bằng xe hơi mà bọn họ vẫn vượt qua luật.

Đám chim sẻ bay từng bầy ngang qua vườn nhà tôi, sang nhà hàng xóm, tíu tít dành nhau ăn trên cành cây, nơi bà hàng xóm đã cột lủng lẳng những quả cầu tròn làm bằng thóc lúa trộn với mỡ, để nuôi chim mùa đông.

Bên nhà tôi, thì con chim họa mi cổ đỏ vui mừng thong dong nhặt từng hạt gạo vãi trên sân sau, nó rất sợ bọn chim sẻ, chỉ dám mò đến kiếm ăn khi nó chỉ có một mình.

Vườn mùa đông có cây mầu trắng

Có một mùa đông, khi chúng tôi về Hà Nội vào mùa Tết, tháng ấy trước Tết miền Bắc lâm vào cảnh « rét hại », tức là đồng ruộng hoa mầu bị hủy hoại, trâu bò chết vì rét ở những nơi chủ không quây quít chuồng chắn gió, chắn mưa và chất rơm rạ cho ấm chuồng.

Chúng tôi ở một khách sạn rẻ tiền và không có ăn sáng, nên sáng sớm nào cũng phải mặc quần áo đủ ấm, đi ra khỏi khách sạn tìm chỗ ăn sáng. Người Việt, đi ăn sáng là một thú vui, cà lê chỗ nào cũng có cái ăn, phở, bánh cuốn, cơm tấm…đi xa, đi gần hay ngồi ngay trên lề đường, bên cạnh những cái nồi to tướng bốc khói nghi ngút quanh bờ hồ. Người nước ngoài thì không thấy vui chút nào cả, lại thêm phần khó chịu, đói bụng, khát cà phê thì đi thêm một bước là một bước càu nhàu.

Sáng sớm hồ Gươm cũng bốc khói sương mờ ảo, cái hồ mắt nhìn thì thấy nhỏ, nhưng chân đi một vòng là thấy mỏi, cũng xa đó chứ, cho người già. Cái lạnh ấy chỉ mới ở nhiệt độ là 9 đến 10° nhưng vì độ ẩm cao nên thấm qua các lớp quần áo, lạnh nhức nhối đến xương tủy. Trường học đóng cửa, học trò được ở nhà cho ấm. Những nhà hàng sang trọng thì có máy điều hòa không khí hai chiều, vào ngồi ấm áp. Nhưng có nhiều nhà hàng, tuy giá bán cao dành cho người nước ngoài, nhưng cửa mở bốn bề, gió lạnh thổi lồng lộng, chăm chút cho khách lắm thì họ đem ra cho một cái ông lò có một cục than hồng để sưởi ấm bên cạnh bàn. Chúng tôi không quen mặc đầy đủ quần áo, áo trong, áo khoác, mũ mãng để ăn trong cái lạnh, thấy vướng và khó chịu,

Bây giờ, bên nhà đang gần Tết, nhiều người chắc hẳn rất bận rộn lo sắm sửa quà Tết, biếu xén, lo gói bánh chưng, lo quần áo đẹp mặc ngày Tết, lo về quê ăn Tết… Cái hương vị ngày Tết tôi có ở nơi xa là mùi hương trầm rất thơm của những nén nhang đốt trên bàn thờ trong nhà, đó là món quà rất quý của một người bạn đem tận tay từ quê hương sang cho tôi mấy năm về trước, chỉ dám dùng những khi cần thiết, như khi có giỗ của mẹ tôi trong tuần qua.

Thánh lễ thụ phong Giám mục của Mgr. Renauld de Dinechin tại thánh đường Soissons ngày 20-12-2015

Thắp nén hương của bạn tặng, tôi bỗng nghĩ đến một chữ « cho ». Cách đây một tuần, chúng tôi đi dự thánh lễ phong Giám mục tại địa phận giáo hội quê hương của chồng tôi, vì cả đời ông ấy chưa được xem thánh lễ phong Giám mục, là một việc hiếm có. Nhà thờ đông nghẹt người dự lễ từ già cả cho đến trẻ em nằm nôi, có cả đến hơn ngàn người, nhiều người phải đứng dự lễ, tôi cũng đứng suốt hơn hai tiếng đồng hồ. Giám mục mới của địa phận truyền chữ của tòa thánh ban cho năm nay 2016 là Miséricorde (lòng khoan dung, độ lượng), khiến tôi liên tưởng đến hai chữ « Từ Bi, Bác Ái » của nhà Phật.

Sau buổi lễ dài hơn hai tiếng đồng hồ, giáo dân được mời uống nước để gặp gỡ Giám mục. Chúng tôi đi theo về nơi tổ chức trong một trường học gần nhà thờ. Mới vừa bước vào gian phòng, tôi nhìn chồng tôi cười, ngạc nhiên : Anh ngửi thấy mùi gì không ? À ! Mùi nem ! Đúng rồi, mùi nem rán của người Việt, không sai đi đâu được Tại sao lại có mùi nem rán ở một Soissons tỉnh lỵ ngày nay ?

Chị Hiệp (bên trái) và chị Dung (bên phải)

Hóa ra, cả một cộng đồng giáo dân người Việt « đi theo » Giám mục tham dự thánh lễ, vì ngài được chuyển từ một địa phận gần Paris về vùng của chúng tôi,  và có hai chị, chị Dung và chị Hiệp, đã tình nguyện làm hơn 1 ngàn cái « nem » (chả giò) và bánh quai vạt cho buổi chiêu đãi, làm ở nhà, đi hàng trăm cây số, đem đến tận nơi mới chiên tại chỗ cho nóng, rất ngon. Tôi chỉ là người (không làm mà được) thưởng thức.

Chị Dung rất vui vẻ, hòa hợp, chạy đến dúi vào tay tôi một cái vòng tay mầu xanh cẩm thạch có một cái thánh giá bằng gỗ nhỏ, Nè, tặng chị nè, Đức Cha ban phép lành rồi đó, khiến tôi sững sờ cảm động.

Trên cái đèn làm việc của tôi, nhìn nó hàng giây hàng phút mỗi ngày đã có treo chuỗi hạt thánh giá mầu trắng của anh V. tặng, nay có thêm cái vòng tay.

Lễ nhận quà tặng của giáo dân trong buổi thụ phong

Tôi rất hạnh phúc được cho như thế, nhất là khi hoàn toàn không chờ không đợi, không có một « nguyên nhân thương mại » nào cả, như ngày cưới, hay ngày sinh nhật… Có một hôm, chồng tôi đi lấy thư, toàn là những hóa đơn phải trả tiền, nộp thuế, khiến tôi than một cách mệt mỏi « Không có cái thư nào tình yêu bay đến hay sao ? », ông ấy trả lời ngay, « Vậy hả, vậy để tôi đi ra ngồi vào hộp thư nhé ! ».

Không cứ phải cho tiền, cho vật chất mới là cho, nhưng cho một nụ cười vui tươi, thông cảm, an ủi, cho một cái nhìn cảm thông thầm lặng, cho một câu nói đầy tình cảm chân thật, hóm hỉnh, khích lệ, cho một suy nghĩ, cho một nén hương thắp từ xa, thắp trong tâm tưởng, cho kinh nghiệm, cho kiến thức, cho hiểu biết…có rất nhiều điều để cho, nhưng cũng phải nhận thấy là mỗi người luôn vấp vào giới hạn của chính mình, có khi không biết cho, có khi không biết nhận.

Hành động « cho » là một hành động khó, không dễ. Mình cho ai điều gì, mà người được cho không thích người cho mà cũng không thích cái được cho. Mình cho ai điều gì mà người ta không cần có. Lòng vị kỷ, nhỏ nhen, kiêu ngạo….những tình cảm và ý tưởng thuộc về phạm trù « sân » giận thường làm mờ mắt, mờ tâm con người, nên có khi được cho thì họ lại nổi cơn giận, tự ái, tự phụ. Mình cho ai điều gì mà thực tâm chờ đợi một sự biết ơn, đáp trả thì việc cho đó là vụ lợi. Mình cho ai điều gì, hễ cho rồi thì thôi, không nghĩ trở lại việc đó nữa, có lẽ khó, nhưng mà hợp với tâm lành nhất và là một hạnh phúc cho chính mình.

Cái thú ở trong nhà sưởi ấm nhìn ra những cành cây đã đóng thành băng đá, làm cho không khỏi nghĩ đến những người khác lang thang không nhà không cửa, hay những trại người tị nạn giữa đồng không mông quạnh, và những người còn đang vượt biển đi di tản trong một thời tiết như thế. Cuối năm ta, bạn tôi viết thư, khoe sắp bay về ăn Tết « con khỉ » một tháng.
Tôi vẫn thèm muốn được về, để đầu trần, áo cánh ngắn tay phong phanh trên quần lụa mỏng, đôi dép lê nhẹ nhàng…như thế đi dạo phố phường, bãi biển… tắm nắng một bữa no nê trên quê hương. MTT

Thiếp chúc mừng năm mới của hai họa sĩ Claudine và Vĩnh Khoa

30/12/2015

voeux 2016Thiếp chúc mừng năm mới của đôi vợ chồng họa sĩ Claudine và Vĩnh Khoa (Bỉ – Belgium)

Một món quà âm nhạc cuối năm cho Hà Nội

18/12/2015

Một món quà âm nhạc cuối năm cho Hà Nội – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2015 – http://mttuyet.fr

Trong đĩa nhạc thứ bẩy mang tên Nos histoires (Những câu chuyện của chúng mình) tại nhà xuất bản và phát hành Polydor của nữ ca sĩ La Grande Sophie (tên là Sophie Huriaux), một bài hát nổi bật, như là một món quà rất đằm thắm tình cảm tặng cho Hà Nội, tặng cho Việt Nam, là bài hát mang cái tên đơn giản « Hà Nội ». Bài hát này đã gây chú ý cho nhiều đài truyền hình, báo chí và những nhà phê bình âm nhạc vào cuối năm 2015.
Nữ ca sĩ La Grande Sophie nổi tiếng « một cách thầm lặng » vì cô là tác giả-nhạc sĩ kiêm ca sĩ của những bài hát sâu lắng, đầy tính chất chanson française, theo dòng nhạc pop-rock Pháp. Đã hai lần đoạt giải Victoire de la Musique năm 2005 và giải thưởng Charles Cros năm 2009, cô vẫn không ngừng làm ngạc nhiên người nghe với những sáng tác mới như bài hát « Hà Nội ».
Trong một bài phỏng vấn Sophie cho biết, cảm xúc để viết bài hát này bộc phát vào cuối năm 2013 tại Hà Nội, nơi cô chưa bao giờ đặt chân đến. Đáng lẽ cô biểu diễn tại một sân vận động theo lịch trình đã có, nhưng đúng vào thời điểm đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời, Việt Nam đang chịu quốc tang, nên lịch biểu diễn phải thay đổi lại, cô đã biểu diễn trong khuôn viên của Viện Văn Hóa Pháp tại Hà Nội. Rồi một cơn bão gìm chân cô lại thêm những ngày nữa, khiến cho cô có thêm thời gian khám phá Hà Nội, nhịp sống, tiếng động và con người tại thành phố này. Trở về Pháp, âm điệu của bài hát Hà Nội bộc phát một cách rất tự nhiên, và đã cho cô thêm cảm hứng để viết những bài hát khác về những cuộc gặp gỡ trong những năm gần đây.
Nữ ca sĩ La Grande Sophie thich chọn phong cách hòa âm acoustique truyền thống, nhẹ nhàng, nhịp điệu, dễ nghe với sự phối âm của các nhạc sĩ Vincent Taurelle, Ludovic Bruni và Vincent Taeger.
Bài hát Hà Nội đã được lồng vào một phim video ngắn của Pierre-Edouard Joubert quay cảnh đời sống của Hà Nội. Cô nói về Hà Nội là « thành phố không quen biết này toát ra một sức mạnh thay đổi mọi cảm giác, mà tất cả mọi giác quan đều được kêu gọi. Tất cả ở nơi đó đều chứa đựng đầy cảm giác. »

Bài hát Hà Nội của Sophie, so với bài Bonjour Vietnam của Marc Lavoine và Yvan Coriat (cũng đã được yêu thích và phổ biến tại Việt Nam), thì có tính cách hiện thực, gần gũi hơn, vừa về nội dung lẫn nhạc điệu.
Hà Nội với khu phố cổ nhộn nhịp, trung tâm nhỏ nhắn, chật chội, không quá trang điểm mầu mè như Hội An, cũng không tân kỳ sang trọng như Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh, đã trở thành một điểm đến quyến rũ thu hút du khách nước ngoài, để tìm lại ở nơi này một ấn tượng châu Á đặc trưng, tự nhiên, hồn nhiên mà nhiều nơi khác đã đánh mất.MTT18-12-2015

MTT tạm dịch lời hát bài Hà Nội của La Grande Sophie như sau:

Hanoi (©texte en francais de La Grande Sophie, lời Việt: ©MathildeTuyetTran)

Dans le rétro je regarde si je t’aperçois
Nhìn thêm trong kính để tìm lại em sau tôi
Hanoï, Hanoï, je me souviens
Hà Nội, Hà Nội, tôi còn nhớ luôn
Ton visage, ton parfum, tes ruelles aussi
Hình dáng em, hương thơm em và ngõ hẹp đen sâu
Je te regarde passer je suis chez toi
Nhìn dòng đời em chảy qua, tôi ở quê em
Hanoï, Hanoï, tu me retiens
Hà Nội, Hà Nội, vòng tay ghìm tôi
Tes typhons pleurent,
Cơn bão thét,
Tes héros meurent
Anh hùng thăng hóa,
La pluie dégringole
Cơn mưa như thác đổ.

Refrain/Điệp khúc:
Autour du lac j’entends comme
Quanh Hồ Gươm tôi nghe thảng thốt
Des bruits qui raisonnent
tiếng động vang xang xốn
Des vagues de motos
sóng của từng đợt xe.
Quelle est cette autre personne ?
Người khác lạ đó là ai ?
Ton coeur qui klaxonne
Trái tim em gọi vói
Sous ton regard à croupis
Người đọng sâu thắm trong mắt em
Autour du lac il y a comme
Quanh bờ hồ mầu xanh thắm
Un monde qui bouillonne
Đầy người chuyển động đó
Devant moi un tableau
Mắt tôi nhìn trong tranh
Des amoureux se questionnent
Những người yêu nhau hò hẹn ấy
Et ma voix chantonne
Và tôi hát tiếng thầm thì
Je te reverrai
Tôi sẽ gặp lại em…

Dans la chaleur humide sur tes trottoirs
Vỉa hè bốc từng cơn nóng ẩm,
Hanoï, Hanoï, tu me fais voir
Hà Nội, Hà Nội, em đã khoe tôi
Ton sourire, ta vie dehors, tes couleurs aussi
Nụ cười, cuộc đời bộc lộ, với tất cả sắc mầu,
Sous la jungle électrique j’perds mon chemin
Lạc lõng quên lối về dưới rừng hoang giây điện
Hanoï, Hanoï, je t’appartiens
Hà Nội, Hà Nội, tôi là của em
Sur l’eau verte tes marionnettes
Những con rối trên làn nước xanh
Dansent une autre vie
Đang múa kể một cuộc đời khác.

Dans le rétro je regarde si je t’aperçois
Nhìn thêm trong kính để tìm lại em sau tôi
Hanoï, Hanoï, si loin de moi

Hà Nội, Hà Nội, nay xa cách nhau rồi
Le vélo, la fleur de lune et moi à Paris
Chiếc xe đạp, ánh trăng thanh và tôi về Paris
Hanoï, Hanoï

Hà Nội, Hà Nội

 

Bạn có thể nghe và xem các video của bài hát Hà Nội (Hanoi) của nữ ca sĩ La Grande Sophie tại địa chỉ này (một bản trình diễn live trên sân khấu và một bản thâu studio):